BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGÔ THỊ NGỌC VÂN
HOẠT ĐỘNG BÀO CHỮA CỦA LUẬT SƯ
TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
Chuyên ngành
: Luật Hình sự và tố tụng hình sự
Mã số
: 62 38 01 04
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS NGUYỄN VĂN HUYÊN
2. TS. PHAN THANH MAI
HÀ NỘI - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu nêu trong luận án là trung thực. Những kết luận khoa
thẩm vụ án hình sự
2.2. Ý nghĩa hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự
Kết luận chương 2
30
30
59
65
Chương 3: CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BÀO
CHỮA CỦA LUẬT SƯ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ
THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
3.1. Cơ sở pháp lý của hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự
3.2. Thực trạng hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự
3.3. Nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động bào chữa của luật sư
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Kết luận chương 3
67
67
82
110
125
Chương 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG BÀO
CHỮA CỦA LUẬT SƯ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ
:
:
:
Bộ luật Tố tụng hình sự
Cơ quan điều tra
Hội đồng xét xử
NBC
LĐLSVN
TA
:
:
:
Người bào chữa
Liên đoàn Luật sư Việt Nam
Toà án
TANDTC
:
Toà án nhân dân tối cao
TTHS
:
5/2014
Biểu đồ 3.4:
82
84
Số vụ án luật sư tham gia bào chữa theo yêu cầu của cơ quan
tiến hành tố tụng
84
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, đặc biệt sau khi ban hành Hiến pháp năm 2013,
vấn đề mở rộng dân chủ, tăng cường pháp chế để bảo vệ có hiệu quả các quyền con
người, các quyền công dân càng trở nên cấp bách và trở thành nhiệm vụ của toàn xã
hội. Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền trong đó có hệ thống pháp luật hoàn
chỉnh và những điều kiện kinh tế, chính trị xã hội thuận lợi là mục tiêu của cách
mạng trong giai đoạn hiện nay. Mặc dù Đảng và Nhà nước rất quan tâm tới nhiệm
vụ thúc đẩy quá trình dân chủ hoá mọi mặt của đời sống xã hội, bảo vệ các quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân song sự vi phạm tới các quyền con người, đặc biệt
trong lĩnh vực tố tụng hình sự vẫn đang là vấn đề nhức nhối. Để đẩy mạnh công tác
tư pháp cho ngang tầm nhiệm vụ trong thời kỳ mới, ngày 02/01/2002, Bộ Chính trị
Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam đã ra Nghị quyết số 08/NQTW về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới. Nghị quyết
đã chỉ ra những quan điểm chỉ đạo như “bảo đảm tranh tụng với Luật sư, người bào
chữa và những người tham gia tố tụng khác...”, “ các cơ quan tư pháp có trách
giám sát tốt nhất các hoạt động của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án; đấu
tranh với những hành vi sai trái để bảo vệ mục đích cuối cùng của quá trình tố tụng
hình sự là giải quyết vụ án một cách khách quan, chính xác, đúng người, đúng tội và
đúng pháp luật. Bên cạnh đó, Luật sư bào chữa có nghĩa vụ sử dụng mọi biện pháp
luật định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định bị can, bị cáo không có tội, những
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị can, bị cáo... Hoạt động bào chữa của
Luật sư cũng góp phần giúp các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án một cách
nhanh chóng, chính xác, hợp tình, hợp lý; giúp Toà án cân nhắc, xem xét để đưa ra
phán quyết có sức thuyết phục và nâng cao hiệu quả của pháp luật tố tụng hình sự.
