Tiểu luận Kỹ năng của luật sư khi chuẩn bị luận cứ bào chữa, bảo vệ trong
giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự
A. PHẦN MỞ ĐẦU
Đối với Luật sư trước khi tiến hành bảo vệ /bào chữa cho thân chủ tại phiên tòa
xét xử buộc phải tiến hành một loạt các hoạt động như: tiếp xúc với thân chủ,
nghiên cứu hồ sơ vụ án, thu thập chứng cứ, làm việc với cơ quan điều tra, Viện
kiểm sát, hững người có liên quan, … và các công việc cần phải làm trước khi ra
phiên tòa là một điều hết sức quan trọng.
Trước khi ra phiên tòa xét xử, nếu Viện kiểm sát phải chuẩn bị cáo trạng, Hội
đồng xét xử phải chuẩn bị quyết định đưa vụ án ra xét xử thì Luật sư phải chuẩn
bị bài luận cứ bào chữa, nó được coi như “ vũ khí ” pháp lý để luật sư cùng thân
chủ vượt qua cuộc “ tranh đấu ” với các cơ quan tiến hành tố tụng và các bên đối
tụng.
Bản luận cứ có thể là bản luận cứ bào chữa hoặc bản luận cứ bảo vệ, tùy thuộc
vào thân chủ mình đóng vai trò gì trong vụ án hình sự. Thông thường, Bản luận
cứ của Luật sư được chuẩn bị theo hình thức một bài nghị luận, trong đó Luật sư
đưa ra quan điểm của mình đối với việc giải quyết vụ án trên cơ sở phân tích,
tổng hợp, đánh giá chứng cứ một cách toàn diện, đầy đủ, chặt chẽ và được trình
bày một cách lôgic, khoa học.
Bản luận cứ có vai trò rất quan trọng đối với cả luật sư cũng như khách hàng của
Luật sư. Đối với luật sư, bản luận cứ thể hiện trình độ, khả năng, kinh nghiệm và
bản lĩnh nghề nghiệp, bài luận cứ là kết quả làm việc của một quá trình lao động
vất vả, là đúc kết của toàn bộ các công việc mà Luật sư đã làm trước khi ra
phiên tòa xét xử. Đối với khách hàng, bản luận cứ của Luật sư là chỗ dựa pháp
lý và tâm lý vững chắc, là “ bùa hộ mệnh ” trên trong con đường bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình.
1
Bản luận cứ của Luật sư có vai trò to lớn như vậy, nên kỹ năng của luật sư khi
chuẩn bị bản luận cứ là vô cùng quan trọng. Nhận thức được vấn đề đó, tôi đã
lựa chọn và xin trình bày những nghiên cứu của mình về vấn đề : Kỹ năng của
luật sư khi chuẩn bị luận cứ bào chữa, bảo vệ trong giai đoạn xét xử phúc thẩm
giai đoạn xét xử phúc thẩm tương đối giống trong giai đoạn sơ thẩm, tuy nhiên,
do tính chất và nội dung tranh tụng tại giai đoạn xét xử phúc thẩm có những
điểm khác biệt với giai đoạn xét xử sơ thẩm, nên kỹ năng chuẩn bị để viết Bản
Luận cứ bảo vệ/bào chữa trong giai đoạn xét xử phúc thẩm cũng có những điểm
khác biệt riêng. Việc chuẩn bị bản luận cứ bào chữa, bảo vệ trong giai đoạn
phúc thẩm yêu cầu Luật sư cần chú ý các kỹ năng cụ thể như sau:
a. Nghiên cứu hồ sơ, tìm hiểu nội dung vụ án:
Nếu đã tham gia từ cấp sơ thẩm thì Luật sư chỉ tiếp tục nghiên cứu và giải quyết
tiếp những vấn phát sinh sau khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm. Đối với Luật sư tới
giai đoạn xét xử tại cấp phúc thẩm mới tham gia, để có thể viết được Bản luận
cứ bào chữa/bảo vệ có chất lượng đòi hỏi đòi hỏi Luật sư phải thực hiện các
công việc từ những khâu đầu tiên, nhằm tìm hiểu để nắm bắt được nội dung vụ
án cũng như yêu cầu của Khách hàng.
Việc nghiên cứu các nội dung có trong hồ sơ vụ án cũng phải được tập trung vào
các tài liệu có liên quan đến việc giải quyết các yêu cầu kháng cáo, kháng nghị.
Tùy thuộc vào từng nội dung yêu cầu kháng cáo, kháng nghị và định hướng bào
chữa/bảo vệ mà Luật sư xác định các tài liệu cần nghiên cứu trong hồ sơ cho phù
hợp.
