MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cải cách tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư
pháp trong đó có Viện kiểm sát (VKS) là một đòi hỏi có tính cấp bách của
Đảng, Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ IX đã chỉ rõ: "Viện kiểm sát nhân dân tập trung làm tốt chức
năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp", yêu cầu trên đã được thể chế
hóa trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) và Luật tổ chức VKS năm 2002.
Kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án
hình sự thể hiện chức năng của VKS, bảo đảm hoạt động khởi tố - điều tra
đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; không để lọt tội phạm và người phạm
tội, không làm oan người vô tội. Đồng thời còn là biểu hiện của việc thực hiện
quyền lực nhà nước góp phần ổn định xã hội, phát triển kinh tế và bảo vệ
pháp chế xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, Nghị quyết số 08/NQTW ngày 2/1/2002
của Bộ chính trị đã đặt ra yêu cầu: "Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức
năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp.
Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong
suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm
tội, không làm oan người vô tội, xử lý kịp thời những trường hợp sai phạm
của những người tiến hành tố tụng làm nhiệm vụ... Tăng cường công tác kiểm
sát việc bắt, giam, giữ, bảo đảm đúng pháp luật; những trường hợp chưa cần
bắt, tạm giữ, tạm giam thì kiên quyết không phê chuẩn lệnh bắt, tạm giữ, tạm
giam; phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp oan, sai trong bắt, giữ. Viện
kiểm sát các cấp chịu trách nhiệm về những oan, sai trong việc bắt, tạm giữ,
tạm giam thuộc phạm vi thẩm quyền phê chuẩn của mình". Để đáp ứng yêu
cầu này ngành kiểm sát phải không ngừng nâng cao chất lượng thực hiện
chức năng của mình trong quá trình giải quyết vụ án.
1
Thực tiễn những năm qua cho thấy, VKS đã cố gắng thực hiện tốt
chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong khởi tố - điều tra vụ án hình sự
góp phần có hiệu quả trong đấu tranh, phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, bên
Luận văn cao học luật, năm 1996 "Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
giai đoạn khởi tố điều tra án hình sự"; tác giả Vũ Thị Xuân Nhuệ, Luận văn
cao học luật, năm 1998, "Một số hoạt động kiểm sát điều tra án kinh tế tại
thành phố Hồ Chí Minh". Các công trình khoa học nói trên mặc dù có đề cập
đến chức năng kiểm sát khởi tố - điều tra vụ án hình sự của VKS, nhưng lại
nghiên cứu đối với vụ án kinh tế hay mới dừng lại ở hoạt động nghiệp vụ
kiểm sát khởi tố - điều tra, mà chưa đi sâu làm rõ về mặt lý luận chức năng
kiểm sát hoạt động tư pháp trong khởi tố - điều tra vụ án hình sự là một trong
hai chức năng chính của VKS. Hơn nữa, các công trình khoa học đó nghiên
cứu trên cơ sở các quy định của các văn bản pháp luật quy định chức năng
kiểm sát hoạt động tư pháp trong khởi tố - điều tra vụ án hình sự trước đây,
hiện nay các văn bản pháp luật đó đã được sửa đổi, bổ sung với nhiều quy
định mới. Do vậy, hiện nay tiếp tục cần có sự nghiên cứu cụ thể và toàn diện
hơn.
Luận văn nghiên cứu tương đối toàn diện lý luận và thực tiễn chức
năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS trong điều kiện xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và cải cách tư pháp.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu chức năng "Kiểm sát hoạt động tư pháp của
Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình sự" nhằm làm rõ
bản chất của hoạt động này trong giai đoạn khởi tố - điều tra và mối liên hệ
chặt chẽ giữa các khâu kiểm sát trong hoạt động kiểm sát khởi tố - điều tra vụ
án hình sự. Luận văn cũng nghiên cứu thực trạng hoạt động kiểm sát tư pháp
của VKS trong giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình sự từ năm 1999 đến
nay. Trên cơ sở đó chỉ ra những hạn chế của hoạt động này và đề xuất giải
3
pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS trong
giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình sự.
