ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÙI THỊ HỒNG CHUẨN BỊ XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ-THỰC TRẠNG VÀ
GIẢI PHÁP BÙI THỊ HỒNG CHUẨN BỊ XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ-THỰC TRẠNG VÀ
GIẢI PHÁP
Chuyên ngành: Luật hình sự
Mã số: 60 38 40 LUẬN VĂN THẠC SĨ Người hướng dẫn khoa học: TS.Hoàng Thị Minh Sơn Hà Nội - 2012
Quy định của bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về hoạt
động chuẩn bị xét xử vụ án hình sự
16
Kết luận chương 1
62
Chương 2.
Thực trạng thực hiện những quy định của bộ luật tố
tụng hình sự về chuẩn bị xét xử vụ án hình sự
64
2.1.
Thực trạng thực hiện những quy định của Bộ Luật tố
tụng Hình sự về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
64
2.2.
Thực trạng thực hiện những quy định của Bộ Luật tố
tụng Hình sự về chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án hình
sự
88
Kết luận chương 2
93
Chương 3.
nguyên nhân hạn chế và giải pháp nâng cao hiệu quả
chuẩn bị xét xử vụ án hình sự
95
3.1.
Nguyên nhân những hạn chế trong hoạt động chuẩn bị
xét xử vụ án hình sự
95
luật định của ngành Toà án Hà Nội
89
2.3.
Thống kê số vụ án đã giải quyết theo trình tự phúc
thẩm của ngành Toà án Hà Nội từ năm 2006 đến
năm 2010
92
DANH MC BIU
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Số hiệu
sơ đồ
Tên sơ đồ
Trang
1.1.
Thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án hình sự
22
1
2
khái niệm sau đây đƣợc hiểu nhƣ thế nào: Thế nào là chuẩn bị xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự? Chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án hình sự? Bản chất pháp lý và
nội dung hoạt động chuẩn bị xét xử vụ án hình sự? Nguyên nhân một số
vƣớng mắc trong thực tiễn hoạt động chuẩn bị xét xử vụ án hình sự và giải
pháp khắc phục nhƣ thế nào?
Thứ hai, đây là một chế định liên quan đồng thời đến nhiều ngành luật
chứ không chỉ đối với ngành luật hình sự và tố tụng hình sự. Do đó, việc làm
rõ khái niệm này cần phải có sự kết hợp đồng bộ giữa nhiều ngành luật khác
nhau. Vì vậy, có thể nói rằng nghiên cứu những quy định của pháp luật về
hoạt động chuẩn bị xét xử vụ án hình sự là điều kiện cần và đủ đối với hoạt
động xét xử vụ án hình sự.
Thứ ba, hoạt động chuẩn bị xét xử vụ án hình sự đƣợc quy định trong
Bộ Luật tố tụng Hình sự năm 2003 là sự thể hiện một phần các nguyên tắc
nhân đạo, nguyên tắc công bằng, nguyên tắc xác định sự thật của vụ án. Sự
tồn tại những quy định này là cơ sở cho những ngƣời làm công tác trong lĩnh
vực pháp luật có một định hƣớng đúng đắn khi vận dụng, xây dựng pháp luật.
Những ngƣời làm công tác xét xử có một quyết định đúng đắn: Có đƣa vụ án
ra xét xử hay không? Quyết định đình chỉ vụ án hay tạm đình chỉ vụ án?
Quyết định có trả hồ sơ để điều tra bổ sung hay không?. Bên cạnh đó, hoạt
động chuẩn bị xét xử vụ án hình sự còn góp phần đảm bảo cho việc thực hiện
nguyên tắc không tránh khỏi trách nhiệm hình sự, mà nội dung cơ bản của
nguyên tắc này là: Chỉ những ngƣời thực hiện hành vi phạm tội đƣợc quy
định tại Bộ Luật hình sự mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Mọi hành vi
phạm tội phải đƣợc phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng và khách quan theo
đúng pháp luật với mục đích không bỏ lọt tội phạm và ngƣời phạm tội, tránh
làm oan ngƣời vô tội.
