Khiếu nại, tố cáo trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự - thực trạng và giải pháp - Pdf 25




khiếu nại, tố cáo trong giai đoạn khởi tố,
điều tra vụ án hình sự Thực trạng và giải pháp

Luận văn thạc sỹ luật học Hà nội năm 2008



Luận văn thạc sỹ luật học

Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Đức Thuận Hà nội năm 2008

Mục lục

Trang
Lời cam đoan

Danh mục các từ viết tắt

Mở đầu
01
1.
Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
01
2.
Mục đích và phạm vi nghiên cứu đề tài
03
3.

1.2.3.
Các dạng khiếu nại, tố cáo có thể phát sinh trong giai đoạn
khởi tố, điều tra vụ án hình sự

16
1.2.4.
Phân biệt khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự với kháng
cáo bản án, quyết định của Toà án ch-a có hiệu lực pháp luật 18
1.3.
Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về khiếu nại trong
giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự

22
1.3.1.
Ng-ời có quyền khiếu nại và quyền, nghĩa vụ của ng-ời
khiếu nại đối với hoạt động của Cơ quan điều tra trong giai
đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự 22
1.3.2.
Ng-ời bị khiếu nại và quyền, nghĩa vụ của ng-ời bị khiếu nại
trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự

27
1.3.3.
Thời hiệu khiếu nại
44

Kết luận Ch-ơng 1
47
Ch-ơng 2: Thực trạng khiếu nại, tố cáo trong giai đoạn khởi tố,
điều tra vụ án hình sự và thực tế giải quyết khiếu nại, tố cáo của
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an các cấp 48
2.1.
Thực trạng khiếu nại, tố cáo về hoạt động tố tụng hình sự
của Cơ quan Cảnh sát điều tra trong giai đoạn khởi tố,
điều tra vụ án hình sự 48
2.2.
Thực trạng công tác tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố
cáo về hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự ở Cơ
quan Cảnh sát điều tra Công an các cấp 61
2.2.1.
Về thực trạng đội ngũ cán bộ và cơ sở vật chất phục vụ giải
quyết khiếu nại, tố cáo


71
2.4.2
Do sự quan tâm, chỉ đạo của lãnh đạo cơ quan chủ quản
73
2.4.3
Do ý thức trách nhiệm của cán bộ làm công tác giải quyết
khiếu nại, tố cáo

74
2.4.4
Do nhận thức của ng-ời dân về pháp luật khiếu nại, tố cáo
75
2.4.5
Do công tác kiểm tra, đôn đốc của cấp uỷ Đảng, Chính
quyền và công tác kiểm sát của Viện kiểm sát

75

Kết luận Ch-ơng 2
77
Ch-ơng 3: Một số giải pháp góp phần hạn chế khiếu nại, tố cáo và
nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo trong giai đoạn
khởi tố, điều tra vụ án hình sự 78
3.1.
Dự báo tình hình khiếu nại, tố cáo về hoạt động khởi tố,
điều tra và những yêu cầu đặt ra đối với việc giải quyết
khiếu nại, tố cáo trong những năm tới.

Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết
khiếu nại, tố cáo trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án
hình sự 85
3.3.1.
Hoàn thiện quy định của BLTTHS và các đạo luật có liên
quan đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo

85
3.3.2.
Hoàn thiện các văn bản quy định về tổ chức và cán bộ làm
công tác giải quyết đơn th- khiếu nại, tố cáo về tố tụng hình
sự 92
3.3.3.
Ban hành quy trình công tác, quy chế tiếp nhận giải quyết
đơn th- khiếu nại, tố cáo về tố tụng hình sự và hệ thống sổ
sách, biểu mẫu cần thiết 93
3.3.4.
Kiện toàn đội ngũ cán bộ làm công tác giải quyết khiếu nại,
tố cáo về tố tụng hình sự và th-ờng xuyên bồi d-ỡng, tập
huấn nghiệp vụ chuyên sâu


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài:

