Quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ( trên cơ sở số liệu thành phố hồ chí minh) luận văn ths luật - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
----------

TRẦN THỊ MINH NGUYỆT

QUYỀN BÀO CHỮA
TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
(Trên cơ sở số liệu địa bàn thành phố Hồ Chí Minh)
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS CHU THỊ TRANG VÂN

HÀ NỘI - 2013


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công
trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo
tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn
học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của
Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƢỜI CAM ĐOAN



Vai trò của hoạt động bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự ....................................................................................................21

1.2.2.

Ý nghĩa của hoạt động bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự .........................................................................................................27

1.3.

Quyền bào chữa và Quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự trong pháp luật quốc tế .........................................................30

1.3.1.

Quy định về Quyền bào chữa trong một số văn kiện pháp lý quốc tế ........30

1.3.2.

Quy định về Quyền bào chữa trong pháp luật của một số nƣớc tiêu biểu.........32

Kết luận Chƣơng 1 ....................................................................................................34
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG QUYỀN
BÀO CHỮA TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN
HÌNH SỰ .....................................................................................................36
2.1.

Sơ lƣợc lịch sử các quy định pháp luật Việt Nam về Quyền bào chữa
và Quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự .............36


2.2.2.

So sánh với quy đinh
̣ pháp luâ ̣t hiê ̣n hành về Quyề n bào chƣ̃a trong
giai đoa ̣n xét xƣ̉ sơ thẩ m vu ̣ án hình sự v ới giai đoa ̣n đi ều tra, truy tố
và giai đoạn xét xử phúc thẩm ....................................................................51

2.3.

Thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật về Quyền bào chữa trong
giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ở TP.Hồ Chí Minh .......................56

2.3.1.

Số liệu về Ngƣời bào chữa là Luật sƣ và số liệu về án hình sự sơ thẩm
tại TPHCM ..................................................................................................56

2.3.2.

Thực tiễn hoạt động của Ngƣời bào chữa là Luật sƣ trong giai đoạn
trƣớc xét xử sơ thẩm ....................................................................................60

2.3.3.

Thực tiễn hoạt động của Ngƣời bào chữa là Luật sƣ trong giai đoạn
xét xử sơ thẩm .............................................................................................66

Kết luận Chƣơng 2 ....................................................................................................70
Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG

Liên quan đến công tác đào tạo, bồi dƣỡng Ngƣời bào chữa là Luật sƣ ...........86

3.3.2.

Liên quan đến vai trò của các bên trong phiên tòa ......................................87

3.3.3.

Liên quan đến hình thức của phiên tòa .......................................................88

Kết luận Chƣơng 3 ....................................................................................................89
KẾT LUẬN ..............................................................................................................91
DANH MỤC TÀ I LIỆU THAM KHẢO ...............................................................93


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCH.TW

Ban chấp hành Trung ƣơng

BLTTHS

Bộ luật tố tụng hình sự

ECHR

Hiê ̣p đinh
̣ Châu Âu về bảo vê ̣ Quyề n con ngƣời và sƣ̣ tƣ̣
do cơ bản


Trung tâm trợ giúp pháp lý

UNDP

Chƣơng trình phát triể n Liên hơ ̣p quố c

VKSNDTC

Viện kiểm sát nhân dân tối cao

XHCN

Xã hội chủ nghĩa


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đối với quá trình tố tụng giải quyết bất kỳ vụ án hình sự nào thì hoạt động
xét xử đóng vai trò trọng tâm vì ở đây thể hiện đầy đủ bản chất tƣ pháp Nhà nƣớc,
hoạt động xét xử dựa trên kết quả điều tra, truy tố và xét xử. Đây là giai đoạn quyết
định tính đúng đắn, khách quan của việc giải quyết vụ án, góp phần bảo vệ lợi ích
chính đáng của Nhà nƣớc, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức. Để
những điều này đạt đƣợc thì sự đòi hỏi về tính dân chủ tại phiên tòa là điều cần
thiết, cũng nhƣ các quy định của pháp luật TTHS phải phù hợp thực tiễn.
Trong hoa ̣t đô ̣ng xét xƣ̉ vu ̣ án hin
̀ h sƣ̣ , Viê ̣n kiể m sát nhân danh Nhà nƣ ớc
thực hành quyền công tố đóng vai trò là bên buô ̣c tô ̣i trong khi đó Ngƣời bi ̣ta ̣m giƣ̃ ,
Bị can, Bị cáo có Quyền bào chữa cho việc buộc tội của Viện kiểm sát