4
4. TS. Nguyễn Sơn (2004), Phần 5 Chƣơng 2. Chuẩn bị xét xử vụ án hình sự -
Giáo trình kỹ năng giải quyết vụ án hình sự. Nxb Tƣ pháp, Hà Nội.
Công trình nghiên cứu chuyên sâu có: 1.Tác giả Tống Thị Thanh Thanh
(2004), Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, luận văn thạc sĩ luật học, Học
viện tƣ pháp. 2. Tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền (2011), Chuẩn bị xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự, luận văn thạc sĩ luật học, Trƣờng Đại học Luật Hà Nội.
Các bài viết có: 1. TS. Hoàng Thị Minh Sơn: “Một số quy định của Bộ
Luật tố tụng Hình sự về quyết định của toà án trong hoạt động chuẩn bị xét xử
sơ thẩm và thực tiễn áp dụng”, tạp chí luật học số 7/2009; 2. Vũ Gia Lâm
(2011), “Hoàn thiện một số quy định về xét xử sơ thẩm hình sự nhằm thực
hiện có hiệu quả nguyên tắc hai cấp xét xử”. Tạp chí Tòa án nhân dân (số
21/T11 - 2011), tr1-7; 3.Nguyễn Đức Lực (2011), “Thẩm quyền xét xử của
Tòa án quân sự – Những vƣớng mắc trong việc xác định thẩm quyền xét xử”,
TAQS khu vực 1 - quân khu 3. Tạp chí Tòa án nhân dân (số 1/T1-2011), tr23,
25 - 27; 4. Đinh Văn Quế (2011), “Phƣơng hƣớng hoàn thiện các quy định của
bộ luật tố tụng hình sự về xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự. Tạp chí tòa án
nhân dân (số 17/T9 - 2011), tr 16 - 18; 5. Nguyễn Minh Sử (2011), “Kiến nghị
nhằm nâng cao vị thế độc lập của thẩm phán trong hoạt động xét xử”. Tạp chí
Tòa án nhân dân (số 14/T7 - 2011), tr 1- 3.
Các công trình khoa học và bài viết kể trên đều có giá trị to lớn về lý
luận và thực tiễn, nhƣng chƣa có công trình và bài viết nào nghiên cứu một
cách toàn diện, bởi chƣa đề cập đến hoạt động chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ
án hình sự.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm sáng tỏ lý luận và nội dung cơ bản của hoạt động chuẩn
Phạm vi nghiên cứu
Không nghiên cứu sâu vấn đề lý luận mà tập trung nghiên cứu những
quy định của Bộ Luật tố tụng Hình sự năm 2003 và thực tiễn áp dụng các hoạt
6
động chuẩn bị xét xử vụ án hình sự. Bên cạnh đó, tác giả cũng đề cập đến một
số quy phạm khác của bộ luật hình sự và một số ngành luật có liên quan nhằm
hỗ trợ cho việc giải quyết nhiệm vụ và đối tƣợng nghiên cứu.
Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ Luật tố
tụng Hình sự Việt Nam năm 2003 trong hoạt động chuẩn bị xét xử vụ án hình
sự từ năm 2006 đến nay, tác giả có điểm qua một vài quy phạm pháp luật
trƣớc đó trong tiến trình phát triển của lịch sử lập hiến và lập pháp với tinh
thần kế thừa có chọn lọc và phát triển.
5. Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lý luận và phƣơng pháp luận Triết học Mác - Lênin, tƣ
tƣởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà nƣớc Việt Nam về vấn đề cải
cách tƣ pháp và xây dựng nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh
đó, tác giả còn sử dụng các phƣơng pháp diễn dịch, phƣơng pháp quy nạp,
phƣơng pháp lịch sử, phƣơng pháp phân tích, phƣơng pháp so sánh, phƣơng
pháp tổng hợp, phƣơng pháp thống kê.