3
Để tiết kiệm công sức nghiên cứu thì việc xem xét kháng cáo cần được thực hiện
theo thứ tự như sau:
-Xác định xem chủ thể kháng cáo có hợp pháp hay không, nếu người kháng cáo
không phải là người có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 231 Bộ Luật tố
tụng hình sự thì việc kháng cáo đó sẽ không được Tòa án cấp phúc thẩm chấp
nhận, và trong trường hợp này không nhất thiết phải quan tâm tới nội dung
kháng cáo;
- Xem xét việc kháng cáo đó có đúng thời hạn kháng cáo theo quy định tại
Điều
234 Bộ Luật tố tụng hình sự hay không, nếu có việc kháng cáo quá hạn thì có
được Tòa án cấp phúc thẩm ra Quyết định chấp nhận kháng cáo quá hạn hay
tài liệu này gồm: các tài liệu, chứng cứ thu thập được từ việc nghiên cứu hồ sơ
vụ án, các tài liệu, chứng cứ mới được thu thập bổ sung và các tài liệu, văn bản
pháp luật có liên quan.
* Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án:
Nếu bào chữa cho bị cáo: Luật sư cần chuẩn bị và nghiên cứu kỹ các tài liệu,
chứng cứ xác định sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm cho bị cáo. Thông
thường cần nghiên cứu những lời khai của bị cáo có các chứng cứ xác định sự
vô tội hoặc các tình tiết làm giảm nhẹ tội cho bị cáo như hoàn cảnh, động cơ,
mục đích phạm tội đáng để Hội đồng xét xử lưu ý, vai trò của bị cáo trong vụ án
chỉ là đồng phạm chứ không phải là chủ mưu… Chuẩn bị và nghiên cứu các lời
khai của người làm chứng xác nhận những tình tiết có lợi cho bị cáo; Các lời
khai của người bị hại có nhiều mâu thuẫn về hành vi phạm tội của bị cáo; Kết
luận giám định có mâu thuẫn với các chứng cứ khác của vụ án. Nghiên cứu các
5
tài liệu xác định tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như đã tự nguyện ngăn chặn làm
giảm bớt tác hại của tội phạm, tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, ăn năn
hối cải, thành khẩn khai báo, … hoặc các tài liệu thể hiện những điểm tốt về
nhân thân bị cáo. Nghiên cứu các tài liệu dùng để bác bỏ hoặc đề nghị giảm mức
đòi bồi thường của người bị hại.
Nếu bảo vệ cho người bị hại: Luật sư phải chuẩn bị và nghiên cứu kỹ các tài
liệu, chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo và các tài liệu thể hiện yêu
cầu đòi bồi thường thiệt hại của thân chủ. Đó là các lời khai nhận tội của bị cáo,
những lời khai của bị cáo chối tội nhưng rất mâu thuẫn với các chứng cứ khác
của vụ án; Những lời khai buộc tội bị cáo của người làm chứng, người bị hại;
Các tài liệu về chứng thương, giám định; Các tài liệu xác định vật chứng của vụ
án cũng như các tài liệu chứng minh yêu cầu bồi thường thiệt hại như chứng từ,
hoá đơn, biên nhận…
* Các tài liệu, chứng cứ mới được bổ sung trong hồ sơ vụ án sau khi xét xử sơ
thẩm và vụ án đã được chuyển lên Tòa án cấp phúc thẩm: Bao gồm cả các tài
liệu, chứng cứ Luật sư hoặc các bên “đối tụng” thu thập được và đã xuất trình
chính xác. Việc làm rõ trách nhiệm hình sự của bị cáo có thể theo hướng đề nghị
tăng nặng trách nhiệm hình sự như yêu cầu xét xử theo khung hình phạt khác
nặng hơn, trả hồ sơ điều tra bổ sung để truy tố theo tội danh khác nặng hơn…
nếu thấy cáo trạng truy tố không đúng. Nhưng cũng có thể bảo vệ theo hướng
công nhận cáo trạng truy tố đúng người, đúng tội nên bị cáo phải bồi thường cho
người bị hại. Nếu bảo vệ cho nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án thì Luật sư chuẩn bị hướng bảo vệ về dân sự
cho họ.