Tuy nhiên, thực trạng thi hành các quy định của BLTTHS về sự tham gia của luật
sư bào chữa trong tố tụng hình sự nói chung và trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự nói riêng vẫn còn nhiều bất cập, vướng mắc. Khó khăn đầu tiên khiến
hoạt động bào chữa của luật sư bị cản trở đó là thủ tục cấp gấy chứng nhận người
bào chữa của Tòa án, tiếp đó là việc xác định quyền và lợi ích của các bị can, bị cáo
không đối lập nhau thường không rõ ràng dẫn đến trường hợp luật sư buộc phải,
hoặc bị từ chối tham gia bào chữa; luật sư không được tòa án thông báo về quyết
định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, thâm chí có trường hợp quyết định nói trên còn
đóng dấu “mật ” khiến luật sư khó nắm bắt được nội dung; vấn đề tiếp xúc bị cáo tại
phiên tòa chưa thuận tiện khi cán bộ dẫn giải luôn yêu cầu sự đồng ý của chủ tọa
phiên tòa… BLTTHS không quy định các trường hợp luật sư được quyền chủ động
đề xuất người làm chứng cũng như triệu tập những người liên quan khác có mặt tại
phiên tòa nếu không được sự chấp thuận của tòa án; các quy định về sự có mặt của
người bào chữa chưa rõ ràng nên trên thực tế nhiều HĐXX tùy tiện trong việc quyết
định xét xử nếu người bào chữa vắng mặt…
Hoạt động bào chữa của Luật sư thời gian qua còn nhiều bất cập, hạn chế.
Nguyên nhân của các bất cập, hạn chế đó là do bất cập trong quy định của pháp luật
3
cũng như nhận thức và tổ chức thực hiện hoạt động bào chữa trên thực tế. Việc
quy định của pháp luật và thực tiễn về hoạt động bào chữa của Luật sư trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, đưa ra những kiến nghị hoàn thiện quy định của
pháp luật liên quan đến hoạt động bào chữa và các giải pháp bảo đảm, nâng cao
chất lượng hoạt động bào chữa của Luật sư trong tố tụng hình sự.
4
Với mục đích đó, Đề tài nghiên cứu đặt ra các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ vấn đề lý luận về hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn
xét xử sơ thẩm vụ án hình sự như: xây dựng khái niệm hoạt động bào chữa của
luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, nội dung hoạt động bào chữa,
đặc điểm, mục đích và ý nghĩa của hoạt động này.
- Làm rõ cơ sở pháp lý và thực trạng hoạt động bào chữa của Luật sư trong
giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự (những kết quả đạt được, hạn chế, vướng
mắc, nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc).
- Kiến nghị các giải pháp cụ thể nhằm bảo đảm và nâng cao chất lượng hoạt
động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận
về hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự,
quy định pháp luật liên quan đến hoạt động bào chữa của luật sư, thực trạng hoạt
động bào chữa của luật sư trong giai đoạn này.
Phạm vi nghiên cứu: tập trung làm rõ khái niệm hoạt động bào chữa của
luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, cở sở pháp lý, nội dung, đặc
điểm và ý nghĩa của hoạt động này; làm rõ sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về
hoạt động bào chữa của luật sư và những phương hướng, yêu cầu đặt đối với việc kiến
nghị hoàn thiện pháp luật và các giải pháp khác. Luận án nghiên cứu nội dung hoạt
động bào chữa và thực trạng của hoạt động này trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự và tại phiên toà sơ thẩm (không nghiên cứu hoạt động bào chữa của luật sư
trong một số trường hợp đặc thù như bào chữa cho người chưa thành niên, theo thủ tục
chữa của luật sư.
5. Những điểm mới của luận án
- Luận án làm rõ những vấn đề lý luận về hoạt động bào chữa của luật sư như
xây dựng khái niệm hoạt động bào chữa, chỉ ra các đặc điểm và ý nghĩa, nội dung
của hoạt động này trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
- Chỉ rõ những bất cập trong các quy định của pháp luật tố tụng hình sự và
pháp luật về hành nghề luật sư ảnh hưởng đến hoạt động bào chữa của luật sư.
- Làm rõ thực trạng hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự và nguyên nhân của những bất cập, hạn chế của hoạt động bào
chữa của luật sư trong giai đoạn này.
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm thực hiện và nâng cao
chất lượng hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của Luận án có thể bổ sung lý luận về hoạt động bào
chữa của luật sư nói chung và trong giai đoạn xét xử sơ thẩm nói riêng. Luận án sẽ
là nguồn tư liệu có ý nghĩa để các cá nhân, cơ quan hữu quan tham khảo, nghiên
cứu trong quá trình sửa đổi, bổ sung BLTTHS, Luật Luật sư; là nguồn tài liệu để
biên soạn tài liệu dạy và học cho các cơ sở đào tạo các chức danh tư pháp.
