MÔ HÌNH TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM – NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN - Pdf 26

MÔ HÌNH TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM – NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC
TIỄN
NGUYỄN THÁI PHÚC*
*PGS.TS Luật học, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
1. Đặt vấn đề
Như bất kỳ những lĩnh vực hoạt động khác của con người, hoạt động tố tụng hình sự
(TTHS) cũng chịu sự tác động của những quy luật khách quan nhất định. Những quy luật
khách quan này là gì và tác động, ảnh hưởng chi phối của chúng như thế nào đến tổ chức
hoạt động của TTHS trong lịch sử thế giới và lịch sử của mỗi quốc gia là một vấn đề cực
kỳ quan trọng đối với các nhà lập pháp. Xây dựng và hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt
động TTHS không thể là công việc chủ quan duy ý chí. Chỉ khi nào mà pháp luật TTHS
được xây dựng trên nền tảng nhận thức của nhà lập pháp về những quy luật khách quan và
những điều kiện tác động, chi phối của nó trong TTHS thì hoạt động của TTHS mới có thể
đem lại những kết quả mong đợi. Chính vì nhu cầu thực tế này của cuộc sống mà từ cuối
thế kỷ XIX khoa học TTHS đã có những nghiên cứu về sự đa dạng phong phú trong cách
thức tổ chức hoạt động TTHS trên thế giới nói chung và ở mỗi quốc gia nói riêng trong
tiến trình phát triển lịch sử hàng nghìn năm của TTHS để tìm ra những quy luật chung,
những sự khác biệt và xu hướng vận động của hoạt động TTHS. Hướng nghiên cứu này
trong khoa học TTHS được gọi là nghiên cứu về kiểu, mô hình TTHS hay còn gọi là mô
hình hóa TTHS. Tri thức về mô hình TTHS là nền tảng giúp chúng ta có được phương
pháp luận phù hợp khi đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật TTHS của mình.
2. Khoa học TTHS Xô Viết về kiểu và mô hình TTHS
Theo quan điểm của khoa học TTHS Xô Viết, TTHS cũng như các chế định pháp lý khác
gắn liền với nhà nước, chịu tác động của quy luật tiến hóa, cùng vận động và phát triển với
nhà nước. Tương ứng với mỗi kiểu nhà nước là mỗi kiểu TTHS nhất định. Cũng như kiểu
nhà nước, kiểu TTHS là tổng hợp toàn bộ các dấu hiệu của nó đặc trưng cho một hình thái
kinh tế – xã hội nhất định. Lịch sử phát triển tự nhiên của xã hội loài người đã biết đến 4
kiểu TTHS khác nhau, thay thế lẫn nhau: TTHS kiểu chiếm hữu nô lệ, TTHS kiểu phong
kiến, TTHS kiểu tư sản, TTHS kiểu XHCN. Cách tiếp cận này cho chúng ta thấy mối quan
hệ có tính phụ thuộc, bị chi phối về bản chất của TTHS trong quan hệ với chế độ xã hội
nhà nước mà nó tồn tại, trong đó vai trò của TTHS như là một chế định công bảo vệ các

luận của các mô hình TTHS cụ thể. Cơ sở phân loại các mô hình TTHS là tiêu chí: có hay
không có tranh chấp – xung đột pháp lý giữa các bên tranh tụng bình đẳng với nhau trước
Tòa án (TA) độc lập. Có – đó là TTHS tranh tụng. Không có – đó là TTHS thẩm vấn. Nếu
như tranh chấp giữa các bên chỉ có ở một số giai đoạn của TTHS thì TTHS là mô hình pha
trộn. Các mô hình TTHS này gọi là mô hình TTHS lý thuyết vì chúng chỉ tồn tại trong lý
luận khoa học chứ không tồn tại ở hình thức nguyên mẫu trong lịch sử của TTHS. Có ba
mô hình TTHS lý thuyết là mô hình tranh tụng, mô hình xét hỏi và mô hình pha trộn.
Mô hình tranh tụng có những đặc điểm sau đây:
+ Có hai bên tranh tụng đối trọng nhau là bên buộc tội và bên bào chữa.
+ Hai bên này hoàn toàn bình đẳng với nhau về địa vị tố tụng.
+ TA hoàn toàn độc lập đối với các bên.
Mô hình tranh tụng đòi hỏi áp dụng phương pháp điều chỉnh pháp luật là phương pháp
trọng tài dựa trên tự do và độc lập ý chí của các chủ thể tham gia hoạt động tố tụng.
Phương pháp điều chỉnh này dựa trên yếu tố tự định đoạt và mệnh lệnh: thừa nhận quyền
tự định đoạt của các bên và quyết định có tính bắt buộc thi hành của TA (Trọng tài). Bản
thân các bên không thể tự mình tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến bên tranh tụng kia.
TA chỉ giải quyết vụ án trên cơ sở yêu cầu của các bên chứ không tự ý giải quyết những gì
ngoài yêu cầu của các bên. TA không thể thực hiện bất kỳ hành vi nào thuộc chức năng
buộc tội hay chức năng bào chữa. TA tiến hành hoạt động của mình trên cơ sở có sự buộc
tội của bên buộc tội đưa ra và chỉ giới hạn hoạt động trong phạm vi buộc tội. Điều này dẫn
đến hệ quả: sự tranh tụng của các bên xung quanh sự buộc tội chính là động lực làm cho
hoạt động TTHS tiến triển, vận động lên phía trước. Không có buộc tội – không có tố tụng.
Đây là một trong những quy tắc quan trọng của tranh tụng trên cơ sở thừa nhận vai trò độc
lập của TA.
Mô hình TTHS thẩm vấn là mô hình TTHS mà trong đó các chức năng cơ bản như chức
năng buộc tội, chức năng bào chữa, chức năng xét xử tập trung vào một cơ quan nhà nước.
Mô hình này có các dấu hiệu đặc trưng như sau:
+ Không có các bên độc lập vì hoạt động tích cực của các bên bị thay thế bởi hoạt động
của cơ quan nhà nước trong TTHS – cơ quan tiến hành tố tụng.
+ Bị cáo hoàn toàn phụ thuộc vào cơ quan tiến hành tố tụng và là đối tượng xem xét của