6. Điểm mới của luận văn
Trên cơ sở nguyên tắc hai cấp xét xử, tác giả nghiên cứu toàn diện hoạt
động chuẩn bị xét xử vụ án hình sự ở hai cấp xét xử là: chuẩn bị xét xử sơ
thẩm và chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án hình sự.
Đây là công trình nghiên cứu khoa học chuyên ngành luật tố tụng hình
sự Việt Nam tƣơng đối có hệ thống về các vấn đề lý luận và thực tiễn đối với
hoạt động chuẩn bị xét xử vụ án hình sự ở cấp độ một luận văn thạc sĩ. Với đề
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Mặt lý luận: Đây là công trình nghiên cứu khoa học luật đồng bộ, đề
cập một cách toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn đối với hoạt động
chuẩn bị xét xử vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam năm
2003.
Mặt thực tiễn: Xác định đúng những điều kiện cụ thể của từng trƣờng
hợp áp dụng quy định của pháp luật đối với hoạt động chuẩn bị xét xử vụ án
8
hình sự trong thực tiễn xét xử của Tòa án. Đồng thời cũng đề xuất một số giải
pháp về việc đào tạo cán bộ, quy hoạch lại và sắp xếp một số chƣơng, điều
luật liên quan, thêm mới và sửa đổi bổ sung nhằm hoàn thiện các điều luật
này ở khía cạnh lập pháp với mục đích giúp việc chỉ dẫn, áp dụng pháp luật
trong thực tiễn ngày một tốt hơn. Công trình nghiên cứu còn có thể trở thành
nguồn tài liệu tham khảo đối với một số nhà nghiên cứu khoa học luật, những
ngƣời làm công tác xây dựng, nghiên cứu, giảng dạy và áp dụng pháp luật;
Luật gia, cán bộ hoạt động trong lĩnh vực pháp luật; Sinh viên, học viên cao
học chuyên ngành tƣ pháp hình sự. Đặc biệt hơn nữa, đó không những là
nguồn tài liệu mà còn là hoạt động thực tiễn gắn liền với công tác xét xử các
vụ án hình sự của toàn ngành Tòa án.
8. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ bìa, lời
cam đoan, mục lục, danh mục bảng, danh mục sơ đồ, danh mục biểu đồ, luận
văn có bố cục ba chƣơng.
10
rất nghiêm khắc nhằm “trừng phạt” những ngƣời vi phạm pháp luật và bảo vệ
ngƣời già, trẻ em, phụ nữ và những ngƣời dân lƣơng thiện. [5].
Đến năm 1946 thì khái niệm về việc "tiểu hình" và việc "đại hình" đã
đƣợc quy định lần đầu tiên tại sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 về tổ chức
tòa án và các ngạch thẩm phán. [25]. Thời kỳ này, pháp luật mới chỉ quy định
việc hình và việc hộ để phân biệt giữa vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hình
sự và trong lĩnh vực dân sự. Hiến pháp năm 1946 quy định về cơ quan tƣ
pháp thì thuật ngữ “việc hình” vẫn đƣợc sử dụng [14]. Đến năm 1950, thì bên
cạnh thuật ngữ “việc hình”, thuật ngữ “việc phạm pháp” trong hình sự đã đƣợc
nhắc đến tại bản sắc lệnh số 85 ngày 22/5/1950 [25]. Năm 1959 thuật ngữ “vụ
án” đƣợc pháp điển hóa khi bản hiến pháp thứ hai của nƣớc Việt Nam ra đời
và đƣợc quy định tại Điều 97 nhƣ sau: Tòa án nhân dân xét xử vụ án hình sự
để trừng phạt những ngƣời phạm pháp. [15]. Trình tự, thủ tục hoạt động khởi
tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự; Chức năng, nhiệm vụ của
các cơ quan tiến hành tố tụng đã đƣợc quy định rõ hơn khi bản hiến pháp năm
1988 ra đời.[16]. Hiến pháp năm 1992 ra đời trên cơ sở kế thừa có chọn lọc
và phát triển hơn những bản hiến pháp trƣớc về lĩnh vực này, cụ thể có quy
định: Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử. Bản án, quyết định sơ thẩm của
tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố
tụng.[17].