Để thực hiện mục đích nói trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Làm sáng tỏ lý luận về giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình sự;
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về giai đoạn khởi tố - điều tra và
hoạt động kiểm sát khởi tố - điều tra trong tố tụng hình sự.
Chương 2: Pháp luật về kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn
khởi tố - điều tra vụ án hình sự.
Chương 3: Thực trạng, giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả kiểm
sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình sự.
5
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ - ĐIỀU TRA
VÀ HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT KHỞI TỐ - ĐIỀU TRA
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VÀ GIAI ĐOẠN
ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
Khi tội phạm xảy ra, việc giải quyết vụ án phải trải qua nhiều giai
đoạn và do nhiều cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện nhằm xác định chính
xác, khách quan bản chất vụ án, áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người
phạm tội. Toàn bộ quá trình giải quyết vụ án được gọi là tố tụng hình sự.
Theo định nghĩa của giáo trình Luật tố tụng hình sự Viện Nam, Khoa
luật - Đại học quốc gia Hà Nội thì: "Tố tụng hình sự là toàn bộ hoạt động của
các cơ quan tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và cá nhân, cơ quan nhà
nước, tổ chức xã hội, nhằm giải quyết vụ án khách quan, toàn diện, nhanh
chóng, chính xác và đúng pháp luật" [6].
Quá trình giải quyết vụ án hình sự được chia thành các giai đoạn, mỗi
giai đoạn tố tụng hình sự có nhiệm vụ giải quyết những yêu cầu khác nhau và
tương ứng với mỗi giai đoạn đó là chức năng cụ thể của mỗi cơ quan tiến
hành tố tụng có thẩm quyền nhằm thực hiện nhiệm vụ do pháp luật quy định.
Như vậy, giai đoạn tố tụng hình sự được hiểu:
Là bước của quá trình tố tụng hình sự tương ứng với chức
liên quan đến tin báo, tố giác về tội phạm; yêu cầu cung cấp các kết luận
thanh tra, kiểm tra liên quan đến thông tin về tội phạm để làm rõ sự việc;
khám nghiệm hiện trường thu thập dấu vết phạm tội; áp dụng biện pháp tạm
7
giữ; lấy lời khai của người bị tạm giữ; lấy lời khai của người tố giác tội phạm
v.v...
Khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng hình sự nên cũng có
thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc. Thời điểm bắt đầu của giai đoạn khởi
tố vụ án hình sự được xác định từ khi các cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện
hoặc tiếp nhận các thông tin tố giác, tin báo về tội phạm và thời điểm kết thúc
khi các cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc ra
quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Khoảng thời gian của giai đoạn khởi
tố vụ án hình sự tùy thuộc vào tính phức tạp hay không phức tạp của các tin
báo, tố giác về tội phạm mà các cơ quan tiến hành tố tụng đã tiếp nhận, thụ lý.
Theo quy định Luật tố tụng hình sự thì thời gian tối thiểu của giai đoạn khởi
tố vụ án hình sự là 20 ngày và tối đa không quá 2 tháng kể từ khi các cơ quan
tiến hành tố tụng tiếp nhận được các tin báo, tố giác về tội phạm.
Nhiệm vụ chính của giai đoạn này là chỉ xác định có hay không có
dấu hiệu của tội phạm để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định
không khởi tố vụ án hình sự. Do vậy, ở giai đoạn khởi tố vụ án hình sự các cơ
quan tiến hành tố tụng chưa thể kết luận chính xác ngay được về tội phạm và
người thực hiện hành vi phạm tội. Để kết luận chính xác các nội dung đó thì
phải chuyển qua giai đoạn tiếp theo của quá trình tố tụng hình sự đó là giai
đoạn điều tra vụ án hình sự.
