Bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự của viện kiểm sát nhân dân - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

DƢƠNG THỊ NGỌC LOAN

b¶o ®¶m quyÒn con ng-êi
trong giai ®o¹n khëi tè, ®iÒu tra
vô ¸n h×nh sù cña viÖn kiÓm s¸t nh©n d©n

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

DƢƠNG THỊ NGỌC LOAN

b¶o ®¶m quyÒn con ng-êi
trong giai ®o¹n khëi tè, ®iÒu tra
vô ¸n h×nh sù cña viÖn kiÓm s¸t nh©n d©n
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. PHẠM MẠNH HÙNG

HÀ NỘI - 2015


con ngƣời trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự .................. 9

1.1.1. Khái niệm quyền con người ................................................................. 9
1.1.2.

Quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự......... 10

1.1.3. Bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ
án hình sự ........................................................................................... 23
1.2.

Vị trí, vai trò bảo đảm quyền con ngƣời của Viện kiểm sát
nhân dân trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự ..... 26

1.2.1. Vai trò bảo đảm quyền con người của Viện kiểm sát nhân dân
trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự................................................. 27
1.2.2. Vai trò bảo đảm quyền con người của Viện kiểm sát trong giai
đoạn điều tra vụ án hình sự ................................................................ 29
1.3.

Khái quát các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về đảm
quyền con ngƣời trong giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình
sự của Viện kiểm sát nhân dân qua các giai đoạn lịch sử trƣớc
khi ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 .......................... 33

1.3.1. Giai đoạn trước khi ban hành Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
năm 1960 ............................................................................................ 33


1.3.2. Giai đoạn từ 1960 đến trước khi BLTTHS 1988 ra đời ..................... 35

kiểm sát nhân dân trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự............72

Chƣơng 3: HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ
TỤNG HÌNH SỰ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG
CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT
NHÂN DÂN TRONG VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON
NGƢỜI TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA CÁC
VỤ ÁN HÌNH SỰ ............................................................................. 77
3.1.

Hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự................... 77


3.1.1. Hoàn thiện một số nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự ................ 77
3.1.2. Hoàn thiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự liên quan
đến nhiệm vụ, quyền hạn, và trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân
dân trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự nhằm bảo
đảm quyền con người ......................................................................... 83
3.2.

Một số giải pháp khác nhằm nâng cao vai trò của viện kiểm sát
nhân dân trong việc bảo đảm quyền con ngƣời trong giai đoạn
khởi tố, điều tra các vụ án hình sự ................................................. 89

3.2.1. Nâng cao nhận thức của dội ngũ cán bộ Kiểm sát viên về quyền
con người và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc bảo đảm
quyền con người ................................................................................. 89
3.2.2. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cả về năng lực
trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp ................................... 91
3.2.3. Tổ chức thực hiện tốt chủ trương “Tăng cường trách nhiệm công tố


734

Bảng 2.4: Số vụ án Tòa án trả điều tra bổ sung 05 năm 2010-2014

74

Bảng 2.5: Số vụ án, bị can đình chỉ điều tra trong 05 năm 2010-2014

74

Bảng 2.6: Số người bị tạm giữ, tạm giam quá hạn trong 05 năm
2010-2014

75


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày 08/12/1956, tại lớp Nghiên cứu Chính trị khóa hai trường Đại học
nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Trong bầu
trời không gì quý bằng nhân dân” [29, tr. 276]. Nhân dân là những con người
cụ thể có những quyền thiêng liêng, không ai có thể xâm phạm được. Kế thừa
tư tưởng ấy, trong việc thực hiện và hoạch định các chính sách phát triển kinh
tế - xã hội, an ninh - quốc phòng những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta
đã đặt “Con người” là trung tâm - chủ thể của chiến lược, quá trình phát triển.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã nêu rõ: “Con người là trung tâm của
chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ
quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất

