Giới hạn xét xử vụ án hình sự, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và các quy phạm trong bộ luật TTHS năm 2003 - Pdf 26

A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
“Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ
công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ Quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu
quả và có hiệu lực cao.” Đây là mục tiêu hàng đầu của chiến lược cải cách tư pháp đã
được Đảng và Nhà nước ta quán triệt tại Nghị quyết 49-NQ/TW về “Chiến lược cải
cách tư pháp đến năm 2020”. Để thực hiện được mục tiêu này cần phải tiến hành các
nhiệm vụ cải cách tư pháp, như phân định rõ quyền hạn tư pháp trong hoạt động tố
tụng tư pháp theo hướng tăng quyền và trách nhiệm cho điều tra viên, kiểm sát viên
và thẩm phán để họ chủ động trong thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và chịu
trách nhiệm trước pháp luật về các hành vi và quyết định tố tụng của mình; Xác định
rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức bộ máy các cơ quan tư
pháp, trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân.
Do đó việc việc quy định rõ giới hạn xét xử vụ án hình sự là một chế định pháp lí
quan trọng ảnh hưởng đến việc xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền bộ máy
cơ quan tư pháp, giữa cơ quan điều tra, viện kiểm sát và tòa án.
Giới hạn xét xử là chế định pháp lí quan trọng có liên quan đến nhiều chế định
khác của luật tố tụng hình sự. Giới hạn xét xử là phạm vi mà hội đồng xét xử được
phép xét xử tại phiên tòa. Phạm vi đó không phải là vô hạn mà ngược lại nó được hạn
chế bởi phạm vi những người và những hành vi mà Viện kiểm sát truy tố trong cáo
trạng và quyết định đưa vụ án ra xét xử. Chính giới hạn xét xử này là yếu tố bảo đảm
cho tòa án luôn là tòa án - cơ quan thực hiện chức năng xét xử chứ không phải là cơ
quan thực hiện chức năng buộc tội. Mặt khác chế định này còn đảm bảo được nguyên
tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, tòa án không được xét xử những
người chưa bị truy tố, không được xét xử những hành vi của bị cáo theo tội danh
1
không bị truy tố, không được xét xử theo tội danh nặng hơn so với tội danh mà viện
kiểm sát truy tố ...
Tuy nhiên thực tiễn xét xử trong thời gian qua đã cho thấy quy định về giới hạn
xét xử của toà án có nhiều điểm không hợp lí, quy định này cùng với nguyên tắc

+ Phạm vi nghiên cứu
Niên luận nghiên cứu những vấn đề cụ thể về giới hạn xét xử vụ án hình sự trong
giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trong lĩnh vực tố tụng hình sự.
+ Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài đã thực hiện dựa trên các
phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích tổng hợp… trên
nền tảng phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử,
các quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình biện luận và đánh giá, nghiên cứu các vấn
đề của đề tài này.
3. Kết cấu của niên luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
của niên luận gồm 3 chương:
Chương 1 : Những vấn đề chung về giới hạn xét xử vụ án hình sự.
Chương 2 : Những quy phạm pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về
giới hạn xét xử vụ án hình sự và thực tiễn áp dụng.
Chương 3 : Những phương hướng và giải pháp hoàn thiện quy định giới hạn xét
xủ vụ án hình sự nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng.
3
B. PHẦN NỘI DUNG
Chương I
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIỚI HẠN XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm giới hạn xét xử vụ án hình sự
Trong khoa học pháp luật tố tụng hình sự, khái niệm giới hạn xét xử còn có
những ý kiến khác nhau. Các học giả trong nước có một số ý kiến, như sau:
Thứ nhất: Tác giả Đặng Quang Phương cho rằng “Giới hạn xét xử là sự thể hiện
nội dung của vấn đề nguyên tắc độc lập xét xử.” Khái niệm của tác giả chưa hợp lý
khi cho rằng sự phân định phạm vi xét xử của Toà án trong phiên toà sơ thẩm là biểu
hiện của nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
Mặc dù nó có quan hệ với nhau nhưng lại khác biệt nhau về nội dung, ý nghĩa, vì giới