. Viê ̣c thƣ̣c

pháp, nhƣng lại có mối liên hệ chặt chẽ với hoạt động tƣ pháp, hỗ trợ cho hoạt động
tƣ pháp (bổ trợ tƣ pháp).
Ở nƣớc ta, hoạt động của Luật sƣ đã đƣợc thể chế hóa bằng pháp luật từ rất
sớm. Trong tất cả các Hiến pháp từ Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp 1959, Hiến
pháp 1980, Hiến pháp 1992 và Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung đều có các quy định
về sự tham gia của Luật sƣ trong các phiên tòa xét xử để bào chữa cho Bị cáo. Cùng
với các quy định về sự tham gia của Luật sƣ nêu trong các bản Hiến pháp, Việt Nam
còn ban hành các văn bản quy định về tổ chức và hoạt động của Luật sƣ làm cơ sở
pháp lý cho sự tham gia của Luật sƣ trong TTHS thực hiện nhiệm vụ bào chữa của
mình. Sự ra đời của Pháp lệnh Luật sƣ năm 1987, 2001, Luật Luật sƣ 2006 và sửa
đổi bổ sung năm 2012 đã khẳng định sự hình thành và phát triển của chế định Luật
sƣ bào chữa trong pháp luật của nƣớc ta. Từ góc độ quy định của pháp luật, Điều 19
BLTTHS 2003 của Việt Nam cũng đƣa ra nguyên tắc: “Đảm bảo quyền bình đẳng
trước Tòa án”, theo đó ngƣời Luật sƣ với vai trò là Ngƣời bảo vệ quyền lợi của
đƣơng sự đều có quyền bình đẳng trong việc đƣa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đƣa ra
yêu cầu và tranh luật dân chủ trƣớc Tòa án và Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện
cho họ thực hiện các quyền trên nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án . Tuy đã
trở thành mô ̣t nguyên tắ c rõ ràng nhƣng trong thƣ̣c tiễn viê ̣c áp du ̣ng các quy đinh
̣
của pháp luật TTHS vào hoạt động bào chữa của Luật sƣ còn gặp nhiều hạn chế

,

nhấ t là quá trình điề u tra cũng nhƣ tham gia bào chƣ̃a ta ̣i phiên tòa xét xƣ̉ sơ thẩ m .
Sƣ̣ ha ̣n chế này có ảnh hƣởng rất lớn đến việc xem xét vụ án và đƣa ra bản án , quyế t
đinh
̣ vì kế t quả tranh luâ ̣n ta ̣i phiên tòa là mô ̣t trong nhƣ̃ng căn cƣ́ chin
́ h để Hô ̣i
đồ ng xét xƣ̉ quyế t đinh
̣ tô ̣i danh và mức hình phạt .

2. Tổng quan tình hình nghiên cứu và hướng nghiên cứu mới
Trong những năm qua, đặc biệt là Nghị quyết 49-NQ/TW năm 2005 về

3


Chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến năm 2020 do Ban Chấp hành Trung ƣơng ban hành
đã đặt nền móng cho quá trình nghiên cứu của các học giả nhằm đẩy mạnh tiến độ
cải cách này. Xung quanh vấn đề xét xử trong TTHS đã có nhiều bài viết cũng nhƣ
công trình nghiên cứu có thể kể ra nhƣ: Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hùng (2010), Hiệu
quả của hoạt động xét xử trong TTHS - Luận án tiến sĩ Luật học; TS Võ Thị Kim
Oanh (2008), Xét xử sơ thẩm trong TTHS Việt Nam – Luận án tiến sĩ Luật học; TS
Nguyễn Văn Tuân (2001), Vai trò của Luật sư trong TTHS, Nhà xuất bản Đại học
quốc gia xuất bản năm… Trên cơ sở chức năng và vai trò của Luật sƣ trong vụ án
hình sự, có một số tác phẩm và bài viết của PGS.TS.LS Phạm Hồ ng Hải (1999),
Bảo đảm Quyền bà o chữa của người bi ̣ buộc tội , NXB Công an nhân dân ; TS.LS
Phan Trung Hoài (2006), Hoàn thiện pháp luật về Luật sư ở Việt Nam của , NXB Tƣ
pháp; Nguyễn Đƣ́c Mai (2008), Hoàn thiện một số quy định của BLTTHS hiện hành
nhằ m nâng cao chấ t lượng tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm , Tạp chí Luật học , số
7/2008. Bên cạnh đó, trong thời gian gần đây, đã có một số bài viết cũng nhƣ các
công trình nghiên cứu nhằm bổ sung, sửa đổi một số điều của Bộ luật TTHS nhƣ:
Kiế n nghi ̣ sửa đổ i bổ sung Bộ luật TTHS năm 2003 và các luận cứ , Hà Nội, ngày
29/10/2012 của Liên đoàn Luật sư Viê ̣t Nam.
Các công trình trên đã góp phần không nhỏ vào việc đƣa ra các luận điểm lý
luận, khoa học, luận giải cho những giải pháp thực tiễn góp phần vào công cuộc cải
cách tƣ pháp hiện nay. Tuy nhiên do nhiệm vụ cải cách tƣ pháp rất rộng, tác động
và dựa trên nhiều yếu tố vĩ mô, các công trình nghiên cứu pháp luật về Quyền bào
chữa trong đó có vai trò của Ngƣời bào chữa là Luật sƣ một cách độc lập trong
phiên tòa sơ thẩm của vụ án hình sự chƣa có, chƣa làm rõ những yếu tố ảnh hƣởng
đến vai trò của Luật sƣ một cách rõ ràng trong phiên tòa sơ thẩm của vụ án hình sự.