Và đến năm 2003, Bộ Luật tố tụng Hình sự mới ra đời sửa đổi, bổ sung
và thay thế bộ luật cũ thì những quy định về hoạt động chuẩn bị xét xử vụ án
hình sự đƣợc quy định khá rõ ràng. Bộ luật này không chia hoạt động xét xử
vụ án hình sự thành từng giai đoạn riêng biệt, bởi lẽ, xét xử vụ án hình sự là
hoạt động tố tụng hình sự khép kín. Nhƣng từ góc độ nghiên cứu khoa học,
tác giả chia hoạt động xét xử vụ án hình sự thành ba giai đoạn gồm: hoạt động
khi mở phiên tòa, nhằm bảo đảm các điều kiện cần thiết để xét xử những bị
cáo đã bị viện kiểm sát truy tố”. [28]. Với những khái niệm nhƣ trên mới chỉ
12
tổng kết đƣợc hoạt động chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự chứ chƣa đề
cập đến hoạt động xét xử phúc thẩm vụ án hình sự.
Vì vậy, tác giả đƣa ra định nghĩa về hoạt động chuẩn bị xét xử vụ án
hình sự nhƣ sau: Chuẩn bị xét xử vụ án hình sự là hoạt động tố tụng hình sự
đƣợc thực hiện bởi những ngƣời tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền theo
quy định của pháp luật từ khi thụ lý vụ án đến khi mở phiên tòa.
Nhƣ vậy, hoạt động chuẩn bị xét xử vụ án hình sự phải tuân theo đúng
quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Quy định này sẽ giúp cho những
ngƣời tiến hành tố tụng, mà chủ thể chính là Thẩm phán chủ tọa phiên tòa,
ngƣời có quyền điều khiển phiên tòa, quyết định tới sự thành công của phiên
tòa và đƣa ra một quyết định sáng suốt, một bản án công bằng, đúng ngƣời,
đúng tội và đúng pháp luật. Có nhƣ thế thì vụ án mới đƣợc xét xử một cách
khách quan, công khai, minh bạch, bị cáo đƣợc xét xử đúng theo khung hình
phạt tƣơng xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, hạn chế đến mức thấp nhất
không để lọt tội phạm và cũng không làm oan ngƣời vô tội.
1.1.2. Đặc điểm của hoạt động chuẩn bị xét xử vụ án hình sự
Hoạt động chuẩn bị xét xử vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng hình sự
độc lập trong hoạt động xét xử vụ án hình sự, bởi lẽ, hoạt động này thỏa mãn
đƣợc đầy đủ các yếu tố nhƣ: Chủ thể và mục đích hoạt động.
Chủ thể chịu trách nhiệm chính trƣớc pháp luật của hoạt động chuẩn bị
xét xử vụ án hình sự là Thẩm phán chủ tọa phiên tòa.
Mục đích của hoạt động chuẩn bị xét xử vụ án hình sự là: Quyết định
đƣa vụ án ra xét xử; Quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án; Quyết định
của vụ án khác nhau đã quy định tính độc lập hay không độc lập của hoạt
động chuẩn bị xét xử vụ án hình sự.
1.2. Vai trò và ý nghĩa của hoạt động chuẩn bị xét xử vụ án hình sự
Chuẩn bị xét xử vụ án hình sự góp phần đáp ứng những yêu cầu về tính
dân chủ và tổ chức quyền lực của nhà nƣớc. Góp phần củng cố thêm ý thức
tuân theo pháp luật của công dân, xác định đúng trách nhiệm của nhà nƣớc
14
với công dân và ngƣợc lại nhằm mục đích thống nhất luật từ trung ƣơng đến
địa phƣơng.