6
7. Kết cấu của luận án
Với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đó đặt ra, luận án có kết cấu như sau:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung
của luận án sẽ gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu.
Chương 2: Lý luận về hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự.
Chương 3: Cơ sở pháp lý và thực trạng hoạt động bào chữa của luật sư trong
cơ bản về vai trò của luật sư trong tố tụng hình sự quốc tế qua việc chỉ ra các quy
định minh bạch về quyền bào chữa và trách nhiệm của Chính phủ trong việc bảo
đảm, bảo vệ quyền bào chữa của người bị buộc tội như được nhanh chóng tiếp cận
với luật sư, được tiếp xúc riêng với luật sư. Bài viết cũng phân tích rõ các quyền của
luật sư khi tham gia bào chữa như quyền có đủ thời gian và phương tiện chuẩn bị
cho việc bào chữa của mình, tranh tụng, tiếp cận đối tượng có liên quan, thu thập
chứng cứ…. Bài viết “Quá trình phát triển luật hình sự ở Hoa Kỳ” của GS. JamesB.
Jacobs, Warren.E.Burger tại tạp chí điện tử của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ năm 2001 đề
cập đến việc bảo vệ quyền con người trong suốt quá trình tố tụng trong đó có quyền
bào chữa, quyền có người bào chữa. Bên cạnh đó, một số nghiên cứu được viết dưới
góc độ so sánh và hầu hết mang tính mô tả pháp luật TTHS các nước. Ngoài ra, có
8
không nhiều các nghiên cứu có liên quan đến quyền tố tụng của người bị buộc tội
được tiếp cận ở góc độ pháp luật quốc tế về bảo đảm quyền con người. Nhìn chung,
những nghiên cứu trên đã cung cấp cho tác giả một khối lượng kiến thức nền tảng
về quyền bào chữa, quyền có người bào chữa trong TTHS quốc tế và một số quốc
gia trên thế giới. Vì vậy, việc nghiên cứu toàn diện về quyền có NBC của người bị
buộc tội cũng như các cơ chế pháp lý bảo đảm quyền trong sự so sánh và đối chiếu
với pháp luật nước ngoài là thực sự cần thiết và có ý nghĩa.
Nghiên cứu lý luận cơ bản về mô hình tố tụng cần kể đến cuốn sách “Tư
pháp hình sự so sánh” của Philip. L. Reichel (bản dịch tiếng Việt - Viện nghiên cứu
Khoa học Pháp lý). Trong cuốn sách này, tác giả đã phân tích đặc điểm và so sánh
các truyền thống pháp luật khác nhau trên thế giới. Tác giả cũng phân tích làm rõ và
so sánh các loại mô hình tố tụng, đặc biệt là mô hình tố tụng kiểm soát tội phạm và
mô hình tố tụng công bằng. Những nghiên cứu cho thấy rằng mặc dù cùng chung
mục đích là tìm ra sự thật, phát hiện và xử lý tội phạm nhưng mỗi truyền thống
pháp luật sử dụng mỗi mô hình tố tụng khác nhau và đặt vấn đề là cách thức nào
được xem là tốt nhất để tìm ra sự thật. Sự khác nhau giữa các mô hình tố tụng tất
cứu về mô hình tố tụng nói trên có những nội dung liên quan đến hoạt động bào
chữa của người bào chữa, trong đó có luật sư. Vì vậy, việc tham khảo các tài liệu
trên giúp cho việc nghiên cứu của tác giả có những hiểu biết cần thiết về các mô
hình tố tụng, trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật hợp lý, phù
hợp với mô hình tố tụng pha trộn mà cải cách tư pháp ở Việt Nam đang hướng tới.