Đề tài nghiên cứu về việc thực hiện Quyền bào chữa của Bi ̣cáo thông qua
vai trò Luật sƣ trong phiên tòa sơ thẩm của vụ án hình sự từ cả khía cạnh pháp luật
thực định cũng nhƣ thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật đó để tìm kiếm các
biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Luật sƣ trong phiên toà sơ
thẩm nói riêng cũng nhƣ trong các giai đoạn TTHS nói chung.
- Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài chọn địa bàn TP.Hồ Chí Minh làm thực trạng nghiên cứu. Đề tài giới
hạn và tập trung việc nghiên cứu vai trò của Luật sƣ chỉ tại phiên tòa sơ thẩm của vụ
án hình sự. Tuy nhiên, để làm rõ vai trò của Luật sƣ trong xét xử sơ thẩm đề tài có
nghiên cứu cả giai đoạn điều tra.
5. Ý nghĩa nghiên cứu
- Ý nghĩa lý luận:
Đề tài đƣa ra những luận cứ và phân tích chặt chẽ các quy định hiện hành

5


của pháp luật TTHS, làm kết quả để hoàn thiện pháp luật TTHS và vai trò của
Ngƣời bào chữa là Luật sƣ trong phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng và vụ
án hình sự nói chung. Về nguyên tắc, phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự là kết tinh
của giai đoạn điều tra, phiên tòa phúc thẩm vụ án hình sự là dựa trên kết quả của
phiên tòa sơ thẩm, nên việc hoàn thiện vai trò của Luật sƣ trong phiên tòa sơ
thẩm phải phần nào dựa trên sự hoàn thiện vai trò của Ngƣời bào chữa là Luật sƣ
trong giai đoạn điều tra, cũng vừa góp phần hoàn thiện vai trò Luật sƣ trong
phiên tòa phúc thẩm vụ án hình sự.
- Ý nghĩa thực tiễn:
Đề tài đƣa ra những lý luận chặt chẽ để các chủ thể tham gia tố tụng nhận
thức đƣợc vai trò đúng đắn của Ngƣời bào chữa là Luật sƣ trong quá trình thực hiện
Quyền bào chữa cho Bị can,Bị cáo, đối với hiệu quả xét xử của phiên tòa sơ thẩm,
khi Tòa án có quyết định hình phạt đúng đắn nhất, công lý đƣợc đảm bảo.