Thực tiễn cho thấy, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc bảo
đảm quyền con người trong hoạt động tố tụng hình sự nói chung và việc bảo
đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra nói riêng đã đạt được
những kết quả nhất định. Các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân về cơ
bản đã được bảo đảm, đã hạn chế được tình trạng oan, sai. Tuy nhiên, thực
tế vẫn còn có nhiều trường hợp các cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là Cơ
quan điều tra chưa bảo đảm thực hiện đầy đủ các quyền con người, quyền
công dân, thậm chí là vi phạm quyền con người trong hoạt động tố tụng hình
sự (có thể là các cơ quan tố tụng và những người tiến hành tố tụng lạm dụng
việc bắt giữ, khởi tố, bắt tạm giam sau đó phải đình chỉ điều tra do không
phạm tội…). Để xảy ra những vi phạm, thiếu sót đó, có trách nhiệm của
Viện kiểm sát nhân dân chưa thực hiện được đầy đủ vai trò, trách nhiệm của
mình trong hoạt động tố tụng hình sự, đặc biệt là trong giai đoạn khởi tố điều tra các vụ án hình sự.

2


Việc nghiên cứu vấn đề bảo đảm quyền con người của Viện kiểm sát
nhân dân trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình để đánh giá thực
trạng, làm rõ nguyên nhân và đề xuất những giải pháp hoàn thiện bộ luật tố
tụng hình sự, là hết sức cần thiết, góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ,
kiểm sát viên về vai trò, trách nhiệm, quyền hạn của mình trong việc thực
hiện chức trách, nhiệm vụ được phân công, nhằm nâng cao hiệu quả công tác
đấu tranh phòng chống tội pha ̣m, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã
hội, bảo đảm các quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Với lý do đó, học viên đã chọn đề tài “Bảo đảm quyền con người
trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân
dân”, làm đề tài Luận văn thạc sĩ Luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về quyền con người và

Nội, bảo vệ năm 2014; Luận văn thạc sĩ “Viện kiểm sát với vai trò bảo vệ
quyền con người trong tố tụng hình sự Việt Nam”, của Nguyễn Thị Phương
Nga, Hà Nội, năm 2014; Luận văn thạc sĩ “Bảo vệ quyền con người trong giai
đoạn điều tra các vụ án hình sự ở Việt Nam”, của Nguyễn Thị Hạnh Quyên,
Hà Nội, năm 2014…
Các bài viết khoa học đăng tải trên các báo pháp luật, tạp chí nghiên
cứu khoa học như: Bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật tố tụng hình
sự Việt Nam: Những vấn đề lý luận cơ bản, của GS. TS Lê Văn Cảm, Báo
Dân chủ và Pháp luật - Bộ Tư pháp, Số 7/2010; Những vấn đề chung về bảo
vệ các quyền con người bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự, của
GS. TSKH Lê Văn Cảm, Báo Khoa học pháp lý, Trường Đại học Luật Thành
phố Hồ Chí Minh, Số 6/2010; “Bảo vệ quyền của người bị buộc tội trong tố
tụng hình sự”, của Thạc sĩ Đinh Thế Hưng, Viện Nhà nước và pháp luật –

4


Viện khoa học xã hội Việt Nam, năm 2010; “Hiến pháp 2013 và việc hoàn
thiện biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam trong tố tụng hình sự”, của
PGS. TS. Nguyễn Ngọc Chí, Tạp chí Khoa học Đại học quốc gia Hà Nội:
Luật học, Tập 30, số 3/2014…
Các công trình khoa học, bài viết nêu trên, các tác giả đã luận giải
những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn về vấn đề bảo đảm quyền con người
nói chung hoặc quyền con người của một nhóm đối tượng nhất định (như
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nói chung hoặc người chưa thành niên là
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo), trong toàn bộ quá trình tố tụng từ giai đoạn
điều tra đến giai đoạn xét xử, hoặc chỉ tập trung vào giai đoạn xét xử vụ án
hình sự. Trong Luận văn, chúng tôi tiếp tục nghiên cứu về vấn đề bảo đảm
quyền con người nhằm đưa ra những đánh giá về thực trạng bảo đảm quyền
con người của Viện kiểm sát nhân dân, từ đó đề ra những giải pháp hoàn thiện

của một số quy định pháp luật và hạn chế, bất cập trong thực tiễn hoạt động
của Viện kiểm sát nhân dân thực hiện vai trò bảo đảm quyền con người trong
giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự những năm qua.
+ Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao trách nhiệm của Viện kiểm sát
nhân dân trong việc bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều
tra các vụ án hình sự theo Bộ luật tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay.
3.3. Phạm vi nghiên cứu của Luận văn
Luận văn phân tích, đánh giá những vấn đề lý luận và thực tiễn có liên
quan đến vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân trong việc bảo đảm
quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự theo quy
định của Bộ luật tố tụng hình sự 2003.
Về thời gian Luận văn nghiên cứu: Những vấn đề thực tiễn liên quan
đến đề tài gắn với quá trình thi hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 trong
05 năm (2010-2014).