Như vậy, giai đoạn khởi tố vụ án hình sự có thể hiểu: "Là giai đoạn
đầu tiên của quá trình tố tụng hình sự trong đó, các cơ quan có thẩm quyền
xác định có hay không có dấu hiệu của tội phạm để ra quyết định khởi tố vụ
án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự nhằm làm cơ sở cho
các hoạt động tố tụng tiếp theo của quá trình giải quyết vụ án hình sự" [6].
b) Đặc điểm: Từ khái niệm trên, có thể đưa ra những đặc điểm chung,
đình chỉ điều tra và tất nhiên các hoạt động tố tụng trong giai đoạn điều tra
đối với vụ án đó sẽ chấm dứt, nên trong trường hợp vụ án bị đình chỉ điều
tra thì cũng được coi là thời điểm chấm dứt giai đoạn điều tra vụ án.
Khoảng thời gian bắt đầu cho đến khi kết thúc của giai đoạn điều tra
được Luật tố tụng hình sự quy định khá cụ thể, theo đó thời hạn điều tra (kể
cả các lần gia hạn điều tra) đối với tội ít nghiêm trọng tối đa không quá 4
tháng, đối với tội nghiêm trọng không quá 8 tháng, đối với tội rất nghiêm
trọng không quá 12 tháng, đối với tội đặc biệt nghiêm trọng không quá 20
tháng kể từ khi các cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định khởi tố vụ án hình
sự. Riêng đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia ngoài các thời hạn điều tra
nêu trên thì Viện trưởng VKSNDTC có quyền gia hạn thêm khi thấy cần thiết,
thời hạn gia hạn thêm không quy định cụ thể mà tùy vào tính chất phức tạp
của vụ án mà Viện trưởng VKSNDTC ấn định thời gian gia hạn.
Nhiệm vụ của giai đoạn điều tra là rất quan trọng trong quá trình giải
quyết vụ án hình sự, bởi kết quả của hoạt động điều tra là để phục vụ cho việc
xét xử của Tòa án, mọi quyết định của Tòa án về sự việc phạm tội và người thực
hiện tội phạm đều phải dựa trên cơ sở các chứng cứ đã thu thập được ở giai đoạn
điều tra. Cho nên nhiệm vụ của giai đoạn điều tra là cơ quan tiến hành tố tụng có
quyền áp dụng mọi biện pháp do Luật tố tụng hình sự quy định để chứng minh
tội phạm và người thực hiện tội phạm, các tình tiết khác có liên quan đến vụ án,
xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội để kiến nghị với các cấp các ngành
thực hiện biện pháp phòng ngừa tội phạm. Nhiệm vụ trên được thực hiện bởi các
chủ thể là CQĐT và các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động
điều tra. Tất cả các hoạt động tố tụng được thực hiện bởi chủ thể của giai đoạn
điều tra đều phải tuân theo đúng các quy định của Luật tố tụng hình sự góp phần
giải quyết vụ án hình sự được nhanh chóng, khách quan và đúng pháp luật.
Như vậy, giai đoạn điều tra vụ án hình sự được hiểu là:
10
Một giai đoạn của tố tụng hình sự trong đó Cơ quan điều tra
và các cơ quan khác được giao một số hoạt động điều tra được sử
đó tùy thuộc vào tính chất, mức độ của từng vụ án. Cụ thể các biện pháp đó
là: Hỏi cung bị can; lấy lời khai người làm chứng; lấy lời khai người bị hại;
tạm giam; cấm đi khỏi nơi cư trú; khám xét khẩn cấp; bắt tạm giam v.v... Các
biện pháp được áp dụng phải theo đúng quy định của Luật tố tụng hình sự.
1.2. KIỂM SÁT CÁC HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP TRONG KHỞI TỐ - ĐIỀU
TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.2.1. Chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong tố tụng
hình sự
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã đập tan bộ máy chính
quyền thực dân phong kiến tồn tại trên đất nước ta gần 100 năm. Ngày 2
tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại thay mặt toàn thể nhân dân
Việt Nam đọc bản tuyên ngôn độc lập đánh dấu sự ra đời của Nhà nước dân
chủ nhân dân Việt Nam.
