BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGÔ THỊ NGỌC VÂN
HOẠT ĐỘNG BÀO CHỮA CỦA LUẬT SƯ TRONG
GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
Chuyên ngành : Luật Hình sự và tố tụng hình sự
Mã số
: 62 38 01 04
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2016
Công trình được hoàn thành tại:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS NGUYỄN VĂN HUYÊN
2. TS. PHAN THANH MAI
Phản biện 1: PGS.TS. Hồ Trọng Ngũ
Phản biện 2: TS. Nguyễn Ngọc Chí
Phản biện 3: TS. Nguyễn Đức Phúc
hiệu quả. Tuy nhiên, hoạt động bào chữa của Luật sư thời gian qua còn nhiều
bất cập, hạn chế. Nguyên nhân của các bất cập, hạn chế đó là do bất cập
trong quy định của pháp luật cũng như nhận thức và tổ chức thực hiện hoạt
động bào chữa trên thực tế. Trong quá trình tham khảo các tài liệu có liên
quan, nghiên cứu sinh nhận thấy mới chỉ có các công trình nghiên cứu ở cấp
độ thạc sỹ, tiến sỹ, đề tài khoa học cấp cớ sở, cấp Bộ, các bài viết viết trên
các tạp chí chuyên ngành của các nhà khoa học, những người làm công tác
thực tiễn về vai trò của người bào chữa trong tố tụng hình sự nói chung hoặc
vấn đề bảo đảm quyền con người, quyền của bị can, bị cáo …hay chỉ đề cập
đến khía cạnh hẹp của vấn đề mà chưa có công trình nào nghiên cứu một
cách trực diện, chuyên sâu về vấn đề hoạt động thực tế của luật sư đặc biệt
là hoạt động bào chữa của luật sư. Vì vậy, việc nghiên cứu làm rõ các vấn
đề lý luận liên quan đến hoạt động bào chữa của Luật sư trong xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự; đánh giá thực trạng hoạt động bào chữa của luật sư
trong giai đoạn này và đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động bào
chữa của Luật sư có ý nghĩa quan trọng cả trên phương diện lý luận và
phương diện thực tiễn.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu Đề tài “Hoạt động bào chữa của luật sư trong
giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự” là trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề
2
lý luận, quy định của pháp luật và thực tiễn về hoạt động bào chữa của Luật
sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, đưa ra những kiến nghị hoàn
thiện quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động bào chữa và các giải
pháp bảo đảm, nâng cao chất lượng hoạt động bào chữa của Luật sư trong tố
tụng hình sự.
Với mục đích đó, Đề tài nghiên cứu đặt ra các nhiệm vụ sau:
Vấn đề thực trạng hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự, luận án sẽ đánh giá thông qua việc nghiên cứu, tổng kết
các vụ án đã xét xử sơ thẩm có sự tham gia của luật sư bào chữa từ năm 2005-
3
2014 và hoạt động thực tế của luật sư bào chữa ở một số tỉnh, thành phố trên cơ
sở báo cáo của LĐLS Việt Nam, của VKSNDTC, TANDTC, phiếu khảo sát và
các thông tin, tài liệu khác.
4. Phương pháp nghiên cứu
Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng của triết học
Mác - Lê nin; quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quyền con người,
về vấn đề cải cách tư pháp và về xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do
dân, vì dân làm phương pháp luận cho việc nghiên cứu. Tác giả chú trọng sử
dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học phù hợp với nội dung nghiên
cứu. Cụ thể:
- Sử dụng phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp trong tất cả các
chương của luận án để làm rõ các vấn đề về lý luận, thực trạng và giải pháp.
- Sử dụng phương pháp so sánh khi nghiên cứu vấn đề tổng quan tình
hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước liên quan đến luận án; so sánh
với các chuẩn mực quốc tế; đánh giá tình hình luật sư tham gia bào chữa;
đánh giá thực trạng hoạt động bào chữa của luật sư.
- Sử dụng phương pháp thống kê khi tổng hợp các số liệu liên quan đến
luật sư tham gia bào chữa trong các vụ án hình sự; khảo sát, phỏng vấn đối
với các luật sư đang hành nghề, người tiến hành tố tụng đánh giá về chất
lượng hoạt động bào chữa của luật sư.