Mặc dù Quốc hội đã thông qua một đạo luật riêng về giải quyết khiếu nại, tố
cáo, nhưng luật này mới chỉ điều chỉnh trong lĩnh vực dân sự và hành chính,
không quy định trong lĩnh vực tố tụng hình sự. Chương 35 của BLTTHS quy
định về khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự nhưng cũng mới chỉ quy định
về quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại, người tố cáo, người bị khiếu nại,
người bị tố cáo, thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo. Tiếp đó,
mặc dù Liên ngành tư pháp Trung ương cũng đã có Thông tư liên tịch hướng
dẫn thi hành một số quy định của BLTTHS về khiếu nại, tố cáo[7] và Bộ Công
an cũng đã có đến hai Thông tư hướng dẫn giải quyết khiếu nại, tố cáo trong
Công an nhân dân[9,10], nhưng tất cả các thông tư nói trên đều không có nội
dung hướng dẫn về trình tự, thủ tục tiến hành giải quyết khiếu nại, tố cáo nên
các địa phương gặp nhiều lúng túng, thiếu thống nhất trong việc giải quyết.
Cũng chính vì chưa có quy định rõ ràng nên cho đến nay trong ngành Công
an vẫn chưa có lực lượng chuyên trách theo dõi và giải quyết công tác này,
hầu hết là cán bộ kiêm nhiệm. Đây cũng chính là một trong những nguyên
nhân làm cho hiệu quả giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân về
hoạt động tố tụng hình sự nói chung, về hoạt động khởi tố, điều tra nói riêng
đạt hiệu quả chưa cao, thậm chí lại tiếp tục phát sinh khiếu kiện về công tác
giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan tiến hành tố tụng nói chung, của cơ
quan điều tra nói riêng.
Về tình hình nghiên cứu, mặc dù thực trạng công tác giải quyết khiếu
nại, tố cáo về tố tụng hình sự là như vậy, nhưng cho đến nay vẫn chưa có tác
giả nào có công trình nghiên cứu về lĩnh vực này. Duy nhất chỉ có một đề tài

3
khoa học cấp cơ sở do Tổng cục Cảnh sát Bộ Công an vừa đăng ký nghiên
cứu với tên gọi là “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết đơn thư
khiếu nại, tố cáo của lực lượng cảnh sát nhân dân”, thời gian hoàn thành vào
cuối năm 2009.
Với thực trạng quy định của pháp luật và tình hình nghiên cứu đã nêu

sát thực tế ở một số địa phương.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được các mục đích nghiên cứu nêu trên, tác giả của luận văn có
các nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận và quy định của pháp luật
về khiếu nại, tố cáo trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự.
- Làm rõ thực trạng khiếu nại, tố cáo về hoạt động của Cơ quan Cảnh
sát điều tra trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự và thực tiễn giải
quyết của Cơ quan Cảnh sát điều tra đối với các khiếu nại, tố cáo đó.
- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý luận, nghiên cứu pháp luật hiện
hành và thực tế giải quyết khiếu nại, tố cáo sẽ đề xuất một số giải pháp
góp phần hạn chế khiếu nại, tố cáo và nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu
nại, tố cáo trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Việc nghiên cứu đề tài được dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ
nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về các quyền cơ bản của công
dân, về công bằng, dân chủ trong hoạt động tư pháp.

5
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong quá trình
nghiên cứu đề tài là khảo sát thực tế; nghiên cứu phân tích, so sánh, tổng hợp;
quy nạp, diễn giải.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu:
Việc nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn:
- Về lý luận: Việc nghiên cứu đề tài sẽ làm sáng tỏ thêm một số vấn
đề lý luận về giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự và khiếu nại, tố cáo
trong quá trình khởi tố và điều tra vụ án hình sự.
- Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu đề tài là tài liệu tham khảo cho
những người làm công tác nghiên cứu lý luận và nghiên cứu sửa đổi, bổ
sung BLTTHS năm 2003 về vấn đề khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự,