bản của Nhà nƣớc , đã có nhiề u quy đinh
̣ khẳ ng đinh
̣ Quyề n con ngƣời , quyề n công
dân và mô ̣t trong nhƣ̃ng quyề n đƣơ ̣c Hiế n pháp nƣớc ta bảo vê ̣ đó chính là Quyề n
bào chữa trong các vụ án hình sự . Để nhìn nhận tổng quan đƣợc Quyền bào chữa là
gì và cơ sở cho việc phải bảo đảm Quyền bào chữa trong các vụ án hình sự thì trƣớc
hế t, cầ n nhiǹ nhâ ̣n đúng thế nào là Quyề n bào chƣ̃a và làm rõ đƣơ ̣c nhƣ̃ng đă ̣c điể m
của Quyề n bào chƣ̃a .
1.1.1. Quyền bào chữa trong các vụ án hình sự
Hiê ̣n nay có nhiề u quan điể m khác nhau về Quyề n bào chƣ̃a bởi vì đây là
mô ̣t chế đinh
̣ quan tro ̣ng , phƣ́c ta ̣p, nó vừa mang tính lý luận và vừa mang tính thực
tế . Tƣ̀ trƣớc đế n nay có nhiề u bài nghiên cƣ́u đã đƣa ra nhiề u quan điể m về cách
hiể u thế nào là Quyề n bào chƣ̃a nhƣng nhin
̀ chung có thể nêu ra mô ̣t số các quan
điể m nhìn nhâ ̣n sau:
Quan điể m thƣ́ nhấ t [20, tr.14] cho rằ ng Quyề n bào chữa là tổ ng hòa tất cả
các hành vi tố tụng hướng tới việc bãi bỏ sự buộc tội và xác định Bị can không có
lỗi hoặc nhằ m làm giảm trách nhiê ̣m của Bi ̣ can.
Quan điể m thƣ́ hai [28, tr.18] cho rằ ng, Quyề n bào chữa được hiể u rộng hơn,
nó không chỉ dừng lại ở viê ̣c bác bỏ sự buộc tội và xác đi ̣nh Bi ̣ can không có lỗi hay
làm giảm trách nhiệm của Bị can mà nó còn được thể hiện trong cả việc đảm bảo
các quyền và lợi ích được pháp luật bảo vệ của Bị c an kể cả khi chúng không trực
tiế p liên quan đế n viê ̣c làm giảm trách nhiê ̣m của Bi ̣ can trong vụ án .
Quan điể m thƣ́ ba [40, tr.12] cho rằ ng, Quyề n bào chữa không chỉ thuộc về
7


Bị can, Bị cáo mà còn thuộc về người bị tình nghi phạm tội, người bi ̣ kế t án , người
bào chữa, bị đơn dân sự và Người đại diện hợp pháp của họ.

̀ h ) [20]. Nhƣ vâ ̣y,
nhƣ̃ng chủ thể nào liên quan trƣ̣c tiế p đ ến viê ̣c buô ̣c tô ̣i và cầ n phải phản bác la ̣i

8


viê ̣c buô ̣c tô ̣i đó hoă ̣c để giảm nhe ̣ các trách nhiê ̣m hình sƣ̣ do viê ̣c buô ̣c tô ̣ i gây ra
thì mới có thể trở thành chủ thể của Quyền bào chữa .
Tóm lại, Quyền bào chữa của Người bi ̣tạm giữ , Bị can, Bị cáo là tổng hợp
tấ t cả các hành vi / phương thức mà pháp luật quy đ ịnh cho Người bi ̣ tạm giữ , Bị
can, Bị cáo sử dụng trong các giai đo ạn của quá trình TTHS để chố ng lại sự
buộc tội hoă ̣c làm giảm trách nhiê ̣m hình sự cho họ.
Với khái niê ̣m Quyề n bào chƣ̃a nhƣ trên , chúng ta có thể rút ra đƣợc một số
đă ̣c điể m của Quyề n bào chƣ̃a nhƣ sau:
a) Chủ thể của Quyền bào chữa:
Theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam thì chủ thể của tội phạm là cá
nhân cho nên chủ thể của Quyền bào chữa cũng là cá nhân và đƣợc quy định tại
Điề u 11 BLTTHS quy đinh:
̣
“Điều 11: Bảo đảm Quy ền bào chữa của Người bị tạm giữ
cáo: Người bi ̣ tạm giữ , Bị can , Bị cáo có quyền tự bào chữa hoặ

, Bị can , Bị
c nhờ người

khác bào chữa . Cơ quan điề u tra , Viê ̣n kiể m sát , Tòa án có trách nhiệm bảo đảm
cho Người bi ̣ tạm giữ , Bị can , Bị cáo thực hiện Quyền bào chữa của họ theo quy
đi ̣nh của Bộ luật này” .
Theo quy đinh
̣ của BLTTHS cũng nhƣ tác giả đã đề câ ̣p ở trên thì chủ thể

̣ ta ̣m giƣ̃ nế u khách hàng

(hoặc thân chủ) của Ngƣời bào

chƣ̃a bi ̣bắ t theo quy đinh
̣ ta ̣i Điề u 81, Điề u 82 của BLTTHS 2003. Nhƣ vâ ̣y ngay tƣ̀
khi có quyế t đinh
̣ ta ̣m giƣ̃ , Ngƣời bi ̣ta ̣m giƣ̃ đã đƣơ ̣c đă ̣t dƣới sƣ̣ kiể m tra và giám
sát của các Cơ quan tiến hành tố tụng để phục vụ cho việc điều tra , truy tố tô ̣i pha ̣m
và do vậy họ vẫn phải đƣợc bảo đảm về Quyền bào chữa của mình tƣơng tự nhƣ đối
với Bi ̣can, Bị cáo.; (ii) Thƣ́ hai là xuấ t phát tƣ̀ mô ̣t nguyên tắ c chính của TTHS đó
chính là nguyên tắc suy đoán vô tội đƣợc quy định tại Điều