5. Những điểm mới của luận án
- Luận án làm rõ những vấn đề lý luận về hoạt động bào chữa của luật sư
như xây dựng khái niệm hoạt động bào chữa, chỉ ra các đặc điểm và ý nghĩa,
Chương 3: Cơ sở pháp lý và thực trạng hoạt động bào chữa của luật sư
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Chương 4: Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động bào chữa của luật
sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Ngoài 4 chương chính nêu trên, luận án còn bao gồm phần mở đầu, kết
luận và danh mục tài liệu tham khảo.
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI
Trên diễn đàn nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước, có không ít
bài báo, công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài đề cập đến quyền
bào chữa và quyền có NBC. Những tác phẩm nổi bật, đáng chú ý bao gồm:
sách “ Brownlie’s document on the man right” của tác giả Lan Brownlie,
GuyS.Goodwin -Grill năm 2010; sách “Toward an international criminal
procedure” của tác giả Christoph Saffeling năm 2003; bài viết “Basic
principles on the role of lawyers” của tác giả Adam Paker năm 2008; bài viết
“Quá trình phát triển luật hình sự ở Hoa Kỳ” của GS.JamesB.Jacobs,
Warren.E.Burger tại tạp chí điện tử của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ năm 2001.
Ngoài ra, có một số nghiên cứu có liên quan đến quyền tố tụng của người bị
buộc tội được tiếp cận ở góc độ pháp luật quốc tế về bảo đảm quyền con
người, trong đó bao gồm các nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Thanh Nga về
quyền của người chưa thành niên bị buộc tội quy định trong Công ước về
Quyền trẻ em ví dụ/; “Developments in the Right to Defence for Juvenile
Offenders since Vietnam’s Ratification of the Convention on the Rights of
the Child” trên tạp chí East Asia Law Review (2014) and “Juvenile Offenders
in Vietnam and the Right to Defence” trên tạp chí Youth Justice.
5
còn khá khiêm tốn, đặc biệt chưa có nghiên cứu nào được thực hiện dưới góc
độ so sánh pháp luật. Ở Việt Nam, các nghiên cứu có liên quan đến quyền
bào chữa và bảo đảm quyền có NBC như: “nghiên cứu QBC trong pháp luật
TTHS và thực tiễn tại Việt Nam” do nhóm nghiên cứu Nguyễn Hưng Quang
và cộng sự năm 2012; Luận văn thạc sỹ “Thực hiện pháp luật về quyền bào
chữa của bị can, bị cáo ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Tường Vi; luận án
tiến sỹ “Bảo đảm quyền có người bào chữa của người bị buộc tội - So sánh
giữa luật tố tụng hình sự Việt Nam, Mỹ và Đức” của tác giả Lương Thị Mỹ
Quỳnh; cuốn “Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội” của tác giả
Phạm Hồng Hải xuất bản năm 1999; cuốn“Địa vị pháp lý và mối quan hệ
của người bào chữa với bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự” của tác giả
6
Nguyễn Văn Tuân năm 2003….
Những công trình khoa học nghiên cứu lý luận về chức năng của TTHS,
trong đó có chức năng gỡ tội cũng góp phần quan trọng trong việc nghiên
cứu đề tài luận án. Có thể kể đến các công trình nghiên cứu như “Mô hình
TTHS Việt Nam” do VKSNDTC chủ trì soạn thảo trong Đề án về Mô hình
TTHS Việt Nam; Luận án tiến sĩ “Các chức năng trong TTHS Việt Nam Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Mạnh Hùng, năm
2012; bài viết “Phân định rành mạch các chức năng cơ bản của TTHS: Buộc
tội, bào chữa và xét xử” của tác giả Hà An.
Các nghiên cứu về thủ tục, phương thức thực hiện các hoạt động tố
tụng, trong đó có hoạt động bào chữa của luật sư cũng là những nghiên cứu
liên quan đến đề tài luận án, đặc biệt là các nghiên cứu về tranh tụng. Có thể
kể đến luận án tiến sĩ “Nguyên tắc tranh tụng trong TTHS Việt Nam - những
vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Văn Hiển, năm 2010; bài
viết “Một số vấn đề về tranh tụng trong TTHS” của tác giả Lê Tiến Châu, tạp
chí Khoa học pháp lý số 1, năm 2003; bài Nguyên tắc tranh tụng trong hệ
tòa xét xử”; bài viết “Thực trạng hoạt động của luật sư - Người bào chữa qua
hơn một năm thì hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003” trên Tạp chí kiểm sát
số 24 (12-2005) của PGS.TS. luật sư Phạm Hồng Hải; trên Tạp chí Dân chủ và
Pháp luật (Số 5 - 2008), ThS. Nguyễn Văn Trượng, Tòa án Quân sự Trung
ương có bài viết “Bàn về việc bảo đảm quyền bình đẳng của luật sư bào chữa
khi tham gia tranh tụng tại phiên tòa hình sự”; năm 2009, ThS. Lê Văn Thảo,
Đại học Vinh có bài viết “Coi trọng hoạt động nghề nghiệp của luật sư và
phiên tòa tranh tụng nhằm nâng cao chất lượng xét xử các vụ án hình sự ở
nước ta hiện nay” trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Số 4 - 2009).