ra nếu giai đoạn trước đó tiến hành đạt hiệu quả và đòi hỏi phải được chuyển
tiếp đến giai đoạn tố tụng tiếp theo. Chẳng hạn, sau một thời gian tiến hành
điều tra vụ án, cơ quan điều tra đã có đủ chứng cứ chứng minh về hành vi
phạm tội của bị can, cho nên đã làm bản kết luận điều tra và đề nghị truy tố bị
can trước pháp luật để gửi cùng hồ sơ vụ án sang Viện kiểm sát cùng cấp. Sau
khi Viện kiểm sát nhận được hồ sơ vụ án cùng bản kết luận điều tra và đề
nghị truy tố của cơ quan điều tra thì giai đoạn truy tố bắt đầu. Ngược lại, nếu
cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án và đình chỉ điều tra bị
can thì sẽ không có giai đoạn truy tố mà vụ án được dừng ở giai đoạn điều tra.
Mặc dù cần phải hiểu đúng đắn như vậy, nhưng cho đến nay vẫn còn
một số người chưa hiểu đúng theo quy định của pháp luật. Chẳng hạn, còn có

7
quan điểm cho rằng khởi tố và điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng
hình sự. Sở dĩ có quan điểm này là vì họ cho rằng BLTTHS quy định về khởi
tố và điều tra vụ án hình sự trong cùng một phần (Phần thứ hai) và cho rằng
đều do cơ quan điều tra tiến hành. Quan điểm này là sai lầm vì trong phần thứ
hai của BLTTHS không chỉ quy định về khởi tố, điều tra vụ án hình sự mà
còn quy định cả về quyết định việc truy tố; Cơ quan điều tra có thẩm quyền
khởi tố và điều tra vụ án hình sự nhưng ngoài Cơ quan điều tra còn có nhiều
cơ quan chức năng khác cũng có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự.
Theo chúng tôi, cần phải thống nhất nhận thức về các giai đoạn tiến
hành tố tụng nói chung, về giai đoạn khởi tố và giai đoạn điều tra vụ án hình
sự nói riêng, vì nhận thức không đúng sẽ có ảnh hưởng đến hiệu quả chất
lượng tiến hành tố tụng đối với vụ án hình sự. Trước hết, cần phải hiểu rõ
khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của quá trình tiến hành tố tụng.
Đây là giai đoạn độc lập nhưng có liên quan đến giai đoạn tiếp theo là giai
đoạn điều tra. Quyết định khởi tố vụ án hình sự là văn bản kết thúc giai đoạn
khởi tố nhưng cũng đồng thời là văn bản mở đầu của giai đoạn điều tra. Tuy
nhiên không phải bất cứ trường hợp nào sau khi có tin báo, tố giác về tội

quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển có thẩm quyền ra quyết định khởi tố
vụ án hình sự để tiến hành điều tra.
- Các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, trong khi làm nhiệm vụ của
mình nếu phát hiện sự việc có dấu hiệu của tội phạm thì cũng có quyền khởi
tố vụ án và tiến hành những hoạt động điều tra ban đầu trong thời hạn nhất
định.

9
- Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp
Viện kiểm sát huỷ bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của các cơ quan
có chức năng khởi tố vụ án hình sự và trong trường hợp Hội đồng xét xử yêu
cầu khởi tố vụ án.
- Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi
tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên toà mà phát hiện được tội phạm
hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra.
Từ những nội dung đã phân tích trên đây dưới góc độ chức năng nhiệm
vụ của Cơ quan điều tra có thể đưa ra khái niệm về giai đoạn khởi tố vụ án
hình sự như sau: “Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của
quá trình tiến hành tố tụng, được bắt đầu từ khi có tin báo, tố giác về tội
phạm gửi đến Cơ quan điều tra và được kết thúc khi Cơ quan điều tra ra
quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự”.
Ngay sau khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự, giai đoạn điều tra vụ
án hình sự được bắt đầu. Nói cách khác, giai đoạn điều tra vụ án hình sự được
bắt đầu sau khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự. Trong giai đoạn điều tra
vụ án hình sự, Cơ quan điều tra được phép tiến hành các biện pháp điều tra
cần thiết đã được quy định tại BLTTHS để phát hiện, thu thập, củng cố, bảo
vệ và đánh giá chứng cứ, chứng minh tội phạm và người thực hiện hành vi
phạm tội. Các biện pháp điều tra mà BLTTHS quy định bao gồm: hỏi cung bị
can; lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn

được gia hạn điều tra hai lần, lần thứ nhất không quá ba tháng và lần thứ hai
không quá hai tháng; đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn
điều tra hai lần, mỗi lần không quá bốn tháng; đối với tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra ba lần, mỗi lần không quá bốn
tháng. Việc xác định loại tội phạm đang điều tra được dựa trên cơ sở dấu hiệu

11
tội phạm được thể hiện ở mặt khách quan theo quy định tại các điều cụ thể
trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự. Mọi trường hợp vi phạm về thời
hạn điều tra đều có thể bị cơ quan, tổ chức hoặc công dân khiếu nại hoặc tố
cáo.
Trong quá trình điều tra vụ án hình sự, Cơ quan điều tra có quyền áp
dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn đối với các đối tượng cụ
thể. Việc áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn phải tuân
thủ đúng quy định của BLTTHS như đối tượng áp dụng, thời hạn áp dụng,
căn cứ, điều kiện áp dụng, trình tự, thủ tục áp dụng. Chẳng hạn, tạm giữ chỉ
có thể được áp dụng đối với một trong 4 đối tượng, đó là người bị bắt trong
trường hợp khẩn cấp, người bị bắt khi phạm tội quả tang, người bị bắt theo
quyết định truy nã và người phạm tội ra tự thú hoặc đầu thú; tạm giam chỉ có
thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, phạm
tội rất nghiêm trọng hoặc bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít
nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn
cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử
hoặc có thể tiếp tục phạm tội. Khi áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam cần
lưu ý một số đối tượng được hưởng chính sách nhân đạo của Đảng và nhà
nước ta, đó là: bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36
tháng tuổi; bị can, bị cáo là người già yếu, người bị bệnh nặng mà nơi cư trú
rõ ràng. Đối với những người này mặc dù đủ điều kiện tạm giam theo quy
định chung nhưng vẫn không bị tạm giam mà chỉ bị áp dụng biện pháp ngăn
chặn khác. Họ chỉ có thể bị tạm giam nếu bỏ trốn và bị bắt theo quyết định

điều tra cũng phải ra quyết định đình chỉ điều tra. Ngoài ra, Cơ quan điều tra
còn có thể ra quyết định đình chỉ điều tra trong các trường hợp được miễn

13
trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự (BLHS). Đó là trường
hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội (Điều 19), trường hợp đang điều
tra do sự chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội
không còn nguy hiểm cho xã hội nữa (khoản 1 Điều 25), trường hợp trước khi
hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội đã tự thú, khai rõ sự việc, góp
phần có hiệu quả vào việc phát hiện, điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến
mức thấp nhất hậu quả của tội phạm (khoản 2 Điều 25), trường hợp người
chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng, gây
hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ
chức nhận giám sát, giáo dục (khoản 2 Điều 69). Trường hợp khởi tố vụ án
theo yêu cầu của người bị hại, nếu trong khi đang điều tra mà người bị hại rút
yêu cầu thì vụ án cũng phải được đình chỉ nếu không có căn cứ xác định
người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trái với ý muốn của họ do bị ép buộc,
cưỡng bức.
Ngoài các trường hợp có căn cứ đình chỉ điều tra như đã nêu trên, trong
thời hạn điều tra luật định, khi đã có đủ chứng cứ xác định có tội phạm và bị
can thì cơ quan điều tra làm bản kết luận điều tra đề nghị truy tố và gửi cùng
hồ sơ vụ án sang Viện kiểm sát cùng cấp để đề nghị truy tố bị can trước pháp
luật.
Như vậy, thời điểm kết thúc điều tra vụ án là khi Cơ quan điều tra ra bản
kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc ra bản kết luận điều tra và quyết định
đình chỉ điều tra. Việc đề nghị truy tố hoặc đình chỉ điều tra nếu không đúng
quy định của pháp luật hoặc không đúng với bản chất nội dung vụ án đề có
thể bị khiếu nại hoặc tố cáo.
Trong BLTTHS có chế định về tạm đình chỉ điều tra nhưng cần lưu ý
rằng quyết định tạm đình chỉ điều tra không phải là văn bản kết thúc điều tra

15
Cũng theo Từ điển bách khoa Công an nhân dân Việt Nam, tố cáo là việc
công dân, theo quy định của pháp luật, báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá
nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại lợi ích của nhà nước, quyền, lợi
ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức[19, tr607].