Liên quan đến vấn đề hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự, cuốn sách “Bào chữa trong các vụ án hình sự ở Liên bang
Nga” đăng trên trang web: http://bit.ly/ntMTwq của William Burnham năm 2012,
Giáo sư Luật, có nội dung phân tích quyền của luật sư bào chữa, cụ thể tập trung
vào các vấn đề: Liệt kê các văn bản pháp luật của các nước mà bạn là chuyên gia
quy định về quyền của luật sư bào chữa; đưa ra tỷ lệ phần trăm các vụ án hình sự có
sự tham gia của luật sư bào chữa từ giai đoạn xét xử; chủ thể nào được đại diện cho
bị can, bị cáo trong các vụ án hình sự…. Bài viết phân tích rõ về giai đoạn điều tra:
quy định của Hiến pháp Liên bang Nga (điều 51) quy định về việc bảo vệ chống lại
sự buộc tội bằng việc bảo đảm rằng “không ai có nghĩa vụ khai, làm chứng chống
lại chính anh ta hoặc cô ta, hoặc chống lại vợ hoặc chồng hoặc những người có
quan hệ thân tích với anh ta/cô ta”. Ngoài ra, chuyên gia đi sâu phân tích quy định
của Bộ luật TTHS Liên bang Nga năm 2001 quy định các biện pháp bảo vệ quan
trọng để đảm bảo rằng các quyền này được bảo vệ. Cụ thể là các văn bản pháp luật
này quy định quyền bào chữa của luật sư từ giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng
- ngay từ khi tự do của người bị tình nghi hoặc của bị can bị ngăn chặn bởi các cơ
quan có thẩm quyền.; luật sư không cần thiết phải có sự chấp thuận hoặc cho phép
cụ thể nào ngoài sự thừa nhận của Đoàn luật sư nơi mà luật sư tham gia và có một
lệnh từ tổ chức luật sư ủy quyền cho luật sư đại diện cho khách hàng. Bên cạnh đó,
trong giai đoạn điều tra, người bào chữa có quyền và phải có mặt khi người bị tình
nghi hoặc bị can đưa ra lời khai trước điều tra viên, và thậm chí trước cả giai đoạn
đó. Theo đó, quyền bào chữa được bắt đầu khi một người thực sự bị bắt giữ hoặc
10
sự Trung Quốc”. Bài viết này đã đề cập đến những khó khăn trong công tác xây
dựng Luật Tố tụng hình sự nhằm bảo đảm về mặt pháp lý và tạo bình diện mở rộng
cho sự tham gia tố tụng hình sự của luật sư. Bởi lẽ, công tác bào chữa trong vụ án
hình sự là lĩnh vực hành nghề quan trọng, có những đóng góp đáng kể trong việc
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, bảo vệ sự công bằng trong tư pháp và
11
thúc đẩy xây dựng hệ thống pháp luật hình sự của Trung Quốc. Tác giả đề cập đến
nội dung bản kiến nghị hoàn thiện Luật Tố tụng hình sự của Trung Quốc. Trong đó,
vấn đề bào chữa tại phiên tòa sơ thẩm được đề xuất theo hướng thực hiện chế độ đối
kháng. Cụ thể: Hoàn thiện chế độ làm chứng tại tòa của người làm chứng; hoàn
thiện quy chế thẩm vấn chéo; tăng cường quyền bào chữa, tạo sự cân bằng giữa cơ
quan tố tụng và bên bào chữa, đảm bảo cho bên bảo chữa tham gia xét xử một cách
hiệu quả và thực chất; đề phòng trường hợp cơ quan kiểm sát lạm dụng quyền truy
tố, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của bên bào chữa; giảm bớt màu sắc chức
trách trong hoạt động xét xử của tòa án, thực hiện tính trung lập của tòa án, tăng
quyền tham dự và quyền quyết định của các bên tố tụng và bên bào chữa.