Từ khi ra đời, Nhà nước ta đứng trước những yêu cầu của quá trình
xây dựng và củng cố đất nước, trong đó việc tuân thủ pháp luật của của các cơ
quan nhà nước và mọi công dân là một trong những yêu cầu cấp bách cần
thực hiện. Muốn đáp ứng được yêu cầu đó cần tổ chức thành lập một cơ quan
nhà nước có chức năng kiểm tra và giám sát các hoạt động áp dụng pháp luật
của các cơ quan nhà nước và mọi công dân nhằm bảo đảm pháp luật được
chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
Lênin là người đầu tiên có quan điểm về tổ chức cơ quan kiểm tra, giám
sát, quan điểm đó được thể hiện trong tác phẩm bàn về "Song trùng, trực thuộc
và pháp chế". Lênin xuất phát từ một vấn đề có tính quy luật là: Trong quá trình
xây dựng chủ nghĩa xã hội cần phải thiết lập một nền pháp chế thống nhất, điều
mà Lênin gọi "pháp chế chỉ có một" với ba yêu cầu "phải có sự thống nhất về
pháp chế trong toàn nước cộng hòa"; "phải có luật duy nhất trong toàn nước
công hòa" và "phải có sự áp dụng thực hiện và tuân theo pháp luật một cách
12
thống nhất". Lênin cho rằng, để bảo đảm sự thắng lợi của cách mạng xã hội chủ
nghĩa trong quá trình xây dựng xã hội chủ nghĩa cần phải thiết lập một nền pháp
đó. Với quy định tại Điều 137 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) và Điều 1 Luật
tổ chức VKSND năm 2002 thì chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp
được coi là vấn đề căn bản xuyên suốt toàn bộ hoạt động của hệ thống cơ
quan VKS, đồng thời thể hiện bản chất trong hoạt động của VKS nước ta.
Thuật ngữ "kiểm sát các hoạt động tư pháp" được xuất hiện trong các
văn kiện của Đảng như Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX, Nghị quyết số 08
ngày 02 /1/2002 của Bộ chính trị và đặc biệt được quy định tại Điều 137 Hiến
pháp năm 1992 (sửa đổi) và Luật tổ chức VKSND năm 2002. Tuy nhiên nhà
lập pháp nước ta chưa đưa ra một định nghĩa pháp lý chung nhất của khái
niệm "kiểm sát các hoạt động tư pháp" nên dẫn đến nhiều quan điểm nhận
thức khác nhau về khái niệm này. Một thực tế chúng ta phải thừa nhận rằng:
Trong suốt một thời gian dài chúng ta chưa quan tâm đúng
mức đến lĩnh vực tư pháp thể hiện ở việc trước khi có Văn kiện
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX thuật ngữ quyền tư pháp ít
được sử dụng trong ngôn ngữ chính trị, pháp luật và khoa học.
Điều đó đã không tạo ra được tiền đề cho việc nghiên cứu các vấn
đề về tư pháp [41].
Trong đó có vấn đề "kiểm sát các hoạt động tư pháp". Cho nên hiện
nay xung quanh khái niệm kiểm sát các hoạt động tư pháp đang còn có nhiều
quan điểm khác nhau, tựu chung lại có ba nhóm quan điểm sau:
Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng, "kiểm sát các hoạt động tư pháp
chỉ bao gồm nội dung kiểm sát các hoạt động tố tụng như điều tra, truy tố, xét
xử và thi hành án" [40].
Nhóm quan điểm thứ hai cho rằng, "kiểm sát các hoạt động tư pháp
bao gồm việc kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử (cả các vụ
14
án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính) và
phần "tư pháp" trong thi hành án" [40].
Nhóm quan điểm thứ ba cho rằng:
Hoạt động tư pháp là một dạng hoạt động thực hiện quyền
quan tư pháp trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, nhằm bảo đảm cho
pháp luật tố tụng hình sự được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, thống nhất.