Hoạt động chuẩn bị xét xử vụ án hình sự giúp Tòa án đảm bảo đúng
đƣờng lối định hƣớng của đảng trên cơ sở tuân theo hiến pháp và pháp luật
nhằm đảm bảo cho vụ án đƣợc xét xử đúng pháp luật, khách quan, toàn diện,
đúng ngƣời và đúng tội. Khi xét xử vụ án, Thẩm phán và hội thẩm độc lập và
chỉ tuân theo pháp luật. Trong quá trình chuẩn bị xét xử vụ án, nếu xét thấy
vụ án có yếu tố chƣa đáp ứng điều kiện theo luật định để đƣa vụ án ra xét xử,
hoặc có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng làm ảnh hƣởng đến việc xác
định sự thật khách quan của vụ án, ảnh hƣởng tới quyền và lợi ích hợp pháp
của ngƣời tham gia tố tụng thì tòa án quyết định đình chỉ vụ án hoặc trả hồ sơ
điều tra bổ sung yêu cầu viện kiểm sát và cơ quan điều tra khắc phục những
thiếu sót trong hạn luật định. Hoạt động tiến hành tố tụng hình sự của các cơ
quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng, ngƣời tham gia tố tụng phải
tuân theo quy định của pháp luật nói chung và Bộ Luật tố tụng Hình sự Việt
Nam năm 2003 nói riêng. Ngƣời tiến hành tố tụng phải chịu trách nhiệm về
hành vi và quyết định của mình đối với những quyết định trong quá trình giải
quyết vụ án hình sự. Nếu vi phạm pháp luật, thì tùy theo mức độ, có thể bị xử
lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có định hƣớng đúng trong vấn đề giải quyết vật
chứng, xử lý các vấn đề về kinh tế, hành chính, lao động và dân sự trong cùng
một vụ án. Có nhƣ vậy mới đảm bảo tính pháp chế, tôn trọng và bảo đảm các
quyền của công dân cũng nhƣ nguyên tắc xác định sự thật vụ án.[52].
Trên cơ sở đảm bảo sự cân bằng các mối quan hệ pháp luật nói trên thì
hoạt động chuẩn bị xét xử vụ án hình sự còn góp phần đảm bảo cân bằng các
mối quan hệ xã hội liên quan, củng cố niềm tin của nhân dân vào nền công lý
nƣớc nhà, giữ vững uy tín của Tòa án trong nhân dân và hình ảnh nền tƣ pháp
Việt Nam trong mối quan hệ quốc tế và khu vực; khẳng định vị trí của pháp
16
luật Việt Nam, nền tƣ pháp Việt Nam và hệ thống xét xử Việt Nam trong mối
quan hệ với hệ thống xét xử quốc tế và khu vực. [51].
Thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án hình sự là khoảng thời gian đảm bảo
cho những ngƣời tham gia tố tụng thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình:
thuê luật sƣ hoặc tự bào chữa, chuẩn bị tâm lý tham gia phiên tòa, có mặt khi
tòa án triệu tập, có quyền khiếu nại nếu thấy quyết định của cơ quan tiến hành
tố tụng chƣa đúng, có quyền xuất trình những chứng cứ mới mà cơ quan điều
tra chƣa có hoặc phiên tòa sơ thẩm chƣa có.
Tóm lại, những quy định trên nhằm giúp hoạt động xét xử vụ án hình
sự đƣợc thực hiện nghiêm túc, tuân theo đúng trình tự quy định của pháp luật.
Đồng thời, hoạt động này cũng có mục đích nhằm nâng cao ý thức pháp luật
và tuyên truyền pháp luật đối với nhân dân.