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở VIỆT NAM
Thời gian qua, ở Việt Nam đã có khá nhiều công trình nghiên cứu làm rõ
những vấn đề lý luận về quyền con người, quyền bào chữa của bị can, bị cáo, điạ vị
pháp lý của luật sư, các giai đoạn tố tụng hình sự. Các nội dung này được tiếp cận ở
phạm vi rộng, hẹp khác nhau, trong đó có đề cập đến vấn đề hoạt động bào chữa
của luật sư. Những vấn đề lý luận đó giúp cho tác giả luận án có được cách tiếp cận
đúng đắn về quyền bào chữa và hoạt động bào chữa của luật sư, xác định hướng
kiến nghị hoàn thiện pháp luật trên nguyên tắc vừa bảo đảm quyền bào chữa của đối
tượng bị buộc tội, vừa bảo đảm lợi ích nhà nước, lợi ích chung của xã hội, bảo đảm
lợi ích của cơ quan, tổ chức, quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân khác cũng
như đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động bào chữa của luật sư trong
hành. Tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu đều đề cập ở phạm vi bảo đảm các quyền tố
tụng cơ bản của người bị buộc tội. Những nghiên cứu trực tiếp về bảo đảm quyền có
NBC còn khá khiêm tốn, đặc biệt chưa có nghiên cứu nào được thực hiện dưới góc
độ so sánh pháp luật. Ở Việt Nam, các nghiên cứu có liên quan đến quyền bào chữa
và bảo đảm quyền có NBC còn chưa nhiều. Tài liệu “Nghiên cứu QBC trong pháp
luật TTHS và thực tiễn tại Việt Nam” do nhóm nghiên cứu Nguyễn Hưng Quang và
cộng sự năm 2012 đã làm rõ các tiêu chuẩn quốc tế về QBC thông qua việc nghiên
cứu các văn bản pháp lý quốc tế, khu vực như ICCPR, ECHR, quy chế Rome… ;
đánh giá mức độ bảo đảm, tạo điều kiện của cơ quantiến hành tố tụng đối với việc
thực hiện quyền bào chữa của người bị buộc tội, luật sư. Bên cạnh đó, các công
trình khác như Luận văn thạc sỹ “Thực hiện pháp luật về quyền bào chữa của bị
can, bị cáo ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Tường Vi; luận án tiến sỹ “Bảo đảm
quyền có người bào chữa của người bị buộc tội - So sánh giữa luật tố tụng hình sự
Việt Nam, Mỹ và Đức” của tác giả Lương Thị Mỹ Quỳnh; cuốn “Bảo đảm quyền
bào chữa của người bị buộc tội” của tác giả Phạm Hồng Hải xuất bản năm 1999;
cuốn“Địa vị pháp lý và mối quan hệ của người bào chữa với bị can, bị cáo trong tố
tụng hình sự” của tác giả Nguyễn Văn Tuân năm 2003… cũng đề cập đến vấn đề
QBC, quyền có NBC, người bào chữa ở những khía cạnh nhất định. Hầu hết các
nghiên cứu nêu trên mới chỉ dừng ở mức độ diễn giải luật thực định. Nhìn chung,
nội dung đề cập trong các bài viết này tập trung ở 3 khía cạnh: một là nghiên cứu
những quy định của Bộ luật TTHS dưới góc độ bảo đảm quyền con người (bao gồm
quyền của người bị buộc tội); hai là nghiên cứu nguyên tắc TTHS về bảo đảm
13
quyền bào chữa nói chung của người bị buộc tội; ba là nghiên cứu vai trò của NBC
trong TTHS. Bên cạnh đó, một số rất ít bài viết khoa học đề cập đến bảo đảm quyền
bào chữa nói chung trong bối cảnh của cuộc cải cách tư pháp. Một vài nghiên cứu
dưới dạng sách và luận án (ở cấp độ thạc sĩ và tiến sĩ) đã trở nên lạc hậu, không còn
tính thời sự. Ở quy mô lớn hơn, đã có những nhóm chuyên gia tiến hành nghiên cứu
14
của tác giả Nguyễn Văn Hiển, năm 2010. Trong luận án này, tác giả đã nghiên cứu
toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn để chứng minh sự tồn tại khách quan của
nguyên tắc tranh tụng trong các mô hình TTHS; khả năng xây dựng và áp dụng có
hiệu quả nguyên tắc này phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam mà không
