Tiểu luận hình sự Kỹ năng của luật sư khi chuẩn bị bản luận cứ bào chữa, bảo vệ trong giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự - Pdf 28

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU……………………………………………………………………….
PHẦN NỘI DUNG…………………………………………………………………
I. KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ KHI CHUẨN BỊ BẢN LUẬN CỨ BÀO CHỮA CHO
BỊ CÁO TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN HÌNH
SỰ……………………………………………………………………………………
1. Nghiên cứu hồ sơ…………………………………………………………………
2. Thu thập thêm tài liệu mới ……………………………………………………
3. Gặp trao đổi với bị cáo………………………………………………………….
4. Trao đổi đề xuất với Viện kiểm soát, Tòa án…………………………………
5. Chẩn bị bản bào chữa…………………………………………………………
II. KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ KHI CHUẨN BỊ BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ CHO
NGƯỜI BỊ HẠI TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN HÌNH
SỰ……………………………………………………………………………
1. Tổng hợp các tài liệu có trong vụ án……………………………………………
2. Chuẩn bị các tài liệu liên quan phục vụ cho việc bảo vệ……………………….
3. Nghiên cứu hồ sơ vụ án………………………………………………………….
4. Xác định phương hướng viết bản bảo vệ……………………………………….
5. Trao đổi với thân chủ……………………………………………………………
6. Chuẩn bị bản bảo bảo vệ ……………………………………………………….
a . Phần mở đầu…………………………………………………………………….
b . Phần nội dung……………………………………………………………………
c. Phần kết luận…………………………………………………………………….
KẾT LUẬN…………………………………………………………………………
1
LỜI MỞ ĐẦU
Các chức danh tư pháp mỗi chức danh có một văn bản đặc trưng riêng. Thẩm
phán có bản án, Kiểm sát viên có bản cáo trạng, điều tra viên có bản kết luận điều
tra. Một trong những văn bản quan trọng của luật sư khi tham gia tố tụng đó là luận
cứ bào chữa cho bị cáo và luận cứ bảo vệ cho bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên
quan hay các đương sự trong giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự.

VKS. Việc nghiên cứu cần khái quát những vấn đề mấu chốt của vụ án như tội danh, thu
thập và đánh giá chứng cứ, căn cứ áp dụng pháp luật và hình phạt…nhưng vẫn phải bám
sát yêu cầu kháng cáo nói trên. Phạm vi nghiên cứu hồ sơ cụ thể bao gồm: 1, yêu cầu
kháng cáo, kháng nghị, 2, Tính hợp pháp của bản án sơ thẩm ( Xem xét nội dung và tố
tụng). 3, các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho việc kháng cáo. Do tính chất của xét xử
phúc thẩm, luật sư cần tập trung nghiên cứu những cắn cứ chứng minh sự vô tội của bị
cáo hoặc những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trong quá trình nghiên cứu hồ sơ
luật sư cần phát hiện những vấn đề thiếu sót trong đánh giá chứng cứ vi phạm tố tụng…
2. Thu thập thêm tài liệu mới
Luật sư cần tìm hiểu bổ sung các tình tiết chúng cứ chưa được xem xét trong bản
án sơ thẩm trao đổi, tự mình hoặc gia đình đương sự cung cấp các tài liệu mới để bổ
sung xem xét tại phiên tòa phúc thẩm. Việc thu thập và giao nộp thêm chứng cứ, đồ vật,
tài liệu mới luật sư cần bảo đảm tính hợp pháp về mặt hình thức và tính xác thực tính
liên quan về mặt nội dung bằng những cách thức và những biện pháp mà pháp luật
không cấm . Những tài liệu nói trên cần được sao y bản chính có chứng thực hợp pháp
và cần phải nộp trước khi phiên tòa phúc thẩm được mở.
3. Gặp trao đổi với bị cáo.
3
Trong quá trình gặp và trao đổi với bị cáo trong trại tạm giam luật sư cần trao đồi
về những hệ quả phát sinh từ phiên tòa phúc thẩm, khi phán quyết có hiệu lực pháp luật
để bị cáo xác định tốt tư tưởng, chuẩn bị cho việc khiếu nại theo trình tự giám đốc thẩm
hoặc chấp nhận thi hành bản án . Có thể nói việc gặp và trao đổi với bị cáo trước phiên
tòa là một loạt thao tác cần đòi hỏi luật sư mận cảm sự thấu đáo hiểu biết về vụ án, có
như vậy luật sư mới viết được bản luận cứ tốt để bào chữa cho thân chủ tại phiên tòa
phúc thẩm một cách tốt nhất.
4. Trao đổi đề xuất với Viện kiểm soát, Tòa án.
Luật sư có thể liên hệ, đề nghị bằng văn bản qua phòng xin gặp Kiểm sát viên,
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa hoặc lãnh đạo của họ đề trình bày những vấn đề liên quan
đến những tình tiết sự kiện mới phát sinh, hoặc để nộp chứng cứ tài liệu bổ sung. Việc
gặp trao đồi vơi Viện kiểm soát và Tòa an giúp cho luật sư có thêm chứng cứ mới, biết