Bàn về các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động của luật sư bào
chữa, bài viết “Thực trạng quy định của pháp luật về hoạt động tham gia tố
tụng của luật sư với tư cách là người bào chữa và hướng hoàn thiện” trên
Tạp chí Tòa án nhân dân (kỳ II, tháng 4/2012, số 08) của ThS. Vũ Huy
Khánh, Vụ Pháp chế, Bộ Công an; ThS. Thẩm phán Nguyễn Hữu Chính, Phó
Chánh án, TAND Tp.Hà Nội có bài viết “Những thuận lợi, khó khăn đối với
hoạt động hành nghề luật sư trong giai đoạn xét xử tại Tòa án và một số giải
pháp hoàn thiện” trên Tạp chí Tòa án nhân dân, kỳ II tháng 9/2012 (số 18);
ThS. Đào Thị Nga, Phó Chánh tòa - Tòa phúc thẩm TANDTC tại HN và ThS.
Nguyễn Trí Chinh, Trưởng phòng TKTH - Tòa phúc thẩm TANDTC tại HN
đã có bài viết “Hoạt động của luật sư trong giai đoạn xét xử” trên Tạp chí
Tòa án nhân dân, kỳ I tháng 10/2012 (số 19); đầu năm 2012, TS. Lê Hữu Thể,
Phó Viện trưởng VKSNDTC và Ths Lê Thị Thủy, VKSNDTC có bài viết
“Hoàn thiện chế định người bào chữa trong Bộ luật TTHS năm 2003 đáp ứng
các yêu cầu cải cách tư pháp” công bố trong tài liệu Hội thảo quốc tế về Bộ
luật TTHS năm 2003 và quyền của luật sư bào chữa; tài liệu tại Hội thảo quốc
tế về Bộ luật TTHS năm 2003 và quyền của luật sư bào chữa năm 2012, Luật
sư Nguyễn Huy Thiệp, Phó CN Đoàn luật sư Tp.HN công bố bài viết “Hoàn
thiện các quy định của bộ luật TTHS năm 2003 về bảo đảm quyền bào chữa
của luật sư”. Bên cạnh những bài viết có liên quan khá mật thiết đến luận án
của các tác giả nêu trên, đã có một số công trình đăng tải trên các tạp chí có tính
Nhà nước và pháp luật, số 12/2010; bài “Về sự tham gia của người bào chữa
vào quá trình TTHS theo BLTTHS năm 2003” của Nguyễn Duy Hưng, Tạp
chí Khoa học pháp lý, số 3/2004. Những nghiên cứu của các nhà khoa học về
thực trạng hoạt động bào chữa có thể kể đến một số bài như bài “Người bào
chữa trong vụ án hình sự” của TS. Nguyễn Mai Bộ, tạp chí Nhà nước và
pháp luật, số 2/1999; và bài “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc
thực thi các quy định của pháp luật nhằm đảm bảo quyền của luật sư trong
quá trình tham gia TTHS, dân sự” củaTS. Phan Trung Hoài, Tạp chí Kiểm
sát, số 4/2007; “Thực trạng hoạt động của luật sư - người bào chữa qua hơn
một năm thi hành Bộ luật TTHS; LĐLS Việt Nam cũng đã tổ chức những
Hội thảo khoa học nghiên cứu hoạt động bào chữa của luật sư như hội thảo
“Cải cách tư pháp và phòng chống oan sai trong hoạt động tố tụng” tổ chức
tại Hà Nội ngày 2-3/11/2009; Hội thảo “Hoàn thiện các quy định của
BLTTHS năm 2003 về bảo đảm quyền bào chữa và quyền hành nghề của luật
sư” tổ chức trong hai ngày 29 và 30/03/2012 tại Hà Nội.