1.3. Quy định của Bộ Luật tố tụng Hình sự năm 2003 về hoạt động chuẩn
bị xét xử vụ án hình sự
Để đảm bảo cho việc xét xử vụ án hình sự tại phiên tòa đƣợc tiến hành
một cách thuận lợi, chuẩn bị xét xử vụ án hình sự có vai trò đặc biệt quan
gửi quyết định đƣa vụ án ra xét xử cho viện kiểm sát cùng cấp và những
ngƣời tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng có liên quan, chuẩn bị phòng xét
xử vụ án và địa điểm xét xử vụ án nếu là vụ án xét xử lƣu động. Thẩm phán
trong cùng Hội đồng xét xử, Hội thẩm, Luật sƣ và ngƣời bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp cho đƣơng sự có quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của
pháp luật về việc nghiên cứu hồ sơ, trao đổi với Thẩm phán chủ tọa phiên tòa
những quan điểm khác nhau về vụ án nếu thấy cần thiết. Tất cả những công
việc trên là cơ sở cho việc xét xử tại phiên tòa đƣợc thuận lợi và nhanh chóng,
tránh lãng phí thời gian và tiền bạc của nhà nƣớc.
Theo quan điểm của một số nƣớc thì tùy thuộc vào kiểu tố tụng mà
hoạt động chuẩn bị xét xử vụ án hình sự đƣợc hiểu khác nhau. Nếu tố tụng
18
tranh tụng thì hoạt động chuẩn bị xét xử vụ án hình sự chỉ đơn giản là hoạt
động xem xét, chuẩn bị các điều kiện để mở phiên tòa nhƣ triệu tập ngƣời làm
chứng, xác định thời gian. Với kiểu tố tụng tranh tụng này thì sẽ đƣợc mở ra
qua sự tranh luận tự do và cởi mở giữa bên buộc tội và gỡ tội. Thẩm phán chủ
tọa phiên tòa chỉ giữ vai trò nhƣ là trọng tài và không có trách nhiệm tìm ra sự
thật của vụ án. Phán quyết của Thẩm phán chỉ dựa trên các chứng cứ đƣa ra
tại phiên tòa mà không nghiên cứu các chứng cứ trƣớc khi diễn ra phiên tòa.
Nhƣ vậy, sự thật đƣợc xác định dựa vào các chứng cứ mà các bên cung cấp
chƣa chắc đã là sự thật của vụ án. Phiên tòa kiểu này thƣờng phức tạp và kéo
dài vì các hoạt động thẩm vấn ngƣời làm chứng, cũng nhƣ các việc khác đƣợc
tiến hành tại phiên tòa mà không có gì đƣợc khẳng định chắc chắn. Đặc trƣng
của kiểu tranh tụng này là thẩm phán không đƣợc nghiên cứu trƣớc hồ sơ vụ
án. [51].
Tố tụng kiểu thẩm vấn thì vai trò của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa
pháp luật. Đồng thời, qua đó phát hiện những thiếu sót trong quá trình điều tra
để quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung, đình chỉ vụ án hoặc tạm đình chỉ vụ
án. Trƣớc khi mở phiên tòa công khai, Tòa án cần tiến hành một số hoạt động
chuẩn bị, vì vậy, chủ thể của hoạt động tƣơng đối đa dạng, họ là những ngƣời
tiến hành tố tụng theo quy định của Bộ Luật tố tụng Hình sự năm 2003. Tuy
nhiên Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải là ngƣời chịu trách nhiệm trƣớc pháp
luật trong việc tiến hành các hoạt động chuẩn bị xét xử vụ án hình sự.
Hoạt động nhận hồ sơ từ Viện kiểm sát cũng nhƣ từ Tòa án cấp sơ thẩm
do có kháng cáo, kháng nghị, là nhiệm vụ của bộ phận Thƣ ký Tòa án. Bộ
phận này có thể là một hoặc nhiều thƣ ký, thực hiện dƣới sự phân công, giám
sát và quản lý trực tiếp của Chánh án đối với Tòa án cấp sơ thẩm. Đối với Tòa
án cấp phúc thẩm là ngƣời lãnh đạo phụ trách Tòa hình sự và Chánh tòa hình
sự. Đối với Tòa án nhân dân tối cao là Chánh tòa, phó Chánh tòa phúc thẩm.
Khi Thẩm phán chủ tọa phiên tòa nhận đƣợc hồ sơ thì việc bố trí, sắp xếp thời