tranh tụng TTDS.
Trường phái thứ hai là trường phái mô hình TTHS quốc gia truyền thống. Mô hình TTHS
quốc gia truyền thống là cách thức tổ chức hoạt động TTHS bị chi phối bởi những đặc thù
văn hóa – xã hội, tôn giáo, truyền thống pháp lý… của quốc gia và của khu vực. Trường
phái này tiếp cận mô hình TTHS theo đặc thù quốc gia bằng cách nghiên cứu các mô hình
TTHS đã hoặc đang tồn tại thực tế ở các quốc gia nhất định. Tiêu chí phân loại các mô
hình TTHS là những dấu hiệu đặc thù của TTHS trong một số quốc gia cụ thể ở một số
khu vực địa lý nhất định có đặc điểm riêng về dân tộc, tôn giáo, địa lý, truyền thống pháp
lý… Phương pháp tiếp cận này phủ nhận quá trình lịch sử thống nhất đối với các mô hình
TTHS bởi lẽ các mô hình TTHS quốc gia phụ thuộc vào các điều kiện xã hội, văn hóa, lịch
sử của các nền văn minh khác nhau. Các mô hình TTHS không chuyển tiếp, thâm nhập
nhau mà tự thân tồn tại và phát triển. Phương pháp này phân biệt:
+ Mô hình TTHS Rôman – Đức hay còn gọi là mô hình TTHS lục địa với đặc trưng về luật
thành văn điều chỉnh hoạt động TTHS (Một số tác giả phân biệt mô hình TTHS của Đức
với mô hình TTHS của Pháp như là hai mô hình TTHS độc lập).
+ Mô hình TTHS Anh – Mỹ hay TTHS của các quốc gia theo thông luật với đặc thù là coi
trọng yếu tố thực tiễn xét xử thể hiện trong các bản án của TA (án lệ).
+ Mô hình TTHS tập quán pháp với đặc thù hoạt động TTHS chủ yếu dựa vào tư tưởng
pháp luật (ý thức pháp luật) với sự ảnh hưởng của tôn giáo thí dụ như các hệ thống TTHS
của các quốc gia hồi giáo.
Phương pháp này cho thấy mối quan hệ giữa các yếu tố quốc gia đặc thù với cách thức tổ
chức TTHS, giữa đặc thù văn hóa – xã hội với đặc thù mô hình TTHS nhưng lại có hạn chế
là không thấy được quy luật chung giữa các mô hình TTHS, không thấy được sự kế thừa
giữa chúng.
Trường phái thứ ba là trường phái mô hình TTHS lịch sử. Trường phái này đưa ra khái
niệm về mô hình TTHS lịch sử. Đó là cách thức tổ chức hoạt động TTHS điển hình trong
từng giai đoạn phát triển lịch sử của xã hội loài người và chịu sự chi phối bởi mối quan hệ
giữa tự do cá nhân và nhà nước, giữa lợi ích riêng của cá nhân và lợi ích chung của nhà
nước, của xã hội. Những người theo trường phái này đã khái quát toàn bộ quá trình phát
triển lịch sử TTHS để chỉ ra quy luật chung và xu hướng vận động của tiến trình lịch sử đó

mà ngược lại, là đối tượng của hoạt động TTHS. TA có vai trò tích cực trong hoạt động tố
tụng, thâu tóm vào tay mình cả ba chức năng cơ bản của TTHS: vừa buộc tội, vừa bào
chữa, vừa xét xử. Hệ thống chứng cứ được xây dựng trên cơ sở những quy định chặt chẽ
về cách đánh giá chứng cứ theo những chuẩn mực giá trị nhất định (đánh giá chứng cứ
hình thức). Thí dụ như lời nhận tội của bị cáo là “chứng cứ vua”, lời khai của phụ nữ có
giá trị chứng minh ít hơn so với lời khai của nam giới, lời khai của người giàu trung thực,
đáng tin cậy hơn lời khai của người nghèo… Hệ thống chứng cứ này dù sao cũng được
nhìn nhận là một sự tiến bộ vì ý chí của pháp luật cũng đã thay thế cho sự tùy tiện của
thẩm phán. Mô hình TTHS này tuyệt đối hóa lợi ích nhà nước, đặt lợi ích nhà nước lên trên
hết và xem thân phận của bị can như là phương tiện để đạt tới mục đích có ý nghĩa xã hội
là chân lý của vụ án. Nhưng lịch sử đã cho thấy chính sự chà đạp lên quyền con người của
bị can lại là yếu tố cản trở việc thực hiện mục đích đó và là nguyên nhân phổ biến của
những sai lầm tư pháp.
+ Mô hình TTHS tranh tụng. Mô hình này phổ biến ở những quốc gia có truyền thống
thông luật. Nó ra đời đầu tiên ở Anh, sau đó được phổ biến ở các nước vốn là thuộc địa của
Anh. Mô hình này thừa nhận hoạt động TTHS là quá trình giải quyết tranh chấp pháp lý
giữa một bên là đại diện nhà nước và một bên là công dân bị cáo buộc là đã thực hiện hành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status