1.3. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ
TÀI LUẬN ÁN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
1.3.1. Về khái niệm, đặc điểm, nội dung và ý nghĩa của hoạt động
bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
9
Phần lớn các công trình khoa học đã công bố đều chưa đưa ra được
khái niệm hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự cũng như làm rõ đặc điểm, nội dung, ý nghĩa của hoạt động này.
Nhiều công trình mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu và xây dựng khái niệm
quyền bào chữa, người bào chữa và làm rõ vai trò của người bào chữa hay
luật sư. Việc nghiên cứu nội hàm hoạt động bào chữa chưa được chú trọng,
giá xác đáng về thực trạng hoạt động bào chữa của luật sư thông qua đánh
giá các công việc, thao tác nghề nghiệp mà luật sư thực hiện trên thực tế.
Bởi vậy, luận án sẽ tập trung làm rõ cơ sở pháp lý của hoạt động bào chữa
của luật sư, đánh giá việc thực hiện hoạt động này trên nền quy định của
10
BLTTHS năm 2003 và quy định mới của BLTTHS năm 2015 (có hiệu lực
vào ngày 1/7/2016); làm rõ thực trạng hoạt động bào chữa của luật sư
trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình
sự, từ đó chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động bào chữa
của luật sư nói chung và trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói
riêng. Do đó, nội dung đánh giá thực trạng hoạt động bào chữa của luật sư
trong luận án sẽ không trùng lặp với phần viết của các công trình đã công
bố vì đề cập tới thực trạng hoạt động bào chữa cụ thể của luật sư trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Luận án sẽ tiếp thu những điểm có liên
quan trong các công trình đã công bố để làm giàu thêm nguồn tư liệu đánh
giá về thực trạng.
1.3.3. Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động bào chữa của luật
sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Cho tới thời điểm luận án được hoàn thành, các nghiên cứu đã công bố
tập trung chủ yếu vào giải pháp hoàn thiện pháp luật. Đây là nhóm giải pháp
có nhiều điểm tương đồng với những giải pháp được phân tích trong luận án
này. Tuy nhiên, phần lớn các công trình đã công bố chỉ ra một số giải pháp
nhưng thiếu các phân tích sâu về những yếu tố liên quan cần thiết. Những
yếu tố cần được phân tích bao gồm: cơ chế đảm bảo cho các quy định của
pháp luật về quyền của luật sư, các chế tài áp dụng đối với những người có
hành vi cản trở; các hoạt động nâng cao trình độ nghiệp vụ và kỹ năng tranh
tụng cho các luật sư bào chữa, và nâng cao chất lượng hoạt động của người
12
Chương 2
LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG BÀO CHỮA CỦA LUẬT SƯ
TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
2.1. KHÁI NIỆM HOẠT ĐỘNG BÀO CHỮA CỦA LUẬT SƯ TRONG
GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
2.1.1. Hoạt động bào chữa của luật sư
2.1.1.1. Khái niệm hoạt động bào chữa của luật sư
Hoạt động bào chữa của luật sư là các công việc do luật sư tiến hành
trên cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật nhằm loại bỏ một phần hoặc
toàn bộ sự buộc tội từ phía cơ quan điều tra, viện kiểm sát hoặc người bị hại,
tìm ra các căn cứ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người bị buộc tội, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
2.1.1.2. Đặc điểm hoạt động bào chữa của luật sư
Hoạt động bào chữa của luật sư có những đặc điểm cơ bản sau:
- Hoạt động bào chữa của luật sư thể hiện tính chuyên nghiệp, tuân thủ
quy tắc đạo đức, không có khuôn mẫu, dựa vào sự nhạy bén, linh hoạt, năng
động của luật sư, thể hiện ứng xử có văn hóa, tôn trọng người tiến hành và
tham gia tố tụng và thể hiện sự tận tâm bảo vệ cho thân chủ, kiên trì thuyết
phục Hội đồng xét xử nhằm bảo vệ tốt nhất cho thân chủ của mình.
- Hoạt động bào chữa của luật sư còn thể hiện tính độc lập và tự chịu
trách nhiệm cá nhân trước khách hàng về hoạt động nghề nghiệp của mình.
- Hoạt động bào chữa của luật sư phụ thuộc vào thời điểm tham gia tố
tụng và chỉ mang tính đề xuất, kiến nghị, phụ thuộc nhiều vào cơ quan tiến
hành tố tụng.