6


4. Cơ sở phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa
Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam về Nhà nước và pháp luật, về quyền con người, các quan điểm của Đảng
về cải cách tư pháp, về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã sử dụng các phương pháp cụ thể
và đặc thù của khoa học Luật tố tụng hình sự như: phương pháp phân tích và
tổng hợp, lịch sử cụ thể, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn. Ngoài ra, Luận văn
cũng sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể khác như:
phương pháp logic, các phương pháp so sánh, đối chiếu, thống kê... để tổng
hợp các tri thức khoa học và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên

người trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự.

8


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VỊ TRÍ, VAI TRÒ BẢO ĐẢM
QUYỀN CON NGƢỜI CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG
GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm quyền con ngƣời, quyền con ngƣời và bảo đảm
quyền con ngƣời trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự
1.1.1. Khái niệm quyền con người
Theo nhiều tài liệu nghiên cứu cho thấy tư tưởng về quyền con người
đã xuất hiện từ rất sớm và có nhiều quan điểm khác nhau về quyền con người.
Có thể chia thành ba nhóm quan điểm về quyền con người như sau:
- Quan điểm thứ nhất: Quyền con người là đặc quyền tự nhiên. Đặc
quyền tự nhiên này do pháp luật tự nhiên đứng trên, cao hơn pháp luật thực
định. Các quyền này không một xã hội hay một chính phủ nào có thể ban
phát, xóa bỏ hoặc “chuyển nhượng” và nó không phụ thuộc vào phong tục,
tập quán, truyền thống văn hóa hay ý chí của bất cứ cá nhân, giai cấp, tầng
lớp, tổ chức, cộng đồng hay nhà nước nào.
- Quan điểm thứ hai: Trái với quan điểm thứ nhất, quan điểm này cho
rằng các quyền con người không phải những gì bẩm sinh, vốn có một cách tự
nhiên, không thể bị tước bỏ, quyền con người là quyền pháp lý và nó phụ
thuộc vào ý chí của tầng lớp thống trị cũng như các yếu tố phong tục, tập
quán, truyền thống văn hóa… của các xã hội.
- Quan điểm thứ ba: Là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề
quyền con người. Xuất phát từ việc coi con người là một thực thể tự nhiên, mang
đặc tính xã hội, do đó, chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng vấn đề quyền con người:
"Về bản chất bao hàm cả hai mặt tự nhiên và xã hội” [2]. Quyền con người là một