9 BLTTHS khi mà

không ai bi ̣coi là có tô ̣i và phải chiụ hin
̀ h pha ̣t khi chƣa có bản án kế t tô ̣i của Tòa án
đã có hiê ̣u lƣ̣c pháp luâ ̣t và do vâ ̣y Ngƣời bi ̣ta ̣m giƣ̃ vẫn sẽ đƣơ ̣c hƣởng Quyề n bào
chƣ̃a giố ng nhƣ Bi ̣can, Bị cáo.
b) Phương thức thưc̣ hiêṇ Quyề n bào chữa:
Cũng theo quy định tại Điều

11 BLTTHS đã nêu thì Quyề n bào chƣ̃a của

Ngƣời bi ̣ta ̣m giƣ̃ , Bị can, Bị cáo đƣợc thực hiện bằng hai phƣơng thức chính là (i)
tƣ̣ mình bào chƣ̃a, (ii) nhờ ngƣời khác bào chƣ̃a .
Đối với phương thức thứ nhất , Ngƣời bi ̣ta ̣m giƣ̃ , Bị can , Bị cáo có thể t ự
mình bào chữa cho mình nếu nhƣ họ cảm thấy rằng tự bản thân họ có thể bào
chƣ̃a cho miǹ h mà không cầ n đ ến sƣ̣ trơ ̣ giúp của ngƣời bào chƣ̃a


thông qua các Điề u 56, Điề u 57, Điề u 58 BLTTHS có thể nhâ ̣n đinh
̣ rằ ng Ngƣời bào
chƣ̃a là ngƣời đƣơ ̣c Ngƣời bi ̣ta ̣m giƣ̃ , Bị can, Bị cáo, Ngƣời đa ̣i diê ̣n hơ ̣p pháp của
họ, nhƣ̃ng ngƣời khác đƣơ ̣c Ngƣời bi ̣ta ̣m giƣ̃ , Bị can, Bị cáo ủy quyền mời hoặc
đƣơ ̣c Cơ quan tiế n hành tố tu ̣ng yêu cầ u Đoàn Luâ ̣t sƣ phân công Văn phòng Luâ ̣t
sƣ cƣ̉ hoă ̣c đề nghi ̣Mă ̣t trâ ̣n tổ quố c Viê ̣t Nam , tổ chƣ́c thành viên của Mă ̣t trâ ̣n cƣ̉
để bào chữa cho Ngƣời bị tạm giữ , Bị can, Bị cáo nhằm làm sáng tỏ những tình tiết
gỡ tô ̣i hoă ̣c làm giảm nhe ̣ trách nhiê ̣m hin
̀ h sƣ̣ cho Ng ƣời bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo
và giúp đỡ họ về mặt pháp lý.
Theo khoản 1 Điề u 56 BLTTHS quy đinh:
̣
“Điều 56. Người bào chữa
1. Người bào chữa có thể là:
a) Luật sư;
b) Người đại diê ̣n hợp pháp của Người bi ̣ tạm giữ, Bị can, Bị cáo;
c) Bào chữa viên nhân dân.”
Luật sư, theo Điề u 2 của Luật Luật sƣ 2006 thì Luật sƣ là ngƣời có đủ tiêu
chuẩ n, điề u kiê ̣n hành nghề theo quy đinh
̣ của Lu ật Luật sƣ và thƣ̣c hiê ̣n các dich
̣ vu ̣
pháp lý theo yêu cầu của cá nhân , Cơ quan, tổ chƣ́c có yêu cầ u .
Theo quy đinh
̣ , công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến
pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã đƣợc đào tạo
nghề Luật sƣ, đã qua thời gian tập sự hành nghề Luật sƣ, có sức khoẻ bảo đảm hành
nghề Luật sƣ thì có thể trở thành Luật sƣ và muốn đƣợc hành nghề Luật sƣ phải có
Chứng chỉ hành nghề Luật sƣ và gia nhập một Đoàn Luật sƣ [Luật luật sƣ 2006,
Điều 10, Điều 11]
Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo là bố mẹ đẻ,

mặt Chính phủ lâm thời ban hành Sắc lệnh số 46-SL quy định tổ chức các đoàn thể
Luật sƣ và đến ngày 18.6.1949, Hồ Chủ tịch đã ban hành Sắc lệnh số 69-SL cho
phép các Bị can có thể nhờ một công dân không phải là Luật sƣ bênh vực cho mình
trƣớc các Toà án - sau này gọi là các Bào chữa viên nhân dân [51]. Việc ban hành
Sắc lệnh số 69 thể hiện tính ƣu việt của chế độ mới - mọi ngƣời đều bình đẳng trƣớc
pháp luật, không phân biệt xuất thân, thành phần, dân tộc, giai cấp...