- Hoạt động bào chữa của luật sư được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc, thủ
tục luật định và quy định của pháp luật về quyền, nghĩa vụ của người bào chữa
hình sự, trong đó Toà án có thẩm quyền tiến hành xem xét, giải quyết vụ án,
ra bản án, quyết định tố tụng theo quy định của pháp luật. Giai đoạn xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự có những đặc trưng cơ bản sau:
- Giai đoạn xét xử sơ thẩm bắt đầu từ khi hồ sơ vụ án cùng bản cáo
trạng của Viện kiểm sát được chuyển sang Toà án có thẩm quyền. Sau khi vụ
án đã được thụ lý, chánh án Toà án phân công thẩm phán (hoặc một nhóm
thẩm phán) nghiên cứu hồ sơ vụ án và tham gia tố tụng tại phiên toà với tư
cách là chủ tọa hoặc thẩm phán xét xử;
- Giai đoạn xét xử sơ thẩm kết thúc khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị;
- Nhiệm vụ của giai đoạn xét xử sơ thẩm là xem xét và giải quyết tất cả
các vấn đề về nội dung vụ án theo quy định của pháp luật, bảo vệ pháp chế xã
hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước; bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp
của công dân;
- Chủ thể cơ bản tiến hành tố tụng trong giai đoạn này là Toà án. Chỉ có
Toà án mới có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Ngoài ra, còn có sự
tham gia của các chủ thể khác theo quy định của pháp luật như kiểm sát viên,
người bào chữa, người bị hại, người làm chứng…
2.1.2.2. Nội dung hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự
Trong thời gian toà án chuẩn bị xét xử, Luật sư đã phải thể hiện tính
năng động, tinh thần trách nhiệm của mình. Cho dù Luật sư đã được mời và
tham gia vào các giai đoạn tố tụng trước đó thì Luật sư vẫn phải nghiên cứu
kỹ hồ sơ, gặp người bị buộc tội (nếu chưa có quyết định đưa vụ án ra xét xử)
để hiểu rõ nội dung vụ án, hiểu được các tình tiết mà Viện kiểm sát cũng như
Cơ quan điều tra trước đó dùng làm chứng cứ buộc tội họ và giúp đỡ họ về
14
mặt pháp lý. Chính trong thời gian nghiên cứu hồ sơ tại Toà án khi chưa có
hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho họ, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp
pháp của người bị buộc tội, góp phần xác định sự thật vụ án.
2.2. Ý NGHĨA HOẠT ĐỘNG BÀO CHỮA CỦA LUẬT SƯ TRONG
GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
2.2.1. Ý nghĩa chính trị, xã hội
- Thực hiện hoạt động bào chữa chính là nhằm thực hiện chủ trương,
chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước về vấn đề bảo đảm quyền con
người, vấn đề cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền.
15
- Góp phần vào việc bảo đảm pháp chế, bảo đảm pháp luật được tôn
trọng và thực thi một cách nghiêm chỉnh, góp phần bảo đảm quyền con người
trong TTHS.
- Góp phần bảo đảm cho công lý được thực thi, bảo đảm việc thực hiện
công bằng, dân chủ trong tố tụng TTHS, không làm oan người vô tội, qua đó
bảo đảm công bằng trong xã hội.
- Giúp những người quan tâm đến việc giải quyết vụ án thấu hiểu
quyền và nghĩa vụ của mình; giúp nhiều công dân hiểu được cái giá phải trả
khi có hành vi vi phạm pháp luật.
2.2.2. Ý nghĩa pháp lý
- Hoạt động bào chữa của luật sự không chỉ là công cụ hữu hiệu để bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội mà còn góp phần quan
trọng trong việc xác định sự thật của vụ án, đảm bảo việc giải quyết vụ án
khách quan, toàn diện, đầy đủ và đúng pháp luật, đảm bảo không làm oan
người vô tội.
- Góp phần tích cực vào việc thực hiện các nhiệm vụ của TTHS đó là
phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý
CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BÀO CHỮA
CỦA LUẬT SƯ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN
HÌNH SỰ
3.1. CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA HOẠT ĐỘNG BÀO CHỮA CỦA LUẬT
SƯ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
3.1.1. Mối quan hệ pháp lý giữa luật sư và bị can, bị cáo trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
3.1.2. Cơ sở pháp lý để luật sư thực hiện hoạt động bào chữa trong
giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Quyền của người bào chữa nói chung, của Luật sư nói riêng được quy
định cụ thể tại điều 56, 57, 58 BLTTHS năm 2003, đồng thời quy định rải rác
trong các điều luật khác tại các chương quy định về trình tự, thủ tục tố tụng.