cần thay đổi mô hình tố tụng truyền thống. Từ đó, khẳng định tầm quan trọng của
chức năng gỡ tội và hoạt động bào chữa của người bào chữa. Ngoài ra còn có bài
viết “Một số vấn đề về tranh tụng trong TTHS” của tác giả Lê Tiến Châu, tạp chí
Khoa học pháp lý số 1, năm 2003; bài Nguyên tắc tranh tụng trong hệ thống nguyên
tắc cơ bản của luật TTHS của PGS.TSKH. Lê Cảm, tạp chí Luật học, số 6, năm
2004; bài “Thực trạng tranh tụng và vấn đề nâng cao vai trò của luật sư trong
tranh tụng trước yêu cầu cải cách tư pháp” của TS. Nguyễn Văn Tuân, tạp chí Dân
chủ và Pháp luật số tháng 3/2010 (216); bài“Bảo đảm quyền của bị cáo trong phiên
toà mở rộng tranh tụng” của TS. Nguyễn Văn Huyên, tạp chí Dân chủ và Pháp luật
số chuyên để về tranh tụng năm 2003, luận văn thạc sỹ “Tranh tụng tại phiên toà sơ
thẩm hình sự, những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Lưu Bình Dương năm
2004… Các công trình trên đã phân tích khía cạnh khác nhau về quyền bào chữa,
bảo đảm quyền bào chữa nhưng nhìn chung đã cho chúng ta cái nhìn tổng thể về
quyền bào chữa và đảm bảo thực hiện quyền này trên thực tế cũng như làm sáng tỏ
về mặt lý luận nội dung quyền này; nhận diện được vai trò của người bào chữa
trong đó có luật sư trong tố tụng hình sự; bất cập và nguyên nhân của những hạn
chế trong thực hiện quyền bào chữa của người bị buộc tội trong tế, giải pháp nâng
cao hiệu quả bào chữa. Những công trình nghiên cứu trên đều có nội dung liên quan
đến quyền bào chữa và hoạt động bào chữa, trong đó có hoạt động bào chữa của
luật sư.
1.2.2. Nhóm công trình liên quan trực tiếp đến nội dung luận án
Những vấn đề liên quan trực tiếp đến đề tài cũng được nghiên cứu ở nhiều
phạm vi và mức độ khác nhau. Ở mức độ đại cương, “Giáo trình Luật TTHS” của
kể đến cuốn “Vai trò của luật sư trong TTHS” của TS. Nguyễn Văn Tuân, Nhà xuất
bản Đại học quốc gia, năm 2001, trong cuốn sách này tác giả đã làm rõ vị trí, vai trò
của luật sư trong việc bảo đảm quyền cơ bản của công dân và phân tích sâu vai trò
của luật sư trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Nội dung cơ bản của cuốn sách
tập trung phân tích các quyền và nghĩa vụ của luật sư trong tố tụng hình sự nói
chung và vai trò của luật sư trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử. Vai trò của
luật sư được thể hiện rõ nét thông qua việc thực hiện các quyền mà BLTTHS quy
định như có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu
Điều tra viên đồng ý thì được hỏi người bị tạm giữ, bị can và có mặt trong những
hoạt động điều tra khác; xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của
mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa; đề nghị Cơ
quan điều tra báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi
cung bị can; đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên
dịch theo quy định của Bộ luật này; thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến
việc bào chữa từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người
này hoặc từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị
16
cáo nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác; đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu
cầu; gặp người bị tạm giữ; gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam;đọc, ghi chép và sao
chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa sau khi kết thúc
điều tra theo quy định của pháp luật; tham gia hỏi, tranh luận tại phiên toà.