12


Tuy nhiên, từ đó đến nay chế định Bào chữa viên nhân dân chƣa đƣợc cụ thể
hoá, quy định chi tiết ở bất cứ văn bản pháp luật nào. Do chƣa có quy định cụ thể
nên hầu nhƣ chƣa có sự tham gia của các Bào chữa viên nhân dân tại các phiên tòa
kể cả hình sự lẫn dân sự, hành chính... Mặc dù, tại điểm c Điều 56 của Bộ luật
TTHS quy định về Ngƣời bào chữa, trong đó có nêu sự tham gia của Bào chữa viên
nhân dân trong các phiên tòa để bảo vệ quyền lợi cho Bị can, Bị cáo, Ngƣời bị hại...
Thực tế hiê ̣n nay hoạt động của Bào chữa viên nhân dân cũng không đƣợc tổ chức
thành một hệ thống, chƣa có quy định nào cụ thể, chi tiết về điều kiện, tiêu chuẩn để
đƣợc công nhận là Bào chữa viên nhân dân, hiện nay trong xã hội có nhiều ngƣời có
trình độ pháp lý có hiểu biết về công việc bào chữa nhƣng họ chƣa đƣợc kết nạp vào
đoàn Luật sƣ và họ lại đƣợc Bị can, Bị cáo nhờ bào chữa.
Có thể nói, viê ̣c bảo đảm Quyề n bào chƣ̃a thông qua Ngƣời bào chƣ̃a là mô ̣t
đảm bảo rấ t quan tro ̣ng vì nhiề u trƣờng hơ ̣p Ngƣời bi ̣ta ̣m giƣ̃ , Bị can, Bị cáo không
hiể u biế t về pháp luâ ̣t thì ho ̣ không thể tƣ̣ mình sƣ̉ du ̣ng hế t các quyề n mà pháp luâ ̣t
quy đinh
̣ cho ho ̣ để có thể bảo vê ̣ quyề n lơ ̣i cho min
̀ h

, họ cũng không thể biết và


mang la ̣i lơ ̣i ích cao nhấ t ch o ngƣời đƣơ ̣c bào chƣ̃a . Luật sƣ là một nghề nghiệp độc
lập, mang tính chuyên môn, không phải là một công việc đơn lẻ, kiêm nhiệm hay
bán chuyên trách.
Mô ̣t vấ n đề cần lƣu ý là viê ̣c Ngƣời bi ̣ta ̣m giƣ̃ , Bị can, Bị cáo nhờ Ngƣời bào
chƣ̃a để bào chữa cho họ thì việc nhờ này không làm mất đi quyền tự bào chữa của
chính họ hay nói cách khác , trong mo ̣i trƣờng hơ ̣p, Ngƣời bi ̣ta ̣m giƣ̃ , Bị can, Bị cáo
luôn đƣơ ̣c sƣ̉ du ̣ng các quyề n mà pháp luâ ̣t cho phép để bảo vê ̣ q uyề n và lơ ̣i ích hơ ̣p
pháp của mình. Về vấ n đề này hiê ̣n nay trong quy đinh
̣ ta ̣i Điề u 11 BLTTHS có thể
gây ra sƣ̣ nhầ m lẫn bởi cách dùng tƣ̀. Điề u luâ ̣t này thể hiê ̣n Ngƣời bi ̣ta ̣m giƣ,̃ Bị can,
Bị cáo có quyền tự bào chữa hoă ̣c nhờ ngƣời khác bào chƣ̃a cho min
̀ h. Nhƣ tác giả đã
phân tích ở trên, viê ̣c Ngƣời bi ̣ta ̣m giƣ̃, Bị can, Bị cáo nhờ ngƣời khác bào chữa cho
mình không đƣơng nhiên làm mất đi quyền tự bào chữa của họ do vậy việc dùng từ
“hoă ̣c” trong quy đinh
̣ ta ̣i Điề u 11 BLTTHS là không chính xác mà nên thay thế bằ ng
tƣ̀ “và” để thƣ̣c hiê ̣n và hiể u đúng đƣơ ̣c tinh thầ n và nô ̣i hàm của no. ́
c) Cách thức tham gia bào chữa của Người bào chữa trong việc bảo đảm
Quyền bào chữa:
Hiê ̣n nay , viê ̣c Ngƣời bào chƣ̃a tham gia vào các hoa ̣t đô ̣ng TTHS để bào
chƣ̃a cho Ngƣời bi ̣ta ̣m giƣ̃ , Bị can, Bị cáo đƣợc thực hiện dựa trên hai phƣơng thức
chính là (i) Ngƣời bào chƣ̃a tham gia vu ̣ án dƣ̣a trên sƣ̣ lƣ̣ a cho ̣n của Ngƣời bi ̣ta ̣m
giƣ̃, Bị can, Bị cáo hoặc (ii) Ngƣời bào chƣ̃a tham gia vu ̣ án trên cơ sở yêu c ầu của
của Cơ quan tiến hành tố tụng (bào chữa chỉ định hoặc bào chữa bắt buộc).
Ở phương thức thứ nhất , theo quy đinh
̣ ta ̣i k hoản 1 Điề u 57 BLTTHS quy
đinh,
̣ Ngƣời bào chƣ̃a do Ngƣời bi ̣ta ̣m giƣ̃ , Bị can, Bị cáo hoặc Ngƣời đại diện hợp
pháp của họ lựa chọn. Nhƣ vâ ̣y, viê ̣c Ngƣời bào chƣ̃a tham gia vào quá trin
̀ h tố tu ̣ng