Những quy định này được hình thành từ các nguyên tắc hiến định và là yếu
tố cấu thành nên chế định người bào chữa trong tố tụng hình sự. Cùng với
các quyền được pháp luật ghi nhận, Luật sư còn có những nghĩa vụ nhất định.
Bên cạnh những điểm tiến bộ của BLTTHS 2003, quy định về chế định
người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam vẫn còn một số bất cập. Pháp
luật đã quy định một số quyền của người bào chữa nhưng lại thiếu các cơ chế
để người bào chữa thực hiện đầy đủ, hiệu quả các quyền mà pháp luật tố
tụng hình sự quy định. Đặc biệt, BLTTHS còn chưa quy định một số
quyền quan trọng làm cơ sở cho hoạt động bào chữa như quyền thu thập
chứng cứ, nếu có khó khăn trong việc thu thập chứng cứ thì cơ quan tiến
hành tố tụng phải hỗ trợ luật sư trong việc thu thập chứng cứ như ra lệnh
triệu tập người làm chứng hay yêu cầu cơ quan, tổ chức chung cấp chứng
cứ, quyền được nhận các quyết định tố tụng liên quan đến người mà luật
sư bào chữa, quyền được chất vấn, đối chất người làm chứng, người bị hại
trong các giai đoạn tố tụng …; một số thủ tục tố tụng hiện hành chưa tạo
điều kiện để luật sư nhanh chóng tiếp cận với quá trình giải quyết vụ án;
pháp luật đã có những quy định về trách nhiệm của các cơ quan tiến hành
bản lấy lời khai … nhằm xác định hành vi của thân chủ có cấu thành tội
phạm hay không, vấn đề yêu cầu giải quyết bồi thường thiệt hại (nếu có)
chưa được thực hiện có hiệu quả.
* Thực trạng hoạt động gặp, trao đổi với bị can, bị cáo của luật sư
Hoạt động gặp, trao đổi với bị can, bị cáo của luật sư vẫn còn những
hạn chế:
- Một số luật sư chưa dự kiến được kế hoạch trao đổi với thân chủ một
cách thoả đáng nên bỏ sót những vấn đề cần phải làm rõ liên quan đến chứng
cứ có lợi cho thân chủ.
- Do thời gian gặp bị can, bị cáo còn hạn chế nên luật sư không thể hỏi
kỹ được các vấn đề đã dự kiến trong kế hoạch trao đổi.
- Có những trường hợp luật sư đặt nhiều câu hỏi đa nghĩa, sử dụng từ
địa phương khiến thân chủ khó trả lời hoặc trả lời không đúng trọng tâm, trả
lời thiếu nhưng luật sư không phát hiện ra.
* Thực trạng hoạt động thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến
việc bào chữa của luật sư
Trên thực tế, hoạt động thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến
việc bào chữa của luật sư vẫn còn những vướng mắc nhất định như: không ít
18
trường hợp luật sư chưa xác định được cụ thể tài liệu muốn thu thập; việc
chuẩn bị kế hoạch thu thập thông tin chưa cụ thể, cách thức thu thập chưa
phù hợp với đối tượng có khả năng cung cấp thông tin; việc thu thập tài liệu
từ phía các cơ quan tổ chức có liên quan rất khó khăn.
* Thực trạng hoạt động đề xuất với Tòa án của luật sư
Thực tiễn cho thấy, hoạt động đề xuất với toà án của luật sư vẫn còn
những hạn chế. Cụ thể: một số luật sư chưa biết cách soạn thảo văn bản kiến
nghị, đề xuất có tính thuyết phục cả về hình thức và nội dung nên không
HĐXX khi điều khiển phần thủ tục bắt đầu phiên toà; đưa ra đề xuất hoãn
19
phiên toà không phù hợp, thậm chí không đem lại lợi ích cho bị cáo họ bảo
vệ hoặc trường hợp cần đề xuất hoãn phiên toà lại không đề xuất; không đề
nghị cho thân chủ được thực hiện đúng các quyền tố tụng; không phản đối
các đề xuất bất lợi của đại diện viện kiểm sát hay luật sư đối phương.