Như vậy, khi đã hiểu được như thế nào là kiểm sát hoạt động tư pháp
trong tố tụng hình sự, thì vấn đề đặt ra cho chúng ta cần tiếp tục làm rõ đó là:
Kiểm sát hoạt động tư pháp trong khởi tố - điều tra vụ án hình sự là gì? Đặc
điểm của chúng?
Chức năng kiểm sát khởi tố - điều tra vụ án hình sự của VKS thực
chất là kiểm sát việc tuân theo pháp luật các hoạt động tư pháp của CQĐT và
các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra trong quá
trình giải quyết vụ án hình sự. Hoạt động kiểm sát khởi tố - điều tra với tính
chất là một chức năng của VKS thì hoạt động đó có bản chất pháp lý là kiểm
tra tính có căn cứ và tính hợp pháp các hoạt động tố tụng hình sự được thực
hiện bởi CQĐT và các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động
điều tra trong giai đoạn khởi tố và điều tra các vụ án hình sự nhằm bảo đảm
việc khởi tố - điều tra đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội
phạm đồng thời cũng không làm oan người vô tội.
Từ bản chất pháp lý đó chúng ta cũng cần xem xét đối tượng của hoạt
động kiểm sát khởi tố - điều tra các vụ án hình sự là gì? và phạm vi của nó?.
Theo chúng tôi, đối tượng của kiểm sát khởi tố - điều tra các vụ án hình sự
chính là các hành vi xử sự của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình khởi tố - điều tra vụ án hình
sự. Khi tiến hành hoạt động kiểm sát, VKS phải dựa trên các căn cứ pháp lý là
Hiến pháp, Luật tổ chức VKS, Bộ luật hình sự, BLTTHS và các văn bản pháp
16
luật khác có liên quan để theo dõi, xem xét bảo đảm sự tuân theo pháp luật,
cũng như bảo đảm tính có căn cứ và hợp pháp của các hành vi tố tụng hình sự
mà chủ thể bị kiểm sát thực hiện.
Về phạm vi của kiểm sát khởi tố - điều tra các vụ án hình sự từ trước
đến nay đang là vấn đề còn nhiều quan điểm khác nhau, tuy nhiên về mặt lý
luận chúng tôi cho rằng phạm vi của quyền công tố bắt đầu từ khi có tội phạm
khởi tố - điều tra vụ án hình sự, cho phép rút ra một số đặc điểm chung của nó
như sau:
Thứ nhất, kiểm sát các hoạt động tư pháp trong khởi tố - điều tra vụ án
hình sự là chức năng hiến định của VKS, có phạm vi xác định thời điểm bắt đầu
từ khi có dấu hiệu của tội phạm xảy ra và thời điểm kết thúc khi cơ quan tiến
hành tố tụng kết thúc điều tra vụ án, chuyển hồ sơ vụ án cùng bản kết luận điều
tra cho VKS đề nghị truy tố hoặc vụ án được đình chỉ điều tra.
Thứ hai, nội dung của chức năng này chính là việc giám sát trực tiếp
mọi hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
trong quá trình khởi tố - điều tra các vụ án hình sự.
Thứ ba, kiểm sát các hoạt động tư pháp trong khởi tố - điều tra vụ án
hình sự là nhằm mục đích bảo đảm cho pháp luật tố tụng hình sự được thực
hiện một cách nghiêm chỉnh và thống nhất.
1.2.2. Mối quan hệ giữa kiểm sát các hoạt động tư pháp với thực
hành quyền công tố trong tố tụng hình sự
Để quán triệt sâu sắc các quan điểm của Đảng đã được nêu rõ trong
Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX, Nghị quyết 08 ngày 02/1/2002 của Bộ
chính trị về "một số nhiệm vụ trọng tâm của ngành tư pháp trong thời gian tới"
và đặc biệt trên cơ sở nội dung Điều 137 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) và
nội dung của Luật tổ chức VKSND năm 2002, thì vấn đề phân biệt giữa hoạt
động thực hành quyền công tố với kiểm sát các hoạt động tư pháp trong tố
18
tụng hình sự cũng như mối quan hệ giữa chúng với nhau cần phải được làm rõ
nhằm tạo cơ sở cho việc áp dụng vào hoạt động thực tiễn các quy định của
BLTTHS và Luật tổ chức VKSND năm 2002.