Cần lưu ý rằng , việc xác định hướng bào chữa/bảo vệ tại giai đoạn xét xử phúc
thẩm phụ thuộc vào nội dung, yêu cầu kháng cáo kháng nghị. Tùy vào diễn biến
trong quá trình giải quyết tại giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm và diễn biến
7
tại phiên tòa phúc thẩm, nếu không có các tình tiết, chứng cứ mới có thể làm
thay đổi tính chất, nội dung vụ án, thì đòi hỏi hướng bào chữa và kết luận trong
Bản luận cứ/bảo vệ phải thống nhất với các nội dung đã đề xuất trong đơn kháng
cáo của Khách hàng (trong trường hợp có xuất hiện các tình tiết, chứng cứ mới
có thể làm thay đổi tính chất, nội dung vụ án có lợi cho Khách hàng, thì Luật sư
có thể sửa đổi nội dung đề xuất trong Bản luận cứ/bảo vệ cho phù hợp), đồng
thời nội dung đề xuất trong Bản luận cứ bào chữa/bảo vệ phải trong phạm vi
thẩm quyền quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm quy định tại Khoản 2 Điều
248 Bộ Luật tố tụng hình sự.
Ví dụ:
- Nếu tại cấp sơ thẩm Luật sư đã bào chữa cho bị cáo theo hướng vô tội nhưng
không được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận hoặc được Tòa án cấp sơ thẩm chấp
nhận nhưng sau đó lại bị Viện Kiểm sát kháng nghị đề nghị xét xử lại theo
hướng có tội, thì tại giai đoạn xét xử phúc thẩm Luật sư cần thống nhất với
Khách hàng/bị cáo kháng cáo kêu oan, đồng thời Luật sư chuẩn bị Bản luận cứ
bào chữa theo hướng vô tội đồng thời đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy án sơ
thẩm và đình chỉ việc giải quyết vụ án.
- Nếu tại cấp sơ thẩm Luật sư đã bào chữa theo hướng giảm nhẹ nhưng không
đến quyền lợi của Khách hàng, thì nội dung Bản luận cứ/bảo vệ trong giai đoạn
xét xử phúc thẩm chỉ đòi hỏi phải tập trung vào những nội dung kháng cáo,
kháng nghị có liên quan đến quyền lợi của Khách hàng.
Về cơ cấu của bản Luận cứ bào chữa/bảo vệ trong giai đoạn xét xử phúc thẩm
được thiết kế giống như bản Luận cứ bào chữa/bảo vệ nói chung, bao gồm 3
phần chính là: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận đề xuất.
* Phần mở đầu:
- Luật sư tự giới thiệu
9
- Nêu lý do tham gia phiên toà
* Phần nội dung:
Trong phần nội dung, đòi hỏi Luật sư phải trình bày được các nội dung cơ bản
và theo các thứ tự sau:
+ Tóm tắt sơ lược nội dung của vụ án theo quan điểm của Luật sư;
+ Tóm tắt nội dung truy tố của Viện Kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm (về tội danh,
mức hình phạt, mức bồi thường mà Viện Kiểm sát đã đề nghị);
+ Tóm tắt nội dung nhận định và quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm (về tội
danh, mức hình phạt, mức bồi thường);
+ Tóm tắt nội dung Kháng cáo/kháng nghị.
+ Đưa ra quan điểm giải quyết của Luật sư, trong đó Luật sư đưa ra ý kiến đồng
tình với những điểm có lợi và phản bác các điểm bất lợi trong bản án, quyết định
của Tòa án cấp sơ thẩm và/hoặc yêu cầu kháng nghị của Viện Kiểm sát và/hoặc
kháng cáo của người khác, nhằm bảo đảm quyền lợi cho Khách hàng. Thông
thường phần quan điểm giải quyết của Luật sư được cấu trúc thành hai phần như
sau:
- Luật sư đưa ra các chứng cứ, căn cứ và phân tích lập luận, chỉ ra các
điểm bất cập, mâu thuẫn, thiếu căn cứ của phía “đối tụng”, những vi phạm
nghiêm trọng thủ tục tố tụng của các Cơ quan Nhà nước …nhằm chứng minh
việc giải quyết của tòa án cấp sơ thẩm đối với thân chủ của Luật sư là không
đúng, xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ;
hoạt động này sẽ quyết định tới sự thành công hay thất bại của Luật sư khi tham
gia phiên tòa xét xử.
11
Trên đây là một số các nghiên cứu sơ lược của tôi về vấn đề kỹ năng của Luật sư
trong việc chuẩn bị bản luận cứ bào chữa/bảo vệ cho thân chủ trong giai đoạn
xét xử phúc thẩm vụ án hình sự.
Do vốn kiến thức còn nhiều hạn chế, do đặc thù của công việc nên thời gian khá
hạn hẹp, chắc chắn bài viết còn nhiều sai xót, vậy kính mong Quý thầy cô và các
bạn đồng nghiệp đóng góp ý kiến để bài viết của tôi được tốt hơn.
12