* Thực trạng hoạt động bào chữa của luật sư trong phần xét hỏi tại
phiên tòa sơ thẩm
Trong thực tế, việc thực hiện hoạt động bào chữa của luật sư trong phần
xét hỏi vẫn tồn tại những hạn chế nhất định bởi một số luật sư chưa thực hiện
tốt hoạt động của mình trong một số trường hợp. Cụ thể: chưa kịp thời giúp đỡ
thân chủ của mình về mặt pháp lý trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố
tụng, bảo vệ thân chủ của mình khỏi những trường hợp dụ cung, mớm cung,
bức cung hoặc những câu hỏi xâm phạm đến nhân phẩm, danh dự của thân chủ
từ phía những người xét hỏi khác …; chưa yêu cầu Chủ toạ phiên toà ngăn chặn
kịp thời các vi phạm thủ tục tố tụng trong xét hỏi của HĐXX, KSV hay của
Luật sư khác; chưa đặt được các câu hỏi để khẳng định về các tình tiết gỡ tội,
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong vụ án; làm rõ các tình tiết thuộc
nhân thân người phạm tội và động cơ, mục đích, hoàn cảnh phạm tội, thái độ
đối với việc phạm tội… có giá trị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
* Thực trạng hoạt động bào chữa của luật sư trong phần tranh luận tại
phiên tòa sơ thẩm
Bên cạnh những luật sư đã thực hiện có hiệu quả hoạt động bào chữa
trong phần tranh luận tại phiên toà, một bộ phận luật sư vẫn còn hạn chế
trong quá trình thực hiện hoạt động này. Cụ thể: chưa có sự chuẩn bị kỹ
lưỡng luận cứ bào chữa (dù là sơ bộ) để sử dụng khi cần thiết tại toà; chưa
linh hoạt trong việc kịp thời bổ sung những tình tiết có lợi tại toà vào luận cứ
chủ động thu thập chứng cứ của luật sư khi cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên
quan không cung cấp; chưa quy định rõ trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố
tụng trong việc thông báo, tống đạt cho người bào chữa các quyết định, văn
bản tố tụng liên quan đến quyền và lợi ích của người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo mà họ bào chữa, cũng như các văn bản về sự thay đổi trình tự tố tụng
hình sự; không quy định các trường hợp luật sư được chủ động đề xuất người
làm chứng, chứng cứ cũng như triệu tập những người có liên quan khác có
mặt tại toà nếu không được sự chấp thuận của toà án…. ; quy định người bào
chữa được tham gia vào các hoạt động điều tra khác là chưa cụ thể; chưa quy
định rõ ràng, cụ thể quyền sao chụp hồ sơ, tài liệu vụ án ở các giai đoạn tố
tụng của người bào chữa; quy định người bào chữa chỉ được hỏi người bị
tạm giữ, bị can nếu Điều tra viên đồng ý đã hạn chế quyền của người bào
chữa vì phụ thuộc nhiều vào quan điểm chủ quan của Điều tra viên; chưa
quy định rõ trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng (Điều tra viên,
Kiểm sát viên..) phải thông báo về thời gian, địa điểm hỏi cung để luật sư
tham dự thực hiện quyền bào chữa; chưa có quy định về thủ tục người bào
chữa gặp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; quyền người bào chữa được gặp
riêng người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong các giai đoạn tố tụng, được bảo
mật thông tin trao đổi giữa luật sư và người được bào chữa, không bị hạn chế
số lần gặp, thời gian gặp, không bị kiểm soát về nội dung cuộc trao đổi mà
chỉ kiểm soát về tầm nhìn; bảo đảm quyền gặp gỡ, thông tin liên lạc với
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, bị án và người bào chữa; trách nhiệm Cơ
quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và cơ quan giam giữ có nghĩa vụ bảo
đảm các cuộc gặp mặt và việc thông tin liên lạc giữa người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo, bị án với người bào chữa của họ một cách riêng tư và độc lập; chưa có
quy định về quyền miễn trừ trách nhiệm hình sự và dân sự của người bào
chữa; chưa quy định trách nhiệm của cơ quan và người tiến hành tố tụng phải
tôn trọng kết quả bào chữa; xem xét các tài liệu, đồ vật do bên bào chữa cung
không đồng đều ở các địa phương không đáp ứng nhu cầu bào chữa ở nhiều
tỉnh, nhất là ở vùng sâu, vùng xa.