nguy hại cho xã hội trong các trường hợp loại trừ tính chất tội phạm của hành vi như: sự
kiện bất ngờ; phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết; chấp hành chỉ thị, quyết định hoặc
mệnh lệnh. Đây là những tình tiết loại trừ TNHS, tức là trường hợp những hành vi gây
thiệt hại khách quan về hình sự nhưng không bị coi là tội phạm do không thỏa mãn yếu
tố lỗi và được quy định trong luật hình sự đối với những tội có cầu thành vật chất đòi hỏi
phải xác định được hậu quả xảy ra thì luật sư cần chímg minh bị cáo mình chưa gây ra
hậu quá đến mức phải chịu trách nhiệm hình sự, chẳng hạn khoản 1 điều 138 tội trộm cắp
tài sản quy định '' người nào trộn cắp tài sản của người khách có giá trị từ hai triệu đồng
đến dưới năm triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm
hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa
được xóa án tích mà còn vi phạm thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc
phạt tù từ sáu tháng đến ba năm ''. Ở trường hợp này luật sư cần chứng minh trong bản
luận cứ của mình là tài sản bị cáo trộm cắp không có giá trị đến 2 triệu đồng thông qua
việc chúng minh kết luật giám định là không phù hợp với giá trị thực tể của tài sản, và
5
cũng cần phải chứng minh thân chủ minh chưa bị phạt vi phạm hành chính hoặc chưa bị
kết án về tội chiếm đoạt tài sản
Nếu người bị hại không có yêu câu khởi tố hoặc đã rút yêu cầu khởi tố trước khi mở
phiên tòa sơ thẩm mà tòa án vẫn xét phúc thẩm và tuyên bị cáo cớ tội thì luật sư cần bào
chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tại phiên tòa phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và
đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định điều 251 BLTTHS. Trong trường hợp này cần
chỉ ra các cơ quan tiến hành tố tụng đã vi phạm nghiêm trọng thủ tụng tố tụng trong quá
trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo. Luật sư cần bám sát vào những căn cứ quy buộc của
án sơ thẩm và kết luận của Viện kiểm sát, phân tích những điểm mâu thuẫn, không phù
hợp, chỉ ra được tính thiếu căn cứ trong việc giám định, những vì phạm về thủ tục tơ tụng
khi thu thập chứng cứ dùng làm căn cứ buộc tơi bị cáo, từ đó đề xuất đường lối giải
quyết vụ án theo hướng chấp nhận kháng cáo của bị cảm, tuyên bị cáo không phạm tội và
đình chỉ vụ án theo Điều 251 BLTTHS năm 2003.
Luật sư cũng cần vận dụng nguyên tắc suy đoán vô tội khi để cấp đến việc bản
án sở thẩm được tuyên trên cơ sở đánh giá chứng cứ một chiều mang nặng tính suy diễn

