ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
----------
TRẦN THỊ MINH NGUYỆT
QUYỀN BÀO CHỮA
TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
(Trên cơ sở số liệu địa bàn thành phố Hồ Chí Minh)
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS CHU THỊ TRANG VÂN
HÀ NỘI - 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công
trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo
tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn
học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của
Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
do cơ bản
ICCPR
Công ước quốc tế về Quyền chính trị và Dân sự
LLS
Luật luật sư
LTGPL
Luật trợ giúp pháp lý
TAND
Tòa án nhân dân
TANDTC
Tòa án nhân dân tối cao
TGPL
Trợ giúp pháp lý
TTHS
Tố tụng hình sự
giữ, Bị can, Bị cáo sẽ thực hiện việc tự bào chữa hoặc thông qua Người bào chữa
đóng vai trò là bên gỡ tội. Trong hoạt động xét xử, Tòa án đóng vai trò chính là đưa
ra quyết định dựa trên chứng cứ của vụ án cũng như kết quả từ việc xét hỏi và tranh
luận tại tòa. Do bản án, quyết định của Tòa án có tác động đến một số quyền chính
yếu của bản thân Bị cáo nên việc thực hiện hoạt động bào chữa tại phiên tòa xét xử
là vô cùng quan trọng.
Ở Việt Nam, mục đích của TTHS được xác định tại Điều 1 của Bộ luật
TTHS là "Nhằm phát hiện chính xác nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi
hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội". Để bảo vệ
Quyền con người, những người bị buộc tội phải được quyền chứng minh là mình vô
tội hay trách nhiệm hình sự nhẹ hơn bằng các chứng cứ và các tình tiết giảm nhẹ cụ
thể trong pháp luật hình sự. Trong TTHS, sự buộc tội của các Cơ quan tiến hành tố
tụng đối với người bị buộc tội có thể tước đi hay hạn chế một số quyền tự do thân
thể hay các quyền khác của họ. Do vậy, bản chất của mô hình "Tòa án – Công tố Bào chữa" là nhằm đảm bảo công lý, quyền lực Nhà nước trong phạm vi công tố sẽ
1
trở nên lạm quyền nếu như không có người đối trọng, Tòa án từ việc đối trọng này
sẽ đưa ra quyết định đúng đắn nhất dựa trên việc quyết định hình phạt cho Bị cáo.
Theo quy định pháp luật Việt Nam hiện nay thì Người bào chữa có thể là Luật sư,
Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo hoặc Bào chữa viên
nhân dân (Điều 56 BLTTHS năm 2003). Trong số đó, hoạt động của Người bào
chữa là Luật sư mang tính chuyên nghiệp hơn cả, tuy không phải là hoạt động tư
pháp, nhưng lại có mối liên hệ chặt chẽ với hoạt động tư pháp, hỗ trợ cho hoạt động
tư pháp (bổ trợ tư pháp).
Ở nước ta, hoạt động của Luật sư đã được thể chế hóa bằng pháp luật từ rất
sớm. Trong tất cả các Hiến pháp từ Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp 1959, Hiến
pháp 1980, Hiến pháp 1992 và Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung đều có các quy định
về sự tham gia của Luật sư trong các phiên tòa xét xử để bào chữa cho Bị cáo. Cùng
thiện pháp luật TTHS ở Việt Nam trên yêu cầu củng cố và phát huy hiệu quả vai trò
của Người bào chữa là Luật sư trong vụ án hình sự, đặc biệt là ở phiên tòa sơ thẩm.
Để thực hiện mục đích trên, Luận văn xác định nhiệm vụ nghiên cứu gồm:
- Quy định của pháp luật hiện hành về quyền và nghĩa vụ của Người bào
chữa trong đó tiếp cận vai trò của Luật sư trong TTHS nói chung và trong phiên toà
sơ thẩm nói riêng;
- Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật TTHS trong việc thực hiện
Quyền bào chữa tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự;
- Đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao khả năng bảo vệ Quyền
bào chữa tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu về việc thực hiện Quyền bào chữa của Bị cáo thông qua
vai trò Luật sư trong phiên tòa sơ thẩm của vụ án hình sự từ cả khía cạnh pháp luật
thực định cũng như thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật đó để tìm kiếm các
biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Luật sư trong phiên toà sơ
thẩm nói riêng cũng như trong các giai đoạn TTHS nói chung.
- Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài chọn địa bàn TP.Hồ Chí Minh làm thực trạng nghiên cứu. Đề tài giới
hạn và tập trung việc nghiên cứu vai trò của Luật sư chỉ tại phiên tòa sơ thẩm của
vụ án hình sự. Tuy nhiên, để làm rõ vai trò của Luật sư trong xét xử sơ thẩm đề tài
có nghiên cứu cả giai đoạn điều tra.
5. Ý nghĩa nghiên cứu
- Ý nghĩa lý luận:
Đề tài đưa ra những luận cứ và phân tích chặt chẽ các quy định hiện hành
5
của pháp luật TTHS, làm kết quả để hoàn thiện pháp luật TTHS và vai trò của
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN BÀO CHỮA TRONG GIAI ĐOẠN
XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1. Khái quát về Quyền bào chữa trong các vụ án hình sự và trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Bảo đảm Quyền con người luôn là một nội dung chính và cũng là mục đích
để xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Để đảm bảo thực
hiện Quyền con người, các bản Hiến pháp của nước ta với vai trò là một đạo luật cơ
bản của Nhà nước, đã có nhiều quy định khẳng định Quyền con người, quyền công
dân và một trong những quyền được Hiến pháp nước ta bảo vệ đó chính là Quyền
bào chữa trong các vụ án hình sự. Để nhìn nhận tổng quan được Quyền bào chữa là
gì và cơ sở cho việc phải bảo đảm Quyền bào chữa trong các vụ án hình sự thì trước
hết, cần nhìn nhận đúng thế nào là Quyền bào chữa và làm rõ được những đặc điểm
của Quyền bào chữa.
1.1.1. Quyền bào chữa trong các vụ án hình sự
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về Quyền bào chữa bởi vì đây là
một chế định quan trọng, phức tạp, nó vừa mang tính lý luận và vừa mang tính thực
tế. Từ trước đến nay có nhiều bài nghiên cứu đã đưa ra nhiều quan điểm về cách
hiểu thế nào là Quyền bào chữa nhưng nhìn chung có thể nêu ra một số các quan
điểm nhìn nhận sau:
Quan điểm thứ nhất [20, tr.14] cho rằng Quyền bào chữa là tổng hòa tất cả
các hành vi tố tụng hướng tới việc bãi bỏ sự buộc tội và xác định Bị can không có
lỗi hoặc nhằm làm giảm trách nhiệm của Bị can.
Quan điểm thứ hai [28, tr.18] cho rằng, Quyền bào chữa được hiểu rộng hơn,
nó không chỉ dừng lại ở việc bác bỏ sự buộc tội và xác định Bị can không có lỗi hay
làm giảm trách nhiệm của Bị can mà nó còn được thể hiện trong cả việc đảm bảo
các quyền và lợi ích được pháp luật bảo vệ của Bị can kể cả khi chúng không trực
tiếp liên quan đến việc làm giảm trách nhiệm của Bị can trong vụ án.
Quan điểm thứ ba [40, tr.12] cho rằng, Quyền bào chữa không chỉ thuộc về
những chủ thể nào liên quan trực tiếp đến việc buộc tội và cần phải phản bác lại
việc buộc tội đó hoặc để giảm nhẹ các trách nhiệm hình sự do việc buộc tội gây ra
thì mới có thể trở thành chủ thể của Quyền bào chữa.
Tóm lại, Quyền bào chữa của Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo là tổng hợp
tất cả các hành vi/ phương thức mà pháp luật quy định cho Người bị tạm giữ, Bị
8
can, Bị cáo sử dụng trong các giai đoạn của quá trình TTHS để chống lại sự
buộc tội hoặc làm giảm trách nhiệm hình sự cho họ.