3.3.2.2. Từ phía cơ quan tiến hành tố tụng
- Cơ quan tiến hành tố tụng còn gây khó khăn, không tạo điều kiện để
luật sư thực hiện các quyền bào chữa theo quy định của pháp luật, nhận thức
của người tiến hành tố tụng về hoạt động bào chữa của luật sư chưa đúng đắn,
trình độ chuyên môn nghiệp vụ của người tiến hành tố tụng chưa đồng đều.
- Phẩm chất đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của các chủ thể tiến hành
tố tụng còn nhiều hạn chế.
- Trong quá trình tham gia tố tụng và liên quan đến việc hành nghề,
nhiều luật sư bị xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự,
22
LĐLSVN đã can thiệp rất mạnh mẽ, kiên quyết nhưng nhiều vụ việc không
được Cơ quan tố tụng khẩn trương làm rõ, khiến cho quyền hành nghề của
luật sư bị ảnh hưởng, giảm sút sự tin cậy của xã hội đối với vị trí, vai trò của
đội ngũ luật sư.
3.3.2.3. Tuyên truyền giáo dục pháp luật
Trên thực tế, hoạt động tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật chưa
thực sự hiệu quả. Bởi lẽ, một số cơ quan, tổ chức có thẩm quyền chưa nhận
thức đầy đủ về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của hoạt động này; chưa chủ
động, tích cực trong tổ chức thực hiện; chưa linh hoạt trong việc tìm kiếm
các mô hình, phương pháp, cách làm phù hợp với điều kiện của địa phương;
lực lượng thực hiện công tác phổ biến giáo dục pháp luật chủ yếu là kiêm
nhiệm nên chưa chuyên tâm với công việc.
Kết luận chương 3
Hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự đã thực sự mang lại hiệu quả không chỉ đối với bị can, bị cáo họ bảo
quyền của người bào chữa về đọc, sao chụp hồ sơ vụ án; quy định về cơ chế
bảo đảm thực hiện các quyền của người bào chữa và chế tài cần thiết đối với
cơ quan, người tiến hành tố tụng có hành vi vi phạm; xây dựng chế tài
nghiêm ngặt để ràng buộc trách nhiệm cá nhân của người bào chữa ...
BLTTHS cũng cần quy định luật sư bào chữa phải được có mặt trong lần lấy
lời khai đầu tiên của người bị tạm giữ hoặc bị can để đảm bảo tính khách
quan, chính xác của lời khai;
- Thứ hai: bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, thực hiện các
quyền tư pháp; quy định trách nhiệm thông báo của người tiến hành tố tụng
đối với các đối tượng thực hiện quyền bào chữa;
- Thứ ba: quy định trách nhiệm, chế tài cụ thể của Đoàn luật sư, Văn
phòng luật sư trong việc không cử người bào chữa sau khi cơ quan tiến hành
tố tụng đã yêu cầu; bổ sung những trường hợp bắt buộc phải có người bào
chữa; trách nhiệm của Nhà nước trong việc hỗ trợ chi phí cho người bào
chữa trong các trường hợp bắt buộc và trường hợp người bào chữa có mặt
trong lần đầu tiên lấy lời khai của người bị tạm giữ hoặc bị can.
4.3. CÁC GIẢI PHÁP KHÁC
4.3.1. Đối với đội ngũ luật sư
Xây dựng đội ngũ Luật sư theo hướng nắm vững luật pháp, giỏi về
chuyên môn nghiệp vụ, có đạo đức nghề nghiệp, đáp ứng nhu cầu bảo vệ
chân lý khách quan trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền; nhanh
chóng xây dựng đội ngũ Luật sư với số lượng và chất lượng cao nhằm đáp
ứng yêu cầu tham gia bào chữa đối với tất cả các vụ án không chỉ ở những
thành phố lớn như hiện nay. Luật sư bào chữa tại phiên toà phải được coi như
một bên tranh tụng thực sự bình đẳng với cơ quan công tố; cần tăng cường
công tác đào tạo và rèn luyện phẩm chất đạo đức của đội ngũ Luật sư, nâng
cao chất lượng các khoá đào tạo nguồn luật sư đặc biệt chú trọng đào tạo về
kỹ năng hành nghề nói chung và kỹ năng tranh tụng tại phiên toà nói riêng và
tạo điều kiện để Luật sư được thử thách trong thực tiễn; thu hút chuyên gia