03/2004/NQ-HĐTP ngày 02/10/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao về viê ̣c hƣớng dẫn thi hành mô ̣t số quy đinh
̣ trong phầ n thƣ́ nhấ t “

Những quy

đi ̣nh chung” của BLTTHS 2003.
Mô ̣t cách khái quát , bào chữa bắt buộc xảy ra khi mà trong quá trình điều tra ,
truy tố và xét xƣ̉ vu ̣ án hình sƣ̣ mà Bi ̣can

, Bị cáo hoặc đại diện hợp pháp của họ

không mời đƣơ ̣c Ngƣời bào chƣ̃a nhưng vẫn muố n sự có sự tham gia của Người
bào chữa hoă ̣c trong mô ̣t số trƣờng hơ ̣p do luâ ̣t đinh
̣ mà bắ t buô ̣c phải có sƣ̣ tham
gia của Ngƣời bào chƣ̃a thì pháp luâ ̣t TTHS sẽ dành cho ho ̣ có quyề n có ngƣời bào
chƣ̃a. Nhƣ̃ng trƣờng hơ ̣p này đƣơ ̣c go ̣i là bào chữa chỉ định hay bào chữa bắt buộc .
Quy đinh
̣ về bào chƣ̃a bắ t buô ̣c nhằ m bảo đảm Quyề n bào chƣ̃a cho Bi ̣can , Bị cáo
khi có nhƣ̃ng nguy cơ hay có nhƣ̃ng cản trở làm cho ho ̣ không thể thƣ̣c hiê ̣n đƣơ ̣c
hoă ̣c thƣ̣c hiê ̣n không t ốt Quyền bào chữa của mình hoặc thể hiện tinh thần của
pháp luật đối với một số tội phạm bắt buộc phải có ngƣời bào chữa

15

. Khi nhƣ̃ng


trƣờng hơ ̣p này xảy ra thì Cơ quan tiế n hành tố tu ̣ng



2. Trong những trường hp sau đây , nế u Bi ̣ can, Bị cáo hoặc Người đại diện
hợp pháp của họ không mời Người bào chữa thì Cơ q

uan điề u tra , Viê ̣n kiểm sát

hoặc Tòa án phải yêu cầ u Đoàn Luật sư phân công Văn phòng Luật sư cử Người
bào chữa cho họ hoặc đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

, tổ chức thành

viên của Mặt trận cử Người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình:
a) Bị can , Bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình
được quy đi ̣nh tại Bộ luật hình sự;
b) Bị can , Bị cáo là người chưa thành niên , người có nhược điể m về tâm
thầ n hoặc thể chấ t.
Trong các trường hợp quy đi ̣nh tại điể m a và điể m b khoản

16

2 Điề u này, Bị


can, Bị cáo và Người đại diện hợp pháp của họ vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc
từ chố i người bào chữa”.
Với quy đinh
̣ trên , khi Bi ̣can, Bị cáo bị điều tra, truy tố và xét xƣ̉ về tô ̣i theo
khung hình pha ̣t có mƣ́c cao nhấ t là tƣ̉ hình thì viê ̣c có Ngƣời bào chƣ̃a đƣơ ̣c xem là
mang tiń h thâ ̣n tro ̣ng , khách quan và để tránh phạm phải những sai lầm không khắc
phục đƣợc trong viê ̣c giải quyế t vu ̣ án cũng nhƣ đảm bảo tính nhân đa ̣o của pháp

d) Quyề n bào chữa được thực hiện trong các giai đoạn TTHS
Dƣ̣a trên khái niê ̣m về Quyề n bào chƣ̃a đã phân tić h
đƣơ ̣c rõ Quyề n bào chƣ̃a là giúp cho Ngƣời bi ̣ta ̣m giƣ̃