truy tố và Toà án đã quyết định đưa ra xét xử, ngoài ra cùng một điều luật về một tội
danh, Toà án có thể xử theo khoản khác nặng hơn hoặc nhẹ hơn khoản mà Viện kiểm
sát truy tố, Toà án cũng có thể xử theo tội danh khác bằng hoặc nhẹ hơn tội danh mà
Viện kiểm sát đã truy tố. Như vậy, phạm vi xét xử sơ thẩm là những khoản trong một
điều luật, những tội danh, mà hội đồng xét xử sơ thẩm được phép xét xử.
- Về mục đích của giới hạn xét xử: ngoài mục đích đảm bảo được chức năng của
toà án là xét xử, đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa thì theo quy định về giới hạn của
việc xét xử trong BLTTHS thì toà án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo
tội danh mà viện kiểm sát truy tố; toà án không được xét xử những người chưa bị truy
tố, không được xét xử những hành vi của bị cáo theo tội danh không bị truy tố. Toà án
không được xét xử theo tội danh nặng hơn so với tội danh mà viện kiểm sát truy tố,
như vậy trong trường hợp này toà án không được làm xấu đi tình trạng của bị cáo, đây
5
là những quy định có ý nghĩa rất lớn trong việc bảo đảm quyền bào chữa của bị can,
bị cáo.
Và, có thể đưa ra khái niệm khoa học: Giới hạn của việc xét xử là phạm vi
những khoản trong một điều luật, những tội danh, mà hội đồng xét xử sơ thẩm được
phép xét xử đối với những người, những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy
tố và Toà án đã quyết định đưa ra xét xử nhằm bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa và
quyền bào chữa của bị can, bị cáo.
1.2. Những nguyên tắc áp dụng quy đinh giới hạn xét xử vụ án hình sự
1.2.1. Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa
Pháp chế là việc thường xuyên nhất quán tuân thủ và chấp hành những quy định
của Hiến pháp, các đạo luật và các văn bản pháp luật khác phù hợp với Hiến pháp, các
đạo luật từ phía cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, mọi công dân. Nội dung của
nguyên tắc này được quy định trong Điều 12 Hiến pháp 1992. Nguyên tắc bảo đảm
pháp chế xã hội chủ nghĩa được thể hiện bằng quy phạm “Mọi hoạt động tố tụng hình
sự của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải theo quy định của bộ
luật này”(Điều 2 BLTTHS).Theo đó, hoạt động xét xử vự án hình sự ở giai đoạn sơ
thẩm phải theo quy định của BLTTHS.

tố tụng, người tiến hành tố tụng.
1.2.2. Nguyên tắc dân chủ và nhân đạo xã hội chủ nghĩa
Hoạt động tố tụng hình sự là hoạt động đặc thù của nhà nước mang bản chấp giai
cấp và bản chất xã hội của Nhà nước. Bởi vì hoạt động này được tiến hành vì lợi ích
giai cấp cầm quyền và lợi ích chung của xã hội. Xuất phát từ bản chất Nhà nước ta là
nhà nước của dân, do dân, vì dân nên các hoạt động tố tụng hình sự phải tuân theo
nguyên tắc dân chủ, nhân đạo XHCN. Tù đó, quy định về giới hạn xét xử vụ án hình
sự cũng phải xuất phát từ lợi ích của con người chứ không thể vì lợi ích của nhà nước.
7
Là những nguyên tắc của pháp luật xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc dân chủ và nhân
đạo đòi hỏi pháp luật tố tụng hình sự về giới hạn xét xử phải thể hiện và bảo vệ được
những giá trị xã hội với nội dung sau đây : Theo quy định về giới hạn của việc xét xử
trong BLTTHS thì toà án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà
viện kiểm sát truy tố; toà án không được xét xử những người chưa bị truy tố, không
được xét xử những hành vi của bị cáo theo tội danh không bị truy tố. Toà án không
được xét xử theo tội danh nặng hơn so với tội danh mà viện kiểm sát truy tố...Với quy
định như vậy giới hạn xét xử đã quy định theo hướng có lợi cho bị cáo, khiến cho việc
xét xử của hội đồng xét xử sơ thẩm không được làm xấu đi tình trạng của bị cáo.
Do đó có thể nói quy định về giới hạn xét xử vụ án hình sự cũng xuất phát từ lợi
ích con người chứ không thể vì lợi ích của nhà nước, luôn luôn bảo vệ lợi ích hợp
pháp của công dân.
1.2.3. Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo
Bào chữa là một trong những hoạt động đặc trưng của tố tụng hình sự, là hình
thức biểu hiện ưu thế của công lý nhằm bảo đảm quyền dân chủ trong hoạt động tố
tụng nói chung cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo nơi riêng. Để
xây dựng một xã hội công bằng, văn minh thì yêu cầu đặt ra đối với các cơ quan tiến
hành tố tụng, trước hết là phải bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của những người
tham gia tố tụng, trong đó không thể không kể đến quyền, lợi ích hợp pháp của bị can,
bị cáo.
Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo được ghi nhận trong điều