Đề tài khoa học “Hoàn thiện pháp luật TTHS nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động bào chữa của luật sư” năm 2003 của trường ĐH Luật Hà Nội năm 2013 cũng
có những nội dung liên quan mật thiết với luận án. Nội dung đề tài đề cập đến việc
xây dựng khái niệm khoa học về hoạt động bào chữa của luật sư trên cơ sở phân
tích làm rõ những đặc điểm của hoạt động này; làm rõ ý nghĩa về chính trị, xã hội và
pháp lý của hoạt động bào chữa của luật sư; làm rõ những điều kiện bảo đảm thực
hiện hoạt động bào chữa của luật sư; nghiên cứu yêu cầu của cải cách tư pháp,
một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố (Điều 156); đưa ra những đề xuất, kiến
nghị nhằm nâng cao vị trí, vai trò của luật sư trong phiên tòa xét xử, trong đó có
những đề xuất, kiến nghị với Tòa án trong việc tạo điều kiện cho luật sư thực hiện
quyền của mình; đề xuất, kiến nghị trong việc bảo đảm thực hiện các quyền của luật
sư trên thực tế trong quá trình xét xử các vụ án hình sự…
Vào năm 2005, PGS.TS, luật sư Phạm Hồng Hải tiếp tục công bố bài viết
“Thực trạng hoạt động của luật sư - Người bào chữa qua hơn một năm thì hành Bộ
luật Tố tụng hình sự năm 2003” trên Tạp chí kiểm sát số 24 (12-2005) với nội dung
phân tích những điểm mới quy định về luật sư - người bào chữa trong Bộ luật Tố
tụng hình sự năm 2003. Bài viết chỉ rõ Điều 11 Bộ luật TTHS năm 2003 quy định
về nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa trong TTHS, Điều 58 Bộ luật TTHS 2003
khi quy định về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa đã ghi nhận nhiều nội dung
mới so với luật cũ như: người bào chữa có quyền tham gia tố tụng từ khi có quyết
định tạm giữ của cơ quan điều tra đối với một người bị bắt trong trường hợp khẩn
cấp, phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã; người bào chữa có quyền đề nghị cơ
quan điều tra báo trước về thời gian, địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi
cung bị can; quy định người bào chữa có quyền thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết
liên quan tới việc bào chữa từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của
những người này hoặc từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm
giữ, bị can…; phân tích thực trạng hoạt động của luật sư - người bào chữa hiện nay,
bài viết đi sâu phân tích thực trạng của việc cấp giấy chứng nhận bào chữa trên thực
tế không thực hiện đúng theo quy định tại khoản 4, Điều 56 Bộ luật TTHS; việc gặp
bị can đang bị tạm giam trên thực tế cũng rất khó khăn; quá trình tham gia hỏi cung
bị can của luật sư còn nhiều hạn chế, những câu hỏi, ý kiến của luật sư không được
điều tra viên quan tâm; việc tuân thủ nguyên tắc “khi xét xử, HĐXX phải căn cứ
vào những chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa” rất ít được áp dụng trên thực tế,
mà chủ yếu Thẩm phán chủ tọa phiên tòa dựa vào những “định hướng” của Ủy ban
thẩm phán về tội danh và mức hình phạt sẽ được áp dụng đối với bị cáo; đưa ra một
số kiến nghị trên cơ sở phân tích thực trạng như kiến nghị các cơ quan có thẩm
quyền ban hành Thông tư hoặc Thông tư liên ngành để giải thích, hướng dẫn thực
tụng cho các luật sư bào chữa.
Năm 2009, ThS. Lê Văn Thảo, Đại học Vinh có bài viết “Coi trọng hoạt
động nghề nghiệp của luật sư và phiên tòa tranh tụng nhằm nâng cao chất lượng
xét xử các vụ án hình sự ở nước ta hiện nay” trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Số
4 - 2009). Tác giả đã phân tích những kết quả đạt được trong công tác xét xử của
ngành Tòa án trong những năm gần đây; phân tích, đánh giá những tồn tại, hạn chế
của công tác xét xử, của đội ngũ thẩm phán; phân tích những sai sót trong công tác
xét xử các vụ án hình sự. Cụ thể, đội ngũ thẩm phán còn thiếu, trình độ nghiệp vụ
và bản lĩnh chính trị của một bộ phân cán bộ còn yếu; quá trình thẩm vấn, tranh
luận tại phiên tòa chưa đầy đủ, đánh giá căn cứ thiếu khách quan, toàn diện dẫn tới
19
áp dụng tội danh không đúng; việc chấp hành các quy định về thủ tục tố tụng trong
việc giải quyết các vụ án hình sự còn nhiều thiếu sót. Trên cơ sở phân tích những
tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế, bài viết đưa ra những
giải pháp cụ thể để cơ quan, người tiến hành tố tụng coi trọng đúng mức hoạt động
nghề nghiệp của luật sư và phiên tòa tranh tụng, cụ thể: hoàn thiện pháp luật về luật
sư; tăng thêm các trường hợp và mở rộng quy mô đào tạo đội ngũ luật sư; hoàn
thiện cơ chế bảo đảm để luật sư thực hiện tốt việc tranh tụng tại phiên tòa; Nhà
nước cần tạo điều kiện thuận lợi cho việc hoạt động của các Đoàn luật sư, tạo điều
kiện về pháp lý để phát huy chế độ tự quản của tổ chức luật sư, đề cao trách nhiệm
của tổ chức đối với thành viên của mình; thực hiện đúng và đầy đủ các điểm c, d,
mục 1, phần B Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị.