Theo quy định tại Điều 74 Hiến pháp năm 1992: Công dân có quyền khiếu
nại, quyền tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái
pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang
nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào. Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan nhà
nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định.
Theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo: Công dân có quyền tố cáo với cơ
quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về hành vi trái pháp luật của bất
cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại lợi ích
của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức[4, tr5].
1.2.2. Khái niệm khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự và khiếu nại, tố cáo
trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự.
Khiếu nại trong tố tụng hình sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức, theo thủ
tục quy định tại Chương XXXV của BLTTHS, đề nghị cơ quan, cá nhân có thẩm
quyền xem xét lại quyết định tố tụng, hành vi tố tụng khi có căn cứ cho rằng
quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp
của mình.

Quyết định tố tụng là quyết định của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan
điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án, Phó Chánh án,
Thẩm phán Toà án được phân công chủ tọa phiên toà hoặc người có thẩm quyền
tiến hành một số hoạt động điều tra ban hành theo quy định của BLTTHS.

16

tra vì họ cho rằng hành vi vi phạm đó gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại cho
lợi ích của nhà nước và quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
1.2.3. Các dạng khiếu nại, tố cáo có thể phát sinh trong giai đoạn khởi tố
điều tra vụ án hình sự.
Trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự có thể có các khiếu nại sau đây:
- Khiếu nại việc bắt khẩn cấp của Cơ quan điều tra;
- Khiếu nại việc tạm giữ người không đúng quy định của pháp luật;

- Khiếu nại việc không khởi tố vụ án hình sự;

- Khiếu nại việc vi phạm thời hạn kiểm tra xác minh tin báo, tố giác tội
phạm;

- Khiếu nại kết luận giải quyết khiếu nại của Cơ quan điều tra hoặc Viện
kiểm sát về việc khởi tố vụ án hình sự.

Trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự có thể có các dạng tố cáo sau đây:
- Tố cáo vi phạm pháp luật trong việc lấy lời khai;
-
Tố cáo hành vi tiêu cực trong việc trưng cầu giám định thương tích,
giám định chữ ký, chữ viết, con dấu …;

-
Tố cáo việc bỏ lọt tội phạm, bao che cho người vi phạm;

-
Tố cáo việc làm sai lệch hồ sơ, bắt giữ người oan, sai;

-
Tố cáo hình sự hoá các quan hệ dân sự.

- Tố cáo hành vi vi phạm quy chế điều tra của điều tra viên như tiếp
xúc với bị can hoặc bị hại tại nhà riêng, tại hàng quán; nhận hối lộ trong
quá trình điều tra;

-
Tố cáo hành vi thiếu trách nhiệm trong quá trình điều tra, tam giam
bị can kéo dài nhưng không hỏi cung bị can dẫn đến phải xin gia hạn tạm
giam;

-
Tố cáo hành vi làm sai lệch hồ sơ vụ án, tạo chứng cứ giả vì mục
đích vụ lợi;

-
Tố cáo hành vi bỏ lọt tội phạm hoặc tạo điều kiện cho bị can lẩn
tránh trách nhiệm thông qua việc quyết định tạm đình chỉ điều tra không
đúng, đình chỉ điều tra không có căn cứ hoặc không đúng căn cứ pháp luật

19
quy định, ra quyết định truy nã nhưng không tổ chức truy bắt, để bị can
nhởn nhơ ngoài xã hội …

1.2.4. Phân biệt khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự với kháng
cáo bản án, quyết định của Toà án chưa có hiệu lực pháp luật và khiếu nại
bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật.

Như trên đã trình bày, khiếu nại trong tố tụng hình sự là việc cá nhân,
cơ quan, tổ chức đề nghị cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong tố tụng
hình sự xem xét lại quyết định tố tụng, hành vi tố tụng khi có căn cứ cho
rằng quyết định hoặc hành vi đó trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status