Với khái niệm Quyền bào chữa như trên, chúng ta có thể rút ra được một số
đặc điểm của Quyền bào chữa như sau:
a) Chủ thể của Quyền bào chữa:
Theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam thì chủ thể của tội phạm là cá
nhân cho nên chủ thể của Quyền bào chữa cũng là cá nhân và được quy định tại
Điều 11 BLTTHS quy định:
“Điều 11: Bảo đảm Quyền bào chữa của Người bị tạm giữ, Bị can, Bị
cáo: Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người
khác bào chữa. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có trách nhiệm bảo đảm
cho Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo thực hiện Quyền bào chữa của họ theo quy
định của Bộ luật này”.
Theo quy định của BLTTHS cũng như tác giả đã đề cập ở trên thì chủ thể
chính của Quyền bào chữa này chỉ có thể là Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo. Các
Cơ quan tiến hành tố tụng khi thực hiện các hoạt động tố tụng trong suốt quá trình
giải quyết vụ án phải có nghĩa vụ đảm bảo Quyền bào chữa này cho Người bị tạm
giữ, Bị can, Bị cáo.
Quy định trên của BLTTHS 2003 so với BLTTHS 1988 quy định về Người
bào chữa thì BLTTHS 2003 có nhiều sửa đổi, bổ sung nhằm bảo đảm việc xét xử
dân chủ, khách quan, công bằng hơn theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày
thức mà Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo sử dụng các quyền mà pháp luật quy
định cho họ trong việc chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ tội cho mình.
Như vậy, Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo được sử dụng những hiểu biết về
pháp luật của mình để chống lại sự buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
của mình. Họ có thể thực hiện quyền tự bào chữa của mình bằng cách đề xuất
chứng cứ, nhận xét và đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu, tranh luận trước tòa,
kháng cáo bản án hay quyết định của tòa án.
Đối với phương thức thứ hai là thực hiện Quyền bào chữa thông qua người
bào chữa. Việc thực hiện thông qua Người bào chữa có thể xem là một phương thức
thực hiện Quyền bào chữa phổ biến.
Hiện nay, trong BLTTHS cũng như các văn bản pháp luật có liên quan đều
không có quy định cụ thể nào liên quan đến khái niệm người bào chữa. Tuy nhiên
thông qua các Điều 56, Điều 57, Điều 58 BLTTHS có thể nhận định rằng Người bào
chữa là người được Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo, Người đại diện hợp pháp của
họ, những người khác được Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo ủy quyền mời hoặc
10
được Cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu Đoàn Luật sư phân công Văn phòng Luật
sư cử hoặc đề nghị Mặt trận tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử
để bào chữa cho Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo nhằm làm sáng tỏ những tình tiết
gỡ tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo
và giúp đỡ họ về mặt pháp lý.
Theo khoản 1 Điều 56 BLTTHS quy định:
“Điều 56. Người bào chữa
1. Người bào chữa có thể là:
a) Luật sư;
b) Người đại diện hợp pháp của Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo;
c) Bào chữa viên nhân dân.”
pháp luật nay nghỉ hưu. Vậy những người này có được bào chữa cho người bị tạm
giữ, Bị can, Bị cáo hay không? Về vấn đề này, tuy còn nhiều ý kiến khác nhau,
nhưng thực tiễn xét xử Toà án đã công nhận và cấp Giấy chứng nhận cho họ để họ
thực hiện việc bào chữa cho Bị cáo.
Bào chữa viên nhân dân là người được tổ chức, đoàn thể xã hội cử ra để
bào chữa cho Bị cáo. Chế định Bào chữa viên nhân dân không phải là một chế định
mới mà nó đã xuất hiện từ rất lâu. Ngày 10.10.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay
mặt Chính phủ lâm thời ban hành Sắc lệnh số 46-SL quy định tổ chức các đoàn thể
Luật sư và đến ngày 18.6.1949, Hồ Chủ tịch đã ban hành Sắc lệnh số 69-SL cho
phép các Bị can có thể nhờ một công dân không phải là Luật sư bênh vực cho mình
trước các Toà án - sau này gọi là các Bào chữa viên nhân dân [51]. Việc ban hành
Sắc lệnh số 69 thể hiện tính ưu việt của chế độ mới - mọi người đều bình đẳng trước
pháp luật, không phân biệt xuất thân, thành phần, dân tộc, giai cấp...