cứ pháp lý của việc áp dụng những tình tiết giảm nhẹ TNHS theo quy định của pháp luật
mà bản án sơ thẩm chưa đề cập đến. Đó là các tình tiết giảm nhẹ TNHS theo khoản 1
điều 46 của BLHS. Có trường hợp kháng cáo kêu oan, nhưng đến trước phiên tòa phúc
thẩm, bị cáo nhận thức được sai phạm của mình, thống nhất với luật sư về việc thay đổi
yêu cầu kháng cáo. Đây có thể coi là là một sự chuyển biến căn bàn về nhận thức, là tình
tiết mới cớ thế tác động lớn đến phiên tòa phúc thâm, luật sư cần tập trưng phân tích về
căn nguyên sự chuyển biến nhận thức từ chỗ kêu oan sang nhận tội, vận dụng các tình
tiết giảm nhẹ khác để đề xuất sửa bản án sơ thẩm (Điều 249 BLTTHS năm 2003) theo
hướng giảm nhẹ đáng kể hình phạt cho bị cáo theo nguyên tắc được quy định tại khoản 2
điều 46 và điều 47 BLHS. Việc đề nghị xin giảm hình phạt cho bị cáo tại phiên tòa phúc
thẩm có thể đề nghị theo hướng giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù, chuyển sang cải
tạo không giảm giữ, chuyển sang áp dụng án treo, chuyển sang đề nghị miễn trách nhiệm
hình sự cho bị cáo hoặc miễn hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên, luật sư cần lưu ý chỉ nên
tập trung vào các tình tiết làm cơ sở để đề nghị Tòa phúc thẩm giảm nhẹ TNHS cho bị
7
cáo khi bản án sơ thẩm chưa đề cập đến hoặc tuy có đề cập đến nhưng việc áp dụng trong
bản án sơ thẩm chưa thỏa đáng với bị cáo.
Thứ ba, bào chữa theo hướng để xuất Tòa phúc thẩm hủy bản án sơ thẳm để điểu
tra lại hoặc xét xử lại.
Trong bản án sơ thẩm bị kháng cáo hoặc kháng nghị, luật sư phát hiện thấy những sai
phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng hoặc áp dụng không đúng pháp luật, đánh giá
không toàn diện về chứng cứ hoặc luật sư thu thập được một số chứng cứ tài liệu mới,
cần phải được đánh giá, xem xét lại bản chất vụ án, luật sư cớ thể đề xuất hủy bán án sơ
thẩm để điều tra lại hoặc xét xừ lại. Căn cứ vào điều 250 BLTTHS, việc hủy án sơ thẩm
nêu trên xuất phát từ việc điều tra của cấp sơ thẩm không đầy đủ mà cấp phúc thẩm
không thể bổ sung được. Những trường hợp cụ thể dẫn đến việc hủy án sơ thẩm là: thành
phần HĐXX sơ thầm không đúng luật định hoặc có vi phạm nghiêm trọng về thủ tụng tố
tụng; người được Tòa án cấp sơ thẫm tuyên bố không có tội nhưng có căn cứ cho rằng
người đó đã phạm tội. Luật sư cần lưu ý, nếu trong trường hợp đề xuất hủy án sơ thẩm
để điều tra lại hoặc xét xừ lại thì có thể đề xuất xem xét về tình tranh và thời hạn tạm

Đó là việc chuẩn bị những tài liệu liên quan để phục vụ cho việc chuẩn bị bài luận
cứ bào vệ cho bị hại bao gồm:
2.1. Văn bản pháp luật: bao gồm Bộ luật hình sự; bộ luật tố tụng hình sự; các văn
bản pháp luật liên quan, đặc biệt là các văn bản như Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán
hoặc các công văn hướng dẫn có liên quan đến hoạt động bảo vệ cho bị hại tại Toà án.
2.2. Các tài liệu khác: các tại liệu liên quan đến nhân thân của bị cáo, bị hại và các
tài liệu khác liên quan đến tình tiết của vụ án hoặc để phục vụ cho việc chuẩn bị bản luận
cứ bảo vệ cô đọng và đi vào lòng người.
3. Nghiên cứu hồ sơ vụ án
Nghiên cứu nội dung phạm vi kháng cáo. Nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có
trong hồ sơ vụ án chứng minh cho yêu cầu kháng cáo, kiểm tra tính phù hợp mâu thuận
9
giữa các chứng cứ có trong hồ sơ. Việc nghiên cứu các tài liệu chứng cứ cần phải gắn với
yêu cầu kháng cáo. Nghiên cứu tính hợp pháp của bản án sơ thẩm ( xem xét nội dung và
tố tụng)
4. Xác định phương hướng viết bản bảo vệ
Để
xây dựng bản bảo vệ cho người bị hại trong giai đoạn xét xử phúc thẩm thì luật sư phải
xác định phạm vi kháng cáo của bị cáo để từ đó xây dựng hướng bảo vệ cho người bị hại.
Hướng bảo vệ này phải nằm trong phạm vi kháng cáo. Trường hợp bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp cho bị hại về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại thì luật sư có thể định hướng
xác định hành vi phạm tội và trách nhiệm dân sự của bị cáo.
Xuất
phát từ những trường hợp trên khi tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại
ngoài việc thực hiện các quyền theo quy định của pháp luật, luật sư cần phải nhấn mạnh
một số điểm sau:
Nguyên nhân, bối cảnh xảy ra vụ án, tính chất nghiêm trọng cho xã hội và hành vi thực
hiện tội phạm, mối quan hệ giữa bị hại và bị cáo;
Các hậu quả thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra, kèm theo các tài
liệu, chứng cứ, kết quả giám định tổn hại về sức khoẻ do Hội đồng giám định pháp y kết