17

, chúng ta có thể thấy

, Bị can , Bị cáo có thể sử


dụng các quyền theo luật định nhƣ đƣa ra tài liệu

, đồ vâ ̣t , chƣ́ng cƣ́ , yêu cầ u để

chƣ́ng minh cho sƣ̣ vô tô ̣i hoă ̣c làm giảm nhe ̣ trách nhiê ̣m hin
̀ h sƣ̣ cho min
̀ h hoă ̣c ho ̣
có thể sử dụng những hình thức bào chữa khác nhau mà pháp luâ ̣t cho phép nhƣ đã
phân tích ở trên để bảo vê ̣ các quyề n và lơ ̣i ích của ho ̣ . Nhƣ vâ ̣y mu ̣c đích và vai trò
cuố i cùng của Quyề n bào chƣ̃a chin
́ h là bảo vê ̣ quyề n và lơ ̣i ić h cho chin
́ h ngƣời có
Quyề n bào chƣ̃a hay nói cách khác là dùng để chống lại sự buộc tội hoặc làm giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự cho chính họ

. Chúng ta có thể thấy rằng , chỉ có những

Ngƣời bi ̣ta ̣m giƣ̃ , Bị can, Bị cáo là những ngƣời bị buộc tội trong quá trình TTHS
nên chỉ có họ mới là ngƣời có Quyền bào chữa và cái mục đích cuối cùng mà họ

đổi đã ghi nhận nguyên tắc này. Tại phiên tòa, sự ghi nhận nguyên tắc tranh tụng
sẽ đề cao quá trình dân chủ hóa hoạt động tố tụng và sự bình đẳng trong quá trình
giải quyết vụ án. Đó cũng là cơ sở nâng cao năng lực, trình độ, trách nhiệm, bản
lĩnh nghề nghiệp của từng chủ thể (công tố, bào chữa, xét xử) thực hiện chức năng
của mình, đáp ứng những đòi hỏi mới của quá trình cải cách tƣ pháp hình sự.
Chính vì vậy, Quyền bào chữa thể hiện tập trung nhất tại phiên tòa, khi mà cùng
lúc các chủ thể thực hiện chức năng công tố, xét xử, bào chữa cùng thể hiện mình.
Tòa án (Hội đồng xét xử) sẽ căn cứ vào sự thể hiện của các bên công tố buộc tội
và bên bào chữa (Ngƣời bào chữa hoặc/tự bào chữa) để ra phán quyết đúng ngƣời,
đúng tội và đúng pháp luật.
1.1.2. Quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Nhƣ đã phân tić h, Quyề n bào chƣ̃a đƣơ ̣c thƣ̣c hiê ̣n thông qua hai hin
̀ h thƣ́c là
ngƣời bi ̣ta ̣m giam , Bị can, Bị cáo sẽ tự mình thực hiện Quyền bào chữa này hoặc
thông qua Ngƣời bào chƣ̃a để bảo vê ̣ quyề n và lơ ̣i ić h hơ ̣p pháp cho min
̀ h.
Đối với hình thức tự bào chữa , hoạt động bào chữa có thể hiể u mô ̣t cách đơn
giản nhất đó chính là bản thân ngƣời bị tạm giam , Bị can, Bị cáo sẽ tự mình thực
hiê ̣n các quyề n mà pháp luâ ̣t cho phép để thƣ̣c hiê ̣n viê ̣c bào chƣ̃a cho min
̀ h

. Với

hình thức này , Ngƣời bi ̣ta ̣m giƣ̃ , Bị can , Bị cáo đã bị giới hạn một số quyền của
mình và phải chịu sự giám sát chặt chẽ của các Cơ quan tiến hành tố tụng nên việc
thƣ̣c hiê ̣n Quyề n bào chƣ̃a của ho ̣ có phầ n ha ̣n chế . Cụ thể là việc bào chữa của họ
chỉ thực sƣ̣ đƣơ ̣c thể hiê ̣n thông qua quá trình xét xƣ̉ ta ̣i phiên tòa cho đế n khi mô ̣t
bản án, quyế t đinh
̣ có hiê ̣u lƣ̣c đƣơ ̣c ban hành . Tại phiên xét xử , thông qua các thủ
tục trình tự phiên tòa từ xét hỏi cho đ ến phầ n tranh luâ ̣n , ngƣời có Quyền bào chữa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status