Tuy nhiên, từ đó đến nay chế định Bào chữa viên nhân dân chưa được cụ thể
hoá, quy định chi tiết ở bất cứ văn bản pháp luật nào. Do chưa có quy định cụ thể
nên hầu như chưa có sự tham gia của các Bào chữa viên nhân dân tại các phiên tòa
kể cả hình sự lẫn dân sự, hành chính... Mặc dù, tại điểm c Điều 56 của Bộ luật
TTHS quy định về Người bào chữa, trong đó có nêu sự tham gia của Bào chữa viên
nhân dân trong các phiên tòa để bảo vệ quyền lợi cho Bị can, Bị cáo, Người bị hại...
Thực tế hiện nay hoạt động của Bào chữa viên nhân dân cũng không được tổ chức
thành một hệ thống, chưa có quy định nào cụ thể, chi tiết về điều kiện, tiêu chuẩn để
được công nhận là Bào chữa viên nhân dân, hiện nay trong xã hội có nhiều người có
trình độ pháp lý có hiểu biết về công việc bào chữa nhưng họ chưa được kết nạp
vào đoàn Luật sư và họ lại được Bị can, Bị cáo nhờ bào chữa.
12
Có thể nói, việc bảo đảm Quyền bào chữa thông qua Người bào chữa là một
đảm bảo rất quan trọng vì nhiều trường hợp Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo không
pháp của mình. Về vấn đề này hiện nay trong quy định tại Điều 11 BLTTHS có thể
gây ra sự nhầm lẫn bởi cách dùng từ. Điều luật này thể hiện Người bị tạm giữ, Bị can,
Bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình. Như tác giả đã
phân tích ở trên, việc Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo nhờ người khác bào chữa cho
mình không đương nhiên làm mất đi quyền tự bào chữa của họ do vậy việc dùng từ
“hoặc” trong quy định tại Điều 11 BLTTHS là không chính xác mà nên thay thế bằng
từ “và” để thực hiện và hiểu đúng được tinh thần và nội hàm của nó.
c) Cách thức tham gia bào chữa của Người bào chữa trong việc bảo đảm
Quyền bào chữa:
Hiện nay, việc Người bào chữa tham gia vào các hoạt động TTHS để bào
chữa cho Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo được thực hiện dựa trên hai phương thức
chính là (i) Người bào chữa tham gia vụ án dựa trên sự lựa chọn của Người bị tạm
giữ, Bị can, Bị cáo hoặc (ii) Người bào chữa tham gia vụ án trên cơ sở yêu cầu của
của Cơ quan tiến hành tố tụng (bào chữa chỉ định hoặc bào chữa bắt buộc).
Ở phương thức thứ nhất, theo quy định tại khoản 1 Điều 57 BLTTHS quy
định, Người bào chữa do Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo hoặc Người đại diện hợp
pháp của họ lựa chọn. Như vậy, việc Người bào chữa tham gia vào quá trình tố tụng
để thực hiện việc bào chữa cho Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo là hoàn toàn phụ
thuộc vào ý chí và sự lựa chọn của người có Quyền bào chữa.
Việc Người bào chữa tham gia bào chữa với tư cách là Người bào chữa do
người có Quyền bào chữa lựa chọn phải đáp ứng được các yêu cầu của pháp luật
TTHS để có thể được tham gia vào vụ án với tư cách là người bào chữa. Theo quy
định tại khoản 4 Điều 56 BLTTHS thì trong thời hạn luật định, sau khi nhận được
đầy đủ hồ sơ về việc xin tham gia bào chữa trong vụ án hình sự thì Cơ quan có thẩm
quyền ở đây là Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án sẽ tiến hành xem xét và
cấp Giấy chứng nhận bào chữa cho người xin tham gia bào chữa để họ có thể thực
hiện việc bào chữa của mình, nếu từ chối việc cấp Giấy chứng nhận bào chữa thì
phải có lý do được thể hiện bằng văn bản. Như vậy, việc Người bào chữa do sự lựa
chọn của Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo chỉ được thực hiện khi được sự chấp
viên nhân dân làm Người bào chữa chỉ định hầu như không có do tính chất của yêu
cầu của việc phải có Người bào chữa chỉ định cũng như trình độ năng lực của hai
loại Người bào chữa đã nêu còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu thực sự của
15
việc bào chữa chỉ định đề ra.