vi phạm tội và cũng không xét xử người đó nên không vi phạm nguyên tắc bảo đảm
quyền bào chữa của bị can, bi cáo.
Điều 196 BLTTHS 2003 quy định Toà án chỉ được phép xét xử những bị cáo
và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Toà án đã quyết định đưa
9
vụ án ra xét xử. Viện kiểm sát truy tố bị can trước toà án bằng bản cáo trạng, theo
đoạn 3, khoản 1, điều 166, BLTTHS 2003 quy định trong mọi trường hợp, Viện kiểm
sát đều phải giao cáo trạng cho bị can trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày ra cáo trạng,
ở đây bản cáo trạng giúp định hướng cho hoạt động bào chữa, bên bào chữa chỉ có thể
bào chữa khi biết nội dung cụ thể của sự buộc tội. Ngoài ra theo khoản 1 điều 182,
BLTTHS 2003 thì quyết định đưa vụ án ra xét xử phải được giao cho bị cáo, người
đại diện hợp pháp của họ và người bào chữa chậm nhất là mười ngày trước khi mở
phiên toà, quy định này cáo ý nghĩa giúp bị cáo và người tham gia tố tụng có điều
kiện thực hiện các quyền của mình như : đưa ra yêu cầu, đề nghị thay đổi người tiến
hành tố tụng ...sau khi nhận được quyết định đó.
Với những ý nghĩa như trên, do đó khi quy định giới hạn của việc xét xử luôn
luôn xem xét đến mối quan hệ với nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị
cáo nếu không như vậy sẽ cho phép toà án được xét xử cả người, cả hành vi chưa bị
viện kiểm sát truy tố, kết quả là biến toà án thành cơ quan vừa xét xử vừa buộc tội.
Điều này trái với nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo.
Kết luận
Sau khi nghiên cứu từ (4) vấn đề: a) khái niệm giới hạn xét xử; b) đối tượng xét
xử của phiên toà sơ thẩm; c) phạm vi xét xử của phiên toà sơ thẩm; d) mục đích của
giới hạn xét xử. Có thể đưa ra khái niệm khoa học: Giới hạn của việc xét xử là phạm
vi những khoản trong một điều luật, những tội danh, mà hội đồng xét xử sơ thẩm
được phép xét xử đối với những người, những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát
truy tố và Toà án đã quyết định đưa ra xét xử nhằm bảo đảm pháp chế xã hội chủ
nghĩa và quyền bào chữa của bị can, bị cáo. Những nguyên tắc áp dụng quy định giới
hạn xét xử vụ án hình sự bao gồm nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa,
nguyên tắc dân chủ và nhân đạo xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc bảo đảm quyền bào

xét xử. Hành vi phạm tội bị truy tố (bao gồm số lượng và tính chất của hành vi) không
phải là hành vi chung chung mà là hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong
Bộ luật hình sự. Do vậy hành vi của bị cáo bị truy tố là những hành vi được quy định
thành những tội danh cụ thể của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát truy tố bị can trước
toà án bằng bản cáo trạng. Cáo trạng là một trong bốn quyết định của Viện kiểm sát
sau khi kết thúc điều tra. Bản chất của bản cáo trạng là văn bản tố tụng hình sự, thể
hiện quan điểm của Viện kiểm sát về tội trạng của bị can.
Thứ ba, Toà án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử. Quyết định đưa vụ án ra xét
xử là một trong bốn quyết định của Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà, sau
thời gian nghiên cứu hồ sơ do pháp luật quy định. Việc quyết đưa vụ án ra xét xử
không có nghĩa là Toà án (Thẩm phán nghiên cứu hồ sơ đã ra quyết định đưa vụ án ra
xét xử) đồng nhất quan điểm với Viện kiểm sát về tội danh, điều khoản của Bộ luật
hình sự mà Viện kiểm sát đã viện dẫn trong cáo trạng.
Trong trường hợp Toà án thấy cần xét xử bị cáo theo tội danh khác bằng hoặc
nhẹ hơn tội danh mà Viện kiểm sát truy tố, hay Toà án thấy cần áp dụng khung hình
phạt khác (nặng hơn hoặc nhẹ hơn) khung hình phạt theo tội danh mà Viện kiểm sát
truy tố thì theo hướng dẫn của Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 8/12/1988 của
Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao : “ Nếu xét thấy cần xét xử bị
cáo theo tội danh khác bằng hoặc nhẹ hơn tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố, hoặc
áp dụng khung hình phạt nhẹ hơn khung hình phạt mà Viện kiểm sát đã đề nghị, thì
Tòa án không phải báo trước cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng ”.
Ngoài ra, Toà án nhân dân tối cao còn hướng dẫn : “Toà án có quyền áp dụng khoản
của điều luật có khung hình phạt nặng hơn khoản của điều luật mà Viện kiểm sát viện
12
dẫn”. Với những hướng dẫn trên thì Toà án có toàn quyền độc lập quyết định khung
hình phạt (nặng hơn hoặc nhẹ hơn), chuyển tội danh khác (bằng hoặc nhẹ hơn) tội
danh, điều khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố. Nếu Viện kiểm sát không thống nhất
với quyết định của Toà án thì có quyền kháng nghị phúc thẩm.
Còn việc giải quyết sự không thống nhất trong trường hợp Toà án cần xét xử bị
cáo theo tội danh khác nặng hơn chưa được hướng dẫn triệt để; Tại Thông tư liên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status