Trước khi đi vào phân tích mối quan hệ giữa hoạt động thực hành
quyền và hoạt động kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKS trong tố tụng
hình sự, chúng ta cần thống nhất về mặt nhận thức các vấn đề: Quyền công
tố? Thực hành quyền công tố?
Quyền công tố: là một khái niệm pháp lý, gắn liền với bản chất Nhà
động thực hành quyền công tố. Như vậy, trong tố tụng hình sự, phạm vi
quyền công tố được xác định từ khi có tội phạm xảy ra cho đến khi vụ án
được xét xử và bản án đã có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị.
Từ nội dung trên có thể hiểu quyền công tố là: Một loại quyền lực của
Nhà nước, được Nhà nước giao cho VKS thực hiện để truy cứu trách nhiệm
hình sự và buộc tội người đã có hành vi bị coi là tội phạm, được thực hiện
trong suốt quá trình khởi tố - điều tra, truy tố và xét xử tội phạm.
Thực hành quyền công tố: Thuật ngữ thực hành quyền công tố đã được
nhà làm luật nước ta ghi nhận và đề cập trong nhiều các văn bản quy phạm
pháp luật, đồng thời hoạt động thực hành quyền công tố cũng đã gắn liền với
hoạt động của VKS hơn 40 năm qua (từ năm 1960). Thế nhưng trong các văn
bản pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ trước đến nay (BLTTHS 1988,
cũng như BLTTHS năm 2003 vừa được Quốc hội thông qua) nhà làm luật
chưa ghi nhận một định nghĩa pháp lý về khái niệm "thực hành quyền công
tố".
Khi đã làm rõ được thế nào là quyền công tố, thì một vấn đề cần có sự
nhận thức thống nhất đó là quyền công tố và thực hành quyền công tố là hai
khái niệm, hai phạm trù khoa học pháp lý khác nhau, không thể đồng nhất hai
khái niệm này với nhau. Để bảo đảm thực hiện quyền công tố trong thực tế đấu
20
tranh chống tội phạm thì Nhà nước phải ban hành các văn bản quy phạm pháp
luật, trong đó quy định các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố.
Các quyền năng pháp lý đó Nhà nước giao cho cơ quan nhà nước nào thực hiện
để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội,
thì cơ quan ấy được gọi là cơ quan có trách nhiệm thực hành quyền công tố.
Ở Việt Nam, căn cứ vào các quy định của Hiến pháp năm 1959 cho
đến Hiến pháp 1992 (sửa đổi) thì chức năng thực hành quyền công tố được
giao cho cơ quan VKS. Để thực hiện có hiệu quả chức năng đó VKS được áp
dụng "các biện pháp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm
và xử lý người phạm tội" (Điều 13 BLTTHS). Tuy nhiên, thực tiễn điều tra và
trong lĩnh vực tư pháp hình sự VKS có hai chức năng là thực hành quyền
công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Đây là hai chức năng độc lập,
nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Trong thực tiễn hoạt động thực hiện
chức năng của ngành kiểm sát trong lĩnh vực tư pháp hình sự, VKS các cấp
luôn luôn quán triệt đường lối công tác kiểm sát là đấu tranh chống tội phạm
gắn liền với đấu tranh chống vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng của
các cơ quan tiến hành tố tụng, nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải
được phát hiện và xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật; không để
lọt tội phạm đồng thời cũng không được làm oan người vô tội. Nên việc thực
hiện đồng thời hai hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt
động tư pháp trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự là mang tính khách
quan, do vậy giữa hai hoạt động này luôn có mối quan hệ với nhau. Mối quan
hệ đó được thể hiện ở các phương diện sau:
Khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm, vụ án được khởi tố, tức là quyền
công tố được phát động đã làm phát sinh hoạt động kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong khởi tố vụ án hình sự, hoạt động này được VKS thực hiện để
22
bảo đảm việc khởi tố đúng với các quy định pháp luật, thông qua hoạt động
kiểm sát khởi tố xét thấy quyết định khởi tố của CQĐT không có căn cứ và hợp
pháp, tức là quyết định đó trái pháp luật thì VKS yêu cầu cơ quan có thẩm
quyền chấm dứt ngay hoạt động điều tra, đồng thời ra quyết định hủy bỏ quyết
định khởi tố trái pháp luật, như thế quyền công tố có thể bị triệt tiêu và việc ra
quyết định hủy bỏ tức là VKS đã thực hành quyền công tố. Do vậy, làm tốt
chức năng kiểm sát khởi tố vụ án hình sự sẽ là cơ sở cho việc ra quyết định của
VKS được chính xác và đúng pháp luật nhằm bảo đảm về mặt pháp lý và hạn
chế được các vi phạm trong việc thực hành quyền công tố của VKS. Ngược lại
nếu thực hiện kiểm sát khởi tố không tốt sẽ mất đi tính hiệu quả trong việc thực
hành quyền công tố, thậm chí quyết định pháp lý của VKS là vi phạm pháp
luật. Ví dụ, trong trường hợp CQĐT khởi tố vụ án trái pháp luật, nếu kiểm sát
khởi tố không kiểm sát chặt chẽ thì sẽ không phát hiện được vi phạm trong việc
khởi tố bị can có căn cứ và hợp pháp thì VKS quyết định phê chuẩn để CQĐT
tiến hành hoạt động điều tra, ngược lại quyết định khởi tố bị can không có căn
cứ thì VKS quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố của CQĐT.
Với việc thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp sẽ làm
tiền đề cho hoạt động thực hành quyền công tố được thực hiện một cách chính
xác, nếu có sai sót, vi phạm trong việc thực hiện kiểm sát các hoạt động tư
pháp trong giai đoạn điều tra sẽ kéo theo sự vi phạm pháp luật của hoạt động
thực hành quyền công tố. Tuy nhiên, trong giai đoạn điều tra khi chức năng
thực hành quyền công tố của VKS được thực hiện cũng sẽ làm tiền đề phát
sinh hoạt động kiểm sát. Ví dụ khi VKS phê chuẩn lệnh bắt khấn cấp của
CQĐT thì làm phát sinh hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
tạm giữ người bị bắt của CQĐT nhằm bảo đảm việc tạm giữ người phải có
lệnh hoặc có quyết định phê chuẩn của VKS, đồng thời bảo đảm thời hạn tạm
giữ đúng theo quy định của pháp luật.
24
Khi truy tố bị can ra Tòa án để xét xử, tức là VKS thực hành quyền
công tố, hoạt động đó thể hiện qua việc ban hành quyết định truy tố. Nhưng
quyết định truy tố của VKS cũng phải bảo đảm tính có căn cứ và tính hợp
pháp và điều đó có nghĩa là bản thân VKS trong giai đoạn truy tố cũng phải
đặt trong sự tuân thủ pháp luật. Muốn bảo đảm quyết định truy tố có căn cứ
thì phải dựa trên cơ sở của kết quả hoạt động kiểm sát điều tra vụ án của
VKS, nếu thực hiện tốt hoạt động kiểm sát điều tra thì VKS sẽ nắm được nội
dung của vụ án, những tình tiết buộc tội, tình tiết gỡ tội của bị can và các tình
tiết liên quan khác của vụ án và đó chính là căn cứ vững chắc cho việc truy tố
đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, ngược lại nếu VKS thực hiện không
tốt hoạt động kiểm sát điều tra thì có thể dẫn đến việc truy tố oan, sai. Cho
nên, hoạt động kiểm sát điều tra là cơ sở rất vững chắc cho hoạt động thực
hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố và xét xử. Bên cạnh đó, hoạt động
thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố lại là tiền đề làm phát sinh
hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS tại phiên tòa xét xử.