Bào chữa chỉ định (bào chữa bắt buộc) được quy định cụ thể tại khoản 2
Điều 57 BLTTHS và được hướng dẫn chi tiết tại Chương II của Nghị quyết
03/2004/NQ-HĐTP ngày 02/10/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao về hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định
chung” của Bộ luật TTHS năm 2003.
“Điều 57. Lựa chọn và thay đổi người bào chữa
…
2. Trong những trường hp sau đây, nếu Bị can, Bị cáo hoặc Người đại diện
hợp pháp của họ không mời Người bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát
hoặc Tòa án phải yêu cầu Đoàn Luật sư phân công Văn phòng Luật sư cử Người
bào chữa cho họ hoặc đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành
viên của Mặt trận cử Người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình:
a) Bị can, Bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình
được quy định tại Bộ luật hình sự;
b) Bị can, Bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm
thần hoặc thể chất.
Trong các trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này, Bị
can, Bị cáo và Người đại diện hợp pháp của họ vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc
từ chối người bào chữa”.
Với quy định trên, khi Bị can, Bị cáo bị điều tra, truy tố và xét xử về tội theo
khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình thì việc có Người bào chữa được xem là
mang tính thận trọng, khách quan và để tránh phạm phải những sai lầm không khắc
có thể sử dụng những hình thức bào chữa khác nhau mà pháp luật cho phép như đã
phân tích ở trên để bảo vệ các quyền và lợi ích của họ. Như vậy mục đích và vai trò
cuối cùng của Quyền bào chữa chính là bảo vệ quyền và lợi ích cho chính người có
Quyền bào chữa hay nói cách khác là dùng để chống lại sự buộc tội hoặc làm giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự cho chính họ. Chúng ta có thể thấy rằng, chỉ có những
Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo là những người bị buộc tội trong quá trình TTHS
nên chỉ có họ mới là người có Quyền bào chữa và cái mục đích cuối cùng mà họ
muốn hướng đến là đem lại sự “trong sạch” cho mình, khẳng định mình không có
tội hoặc để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của mình.
Về nguyên tắc, bào chữa là sự gỡ tội và ở đâu bắt đầu có buộc tội thì ở đó sẽ
có bào chữa. Do vậy, các chủ thể thực hiện Quyền bào chữa trong tất cả các giai
đoạn TTHS, từ ngay khi bị “tình nghi” là thực hiện tội phạm cho đến khi bị kết án
17
bằng một bản án đã có hiệu lực pháp luật. Đó chính là lý do mà BLTTHS đã bổ
sung diện chủ thể của Quyền bào chữa mở rộng sang cả người bị tạm giữ mà không
chỉ là Bị can, Bị cáo như trước đây. Cũng theo lý luận và pháp luật thực định thì
hiện nay các giai đoạn TTHS gồm khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và Thi hành án
hình sự. Trong mỗi giai đoạn đó, các Cơ quan tiến hành tố tụng trong phạm vi chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình đã nhân danh Nhà nước, áp dụng các biện
pháp tố tụng luật định để làm rõ các tình tiết vụ án, xác định tội phạm, người phạm
tội và kết thúc bằng việc Tòa án ra bản án, quyết định áp dụng pháp luật, qua đó xác
định trách nhiệm hình sự cho người đã thực hiện tội phạm. Song song với tiến trình
tố tụng đó, Quyền bào chữa được thực hiện bằng các cách thức và phương thức như
đã phân tích trên nhưng trung tâm nhất là trong giai đoạn xét xử.
Tòa án nhân dân là Cơ quan xét xử của nước ta, có nhiệm vụ bảo vệ công
lý, bảo vệ Quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Để có thể thực hiện được chức năng xét
tục trình tự phiên tòa từ xét hỏi cho đến phần tranh luận, người có Quyền bào chữa
sẽ tự mình dùng những lý lẽ, lập luận để phản bác, tranh luận lại các cáo buộc đối
với mình, thực hiện việc đề xuất chứng cứ, nhận xét và đánh giá chứng cứ, đưa ra
các yêu cầu, tranh luận trước tòa, kháng cáo bản án hay quyết định của tòa án…Như
vậy hoạt động bào chữa của Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo được thực hiện theo
một trình tự nhất định để họ có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình, thực
hiện việc bác bỏ cáo buộc hay giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho chính bản thân họ.