1.1.2.1. Quyền con người trong tố tụng hình sự
Như trên đã phân tích, quyền con người là phạm trù phức tạp, nó liên

10


quan đến nhiều ngành khoa học như luật học, triết học, xã hội học, chính trị
học, đạo đức học… Nhưng gần gũi hơn cả là luật học, bởi về nguyên tắc, các
nhà nước trên thế giới chỉ bảo đảm thực hiện những quyền pháp lý – những
nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người đã được pháp luật thừa nhận
và bảo vệ. Pháp luật xác lập và bảo vệ sự bình đẳng giữa các cá nhân con
người trong xã hội và sự độc lập tương đối của các cá nhân với tập thể, cộng
đồng, nhà nước, thông qua việc pháp điển hóa các quyền và tự do tự nhiên, vốn
có của cá nhân. Nói cách khác pháp luật chính là phương tiện để thực hiện quá
trình chuyển hóa quyền tự nhiên thành những quyền con người. Pháp luật đóng
vai trò là công cụ giúp nhà nước bảo đảm sự tuân thủ, thực thi các quyền con
người của các chủ thể khác nhau trong xã hội, đồng thời cũng là công cụ của
các cá nhân trong việc bảo vệ các quyền con người của chính họ thông qua việc
vận dụng các quy phạm và cơ chế pháp lý quốc gia và quốc tế [13, tr. 46 - 48].
Vì vậy, pháp luật có vai trò đặc biệt, không thể thay thế trong việc ghi nhận,
đảm bảo việc thực hiện quyền con người và thúc đẩy các quyền con người.
Hiện nay, quyền con người trong lĩnh vực tố tụng hình sự, được các
nhà nghiên cứu rất quan tâm, nhất là trong quá trình triển khai, thi hành Hiến
pháp 2013, khi mà quyền con người được nhắc đến và ghi nhận một cách chi
tiết, cụ thể hơn.
Có thể nói, trong tố tụng hình sự, quyền con người được thể hiện trên
hai khía cạnh: Thứ nhất, việc phát hiện, ngăn chặn, xử lý, khắc phục những
thiệt hại và trừng trị những người phạm tội gây ra những thiệt hại cho quyền
và lợi ích hợp pháp của con người, cũng như đấu tranh chống và phòng ngừa
tội phạm, là góp phần bảo vệ quyền con người, quyền công dân [11, tr. 13].

Tòa án có thể quyết định không chậm trễ về tính hợp pháp của việc giam giữ
và trả lại tự do cho họ, nếu giam giữ là bất hợp pháp. Trong trường hợp sử
dụng tạm giữ, tạm giam như là một biện pháp ngăn chặn, việc này không
được tiến hành một cách tùy tiện mà phải tiến hành dựa theo các trình tự thủ

12


tục theo quy định của pháp luật, đồng thời phải đảm bảo được quyền được
Tòa án quyết định tính hợp pháp của việc giam giữ, quyền được yêu cầu bồi
thường trong trường hợp bị bắt hoặc bị giam giữ bất hợp pháp.
Bên cạnh đó, về nguyên tắc, không được phép đối xử với bị can theo
cách thức trái với Điều 7 của Công ước chống tra tấn và các hình thức trừng
phạt hay đối xử tàn ác vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm, để buộc bị can
phải thú tội. “Pháp luật quốc gia phải đảm bảo những lời khai, những lời
nhận tội có được bằng phương thức trái với nguyên tắc không được coi là
chứng cứ, trừ khi chúng được sử dụng làm bằng chứng của việc tra tấn hoặc
những đối xử khác trái quy định”. Công ước trên cũng xác định trách nhiệm
thuộc về nhà nước trong việc phải chứng minh rằng những lời khai của bị cáo
là do họ tự nguyện trình bày.
- Quyền được xét xử công bằng bởi một thủ tục TTHS và tòa án công
bằng, công khai. Ðiều 10 Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người quy định:
“Mọi người đều bình đẳng về quyền được xét xử công bằng và công khai
trước một tòa án độc lập và khách quan, để xác định các quyền và nghĩa vụ
của họ, cũng như để phán quyết về bất cứ sự buộc tội nào với họ”.
Theo đó, Điều 14 (1) Công ước quốc tề về các quyền dân sự và chính
trị cũng quy định: “Mọi người đều bình đẳng trước các tòa án và cơ quan tài
phán. Mọi người đều có quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một
tòa án có thầm quyền, độc lập, không thiên vị và được lập ra trên cơ sở pháp
luật để quyết định về lời buộc tội người đó trong các vụ án hình sự..”

kinh nghiệm và năng lực phù hợp với tính chất của tội phạm đã quy kết cho
họ về mặt pháp lý một cách hiệu quả và miễn phí nếu họ không có đầy đủ khả
năng chi trả cho những dịch vụ như vậy.
+ Quyền được thông tin: Quy định tại Điều 9 (2) ICCPR, Nguyên tắc
10, 11 (2), 13, 14 của Tập hợp các nguyên tắc về bảo vệ tất cả những người bị
giam hay tù bất kỳ hình thức nào, Điều 7 (4), Điều 8 (2) (B) Công ước Châu