Bàn về các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động của luật sư bào chữa,
bài viết “Thực trạng quy định của pháp luật về hoạt động tham gia tố tụng của luật
sư với tư cách là người bào chữa và hướng hoàn thiện” trên Tạp chí Tòa án nhân
dân (kỳ II, tháng 4/2012, số 08) của ThS. Vũ Huy Khánh, Vụ Pháp chế, Bộ Công an
đã phân tích những điều kiện để được cấp giấy chứng nhận bào chữa. Theo đó, tác
giả phân tích cụ thể Điều 27 Luật luật sư quy định về điều kiện được cấp giấy
tham gia tố tụng tại Tòa án cần có thái độ hợp tác và đúng mực với HĐXX và cán
bộ Tòa án. Các kiến nghị này khá cụ thể và khả thi để giúp các cơ quan chức năng
sửa đổi pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động hành nghề luật sư trong giai
đoạn xét xử Tại tòa án.
ThS. Đào Thị Nga, Phó Chánh tòa - Tòa phúc thẩm TANDTC tại HN và ThS.
Nguyễn Trí Chinh, Trưởng phòng TKTH - Tòa phúc thẩm TANDTC tại HN đã có
bài viết “Hoạt động của luật sư trong giai đoạn xét xử” trên Tạp chí Tòa án nhân
dân, kỳ I tháng 10/2012 (số 19). Bài viết phân tích những thuận lợi, khó khăn của
luật sư khi tham gia tố tụng trong các vụ án tại Tòa án, cụ thể là về thủ tục khi luật
sư liên hệ với Tòa án để biết thông tin về vụ án mà mình được tham gia tố tụng; khó
khăn về thủ tục cấp Giấy chứng nhận tham gia tố tụng cho luật sư; về việc sao chụp
tài liệu, chứng cứ và nghiên cứu hồ sơ vụ án; về việc tham gia phiên tòa của luật sư.
Đây là những khó khăn, vướng mắc làm ảnh hưởng đến vai trò của luật sư trong các
giai đoạn xét xử. Tác giả đã đưa ra đề xuất, kiến nghị nhằm tháo gỡ những khó khăn,
vướng mắc cho hoạt động hành nghề luật sư trong hoạt động tố tụng, trong đó có
những kiến nghị cụ thể về phía Tòa án, Liên Đoàn luật sư Việt Nam trong việc thực
hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng, thực hiện bồi dưỡng, nâng cao trình
độ cho đội ngũ thư ký Tòa án. Những đề xuất này cụ thể, chi tiết và có giá trị trong
việc giúp các cơ quan chức năng có những giải pháp nhằm nâng cao hoạt động của
đội ngũ luật sư trong giai đoạn xét xử.
Đầu năm 2012, TS. Lê Hữu Thể, Phó Viện trưởng VKSNDTC và Ths Lê Thị
Thủy, VKSNDTC có bài viết “Hoàn thiện chế định người bào chữa trong Bộ luật
TTHS năm 2003 đáp ứng các yêu cầu cải cách tư pháp” công bố trong tài liệu Hội
thảo quốc tế về Bộ luật TTHS năm 2003 và quyền của luật sư bào chữa. Bài viết
phân tích thực trạng chế định người bào chữa trong TTHS Việt Nam. Theo đó, quá
trình phát triển của mô hình TTHS Việt Nam chịu ảnh hưởng lớn từ mô hình TTHS