Hoạt động bào chữa của Người bào chữa là hoạt động thực hiện việc bào
chữa bằng cách sử dụng tất cả các quyền do pháp luật quy định để chứng minh sự
vô tội cho Bị can, Bị cáo và Người bị tạm giữ cũng như làm giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự cho Bị can, Bị cáo, Người bị tạm giữ và giúp đỡ họ về mặt pháp lý. Hoạt
động bào chữa của Người bào chữa được thực hiện kể từ khi họ nhận được yêu cầu
có Người bào chữa từ Bị can, Bị cáo hoặc Người đại diện hợp pháp của Bị can, Bị
cáo hoặc khi có yêu cầu từ phía Cơ quan tiến hành tố tụng. Hoạt động bào chữa của
Người bào chữa thông thường sẽ kết thúc khi có một bản án, quyết định có hiệu lực
của Cơ quan tiến hành tố tụng. Hoạt động bào chữa của Người bào chữa được quy
định cụ thể thông qua quyền và nghĩa vụ của họ khi thực hiện việc bào chữa cho
Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo theo Điều 58 BLTTHS.
19
Tuy nhiên như trên có phân tích thì Quyền bào chữa thực hiện ở các giai
đoạn TTHS và chủ thể thực hiện là người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo. Thực ra tên gọi
của chủ thể Quyền bào chữa chỉ là tư cách tố tụng của một con người tại các giai
đoạn khác nhau của quá trình giải quyết vụ án hình sự. Quyền bào chữa thể hiện tập
trung và đầy đủ nhất trong giai đoạn xét xử và tại phiên tòa, khi vụ án đã có quyết
định đưa ra xét xử và là quyền của Bị cáo.
Theo quy định của pháp luật thì Tòa án Việt Nam thực hiện chế độ 2 cấp xét
xử (Điều 20 BLTTHS năm 2003). Xét xử vụ án hình sự lần đầu là xét xử sơ thẩm và
của các công trình nghiên cứu mang tính quốc tế đến định nghĩa về Quyền con
người tại Việt Nam. Theo định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hiệp quốc thì
Quyền con người được hiểu là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ
các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn hại
đến nhân phẩm, tự do cơ bản của con người [59]. Ở Việt Nam, còn tồn tại nhiều
định nghĩa khác nhau về Quyền con người nhưng nhìn chung Quyền con người
được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người
được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận quốc tế. Trong
phạm vi nghiên cứu, Luận văn không tập trung đi sâu về nghiên cứu thế nào là
Quyền con người mà chỉ giới thiệu một cách tổng quan, khái quát nhất về Quyền
con người như trên.
Điều 50 Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi bổ sung năm 2001) xác định
“Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các Quyền con người về chính trị,
dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và
được quy định trong Hiến pháp và luật”. Trên tinh thần khẳng định Quyền con
người của Hiến pháp, Điều 132 Hiếp pháp 1992 cũng như Điều 11 BLTTHS đã quy
định về Quyền bào chữa của Bị can, Bị cáo, Người bị tạm giữ. Như đã phân tích,
xuất phát từ nguyên tắc suy đoán vô tội do đó không ai bị coi là có tội khi chưa có
bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực, do vậy Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo
được đảm bảo các Quyền con người, Quyền công dân và trong hoạt động TTHS thì
quyền này được thể hiện bằng Quyền bào chữa của họ. Quyền bào chữa với vai trò
là một chế định cho phép Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo có Quyền bào chữa cho
mình bằng việc tự bào chữa hoặc thông qua Người bào chữa để áp dụng các quyền
theo luật định để chứng minh cho sự vô tội của mình hoặc để giảm bớt trách nhiệm
hình sự do việc buộc tội gây ra. Các Cơ quan tiến hành tố tụng có nghĩa vụ phải
21