14


Mỹ về quyền con người, Điều 5 (2) Công ước châu Âu về bảo vệ quyền con
người và tự do cơ bản), tức là, bất cứ ai bị bắt đều có quyền được biết chính
xác lý do khiến mình bị bắt và được thông báo kịp thời về bất cứ cáo buộc
nào chống lại mình. Nguyên tắc 14, Nguyên tắc 16 (2) Tập hợp các nguyên
tắc về bảo vệ tất cả những người bị giam hay tù dưới bất kỳ hình thức nào,
Điều 36 Công ước Viên về quan hệ lãnh sự thì một người bị bắt, giam giữ hay
bị tù có quyền được hiểu đầy đủ các thông tin qua ngôn ngữ mình hiểu thông
qua sự trợ giúp miễn phí của phiên dịch. Quyền này đặc biệt có ý nghĩa với
người nước ngoài hoặc người thuộc dân tộc thiểu số, nhằm bảo đảm quyền
bào chữa cho những người này.
+ Quyền được tiếp cận với thế giới bên ngoài: là biện pháp bảo vệ cơ
bản chống lại vi phạm nhân quyền như tra tấn, ngược đãi và mất tích.
Nguyên tắc 15, 16 (1) (4), 19, 24 Tập hợp các nguyên tắc bảo vệ tất cả
những người bị giam hay tù dưới bất kỳ hình thức nào. Một người bị giam tù
có quyền được các thành viên trong gia đình người đó đến thăm, trao đổi thư
từ và phải được tạo cơ hội đầy đủ để liên lạc với thế giới bên ngoài, nhưng
vẫn phải tuân thủ những điều kiện và hạn chế hợp lý do luật pháp hay các
quy chế hợp pháp quy định.
Một người bị giam hay cầm tù là người nước ngoài thì người đó cũng
phải được thông báo ngay về quyền được liên lạc, bằng các phương tiện thích

Cụ thể, trong giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nhà xuất Đại
học Quốc gia Hà Nội, 2014, do PGS. TS. Nguyễn Ngọc Chí chủ biên đưa ra
định nghĩa:
Quyền con người trong lĩnh vực tố tụng hình sự là tổng hợp
các quyền thuộc nhóm quyền dân sự, chính trị, nhằm mục đích khẳng
định việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tôn trọng danh dự, nhân phẩm
của con người trong mọi hoàn cảnh cũng như bảo đảm việc xét xử
công bằng bởi một tòa án độc lập khách quan đối với những người

16


yếu thế (người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án và những
người tham gia tố tụng khác) khỏi sự tùy tiền và sự lạm quyền của
các cơ quan và nhân viên nhà nước trong các hoạt động tố tụng hình
sự [11, tr. 43].
Theo định nghĩa trên, đối tượng của quyền con người trong tố tụng hình
sự là quyền của những nhóm người yếu thế, dễ bị tổn thương trong xã hội,
bao gồm 03 nhóm sau:
- Người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (gọi chung là nhóm
người bị tình nghi phạm tội);
- Người người phạm tội đã bị kết án và phải chấp hành hình phạt do
Tòa án tuyên;
- Những người tham gia tố tụng hình sự do có quyền và lợi ích liên
quan đến vụ án, như người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người
làm chứng…
Còn trong bài viết “Bảo vệ quyền của người bị buộc tội trong tố tụng
hình sự” của Th.S Đinh Thế Hưng - Viện Nhà nước và Pháp luật - Viện Khoa
học xã hội Việt Nam, năm 2010 thì: “Quyền con người trong Tố tụng hình sự
là những giá trị thiêng liêng chỉ dành cho con người khi họ tham gia quan hệ

quyết vụ án một cách chính xác, khách quan, đúng pháp luật, góp phần củng
cố pháp chế và trật tự pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
Ở Việt Nam, tố tụng hình sự được chia thành bốn giai đoạn, gồm: Giai
đoạn khởi tố vụ án hình sự; Giai đoạn điều tra và truy tố; Giai đoạn xét xử;
Và giai đoạn thi hành bản án và quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
Các giai đoạn tố tụng trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Giai đoạn đầu
làm cơ sở pháp lý, tạo tiền đề cho hoạt động của giai đoạn sau, giai đoạn sau
kiểm tra tính có căn cứ, đúng pháp luật trong hoạt động của giai đoạn trước.
Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên trong quá trình
giải quyết vụ án hình sự. Trong giai đoạn này, các cơ quan có thẩm quyền

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status