giới thiệu về bản thân và khẳng định tư cách tham gia tố tụng tại phiên toà. Tuỳ từng bối
cảnh của mỗi phiên toà mà luật sư có thể đưa ra những lời mở đầu khác nhau, tạo ra ấn
tượng, cách tiếp cận vấn đề khác nhau. Nó hoàn toàn không bị ràng buộc bởi sự bất biến,
rập khuôn, mà thể hiện sự thích ứng, linh hoạt của luật sư đối với mỗi vụ án khác nhau.
b. Phần nội dung
11
Đây là phần trọng tâm chủ yếu của bài bảo vệ của luật sư, chính là sự kết tinh của
quá trình nghiên cứu kỹ lưỡng hồ sơ vụ án, thu thập chứng cứ, quá trình thẩm vấn công
khai các chứng cứ tại phiên toà. Đối với bản luận cứ bảo vệ cho bị hại có cấu trúc như
sau:
- Bảo vệ theo hướng cáo buộc hành vi phạm tội của bị cáo và yêu cầu bị cáo
phải bồi thường cho thân chủ.
+ Cáo buộc hành vi phạm tội của bị cáo
Việc cáo buộc bị cáo đòi hỏi bản luận cứ bảo vệ phải chỉ ra được những tình tiết
tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, điều 48 Bộ luật hình sự, các tình tiết
định khung tăng nặng hơn so với khung mà viện kiểm sát truy tố. Ở vị trí người bảo vệ,
kỹ năng bảo vệ phải được thực hiện ngược lại với vị trí của người bào chữa theo hướng
giảm nhẹ.
Trường hợp do bị cáo và gia đình bị cáo ngay từ khi xảy ra vụ án đã có thái độ
đúng mức xem xét, hỗ trợ cho gia đình bị hại, tìm mọi biện pháp để khắc phục hậu quả
của vụ án, bồi thường một phần hoặc toàn bộ thiệt hại và các tổn thất khác do bị cáo gây
ra, tự nhận thức được hành vi phạm tội, có thái độ, ăn năn, hối cải, có thể đề xuất giảm
nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, giảm mức bồi thường thiệt hại còn lại, lui lại tiến độ
thanh toán, bồi thường cho phù hợp với hoàn cảnh kinh tế, sinh hoạt của bị cáo…
Tuy nhiên , trong quá trình phát biểu quan điểm khi bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp cho người bị hại, luật sư cần hiểu mặc dù các yêu cầu tăng nặng, giảm nhẹ về trách
nhiệm hình sự và về bồi thường thiệt hại có nhiều điểm trùng hợp, thậm chí nhất trí tán
đồng với quan điểm của kiểm sát viên, nhưng xét về bản chất nghề nghiệp vẫn có những
khác biệt nhất định giữa tư cách kiểm sát viên và luật sư. Vì vậy, ngôn ngữ, văn phong
cần chừng mực, sự quan tâm đến số phận của bị hại không nên dùng những từ ngữ mạnh,

việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người
13
bị thiệt hại bao gồm: Tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y
tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X-quang, chụp cắt lớp, siêu
âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu theo chỉ định của bác sỹ; tiền viện phí;
tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe cho người bị thiệt hại theo
chỉ định của bác sỹ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và
các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống và
khắc phục thẩm mỹ… để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc
bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có).
Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại. Nếu trước khi sức
khỏe bị xâm phạm người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng do sức khỏe bị xâm
phạm họ phải đi điều trị và do đó khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút,
thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó; Chi phí hợp lý
và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian
điều trị;
Trong trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần
có người thường xuyên chăm sóc (người bị thiệt hại không còn khả năng lao động do bị
liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ
quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81%
trở lên) thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại. Khoản
chi phí bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm.
+ Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm
Luật sư cần phải lưu ý những chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng chăm
sóc người bị thiệt hại trước khi chết; Chi phí hợp lý cho việc mai táng bao gồm: các
khoản tiền mua quan tài, các vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương,
nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hỏa táng
nạn nhân theo thông lệ chung. Không chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ
14
bái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ Những khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người

tích và nhấn mạnh đến những nội dung trực tiếp ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ pháp
lý của các chủ thể tham gia tố tụng, không đề cập tràn lan những vấn đề nằm ngoài phạm
vi yêu cầu mà pháp luật tố tụng đã quy định.
Bản luận cứ bào chữa, bảo vệ trong giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự chính là
văn bản để luật sư thể hiện được quan điểm của mình khi bào chữa, bảo vệ cho thân chủ
trong vụ án hình sự tại Toà án, bởi thế luật sư phải chuẩn bị cho mình những hoạt động
và kỹ năng cần thiết để bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp cho thân chủ của
mình./.
16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status