ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN ĐỨC HIẾU NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN BÌNH ĐẲNG
TRƯỚC TÒA ÁN TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
- NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2008
HÀ NỘI - 2008
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM
QUYỀN BÌNH ĐẲNG TRƢỚC TÒA ÁN
6
1.1. Khái niệm, vị trí, ý nghĩa của nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng
trƣớc tòa án
6
1.1.1. Khái niệm
6
1.1.2. Vị trí
11
1.1.3. Ý nghĩa
16
1.2. Nội dung nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trƣớc tòa án
19
1.2.1. Bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ
20
1.2.2. Bình đẳng trong việc đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu
29
1.2.3. Bình đẳng trong tranh luận
31
1.3. Cơ chế bảo đảm quyền bình đẳng trƣớc tòa án
34
2.1.3. Nhóm các điều luật thể hiện nội dung bảo đảm quyền bình đẳng trong
việc đưa ra yêu cầu
62
2.1.4. Nhóm các điều luật thể hiện nội dung bảo đảm quyền bình đẳng trong
tranh luận
65
2.2. Thực trạng áp dụng nguyên tắc bảo đẳm quyền bình đẳng trƣớc tòa án
67
2.2.1. Giai đoạn từ năm 1989 - 2002
67
2.2.2. Giai đoạn từ năm 2003 đến nay
69
CHƢƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC
BẢO ĐẢM ĐẲNG TRƢỚC TÒA ÁN
79
3.1. Đánh giá nguyên nhân của thực trạng
79
3.1.1. Nguyên nhân từ pháp luật
80
3.1.2. Nguyên nhân từ những người tiến hành tố tụng và những người tham
gia tố tụng.
85
3.1.3. Nguyên nhân từ điều kiện vật chất, cơ sở kinh tế
87
3.2. Định hƣớng nâng cao hiệu quả nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng
trƣớc tòa án
89
3.3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả
93
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU Bảng 2.1: Bảng tổng hợp số liệu xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm,
tái thẩm của ngành Tòa án từ 1989 – 2002 (tr67)
Bảng 2.2: Bảng tổng hợp số liệu xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm,
tái thẩm của ngành Tòa án từ 2003 – 2007 (tr68)
Bảng 2.3 Bảng tổng hợp số liệu xét xử án hình sự của cấp phúc thẩm cải
sửa, hủy án sơ thẩm của ngành Tòa án từ 2003 - 2007
DANH MỤC BẢNG STT
Bảng
Nội dung
Trang
1.
2.1.
Bảng tổng hợp số liệu xét xử sơ thẩm, phúc thẩm,
giám đốc thẩm, tái thẩm của ngành Toà án từ 1989 –
2002
69
2.
2.2.
cứ và lập luận bào chữa. Toà án chưa bảo đảm thực hiện tốt việc tranh luận,
thẩm vấn, đánh giá chứng cứ tại phiên toà, vẫn còn những biêu hiện thiếu dân
chủ trong tranh luận. Thực trạng này chưa phù hợp với mục tiêu của Nghị
quyết 49 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp "xây dựng nền tư
pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng
bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa”.
Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu sâu sắc hơn nữa nguyên tắc bảo đảm
quyền bình đẳng trước tòa án để làm sáng tỏ về mặt khoa học và áp dụng
nguyên tắc này trong thực tiễn, đồng thời đưa ra những giải pháp hoàn thiện
để góp phần nâng cao hiệu quả của việc áp dụng nguyên tắc đã nêu không
2
những có ý nghĩa lý luận- thực tiễn pháp lý quan trọng, mà còn là vấn đề
mang tính cấp thiết. Đây chính là lý do tôi quyết định lựa chọn đề tài
“Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước tòa án trong Luật tố tụng
hình sự- Những vấn đề lý luận và thực tiễn” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật
học của mình.
2- Tình hình nghiên cứu
Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án được quy định
trong Bộ luật tố tụng hình sự đầu tiên của Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam năm 1988 và được sửa đổi bổ sung năm 2003, cũng đã có những
bài viết, công trình khoa học nghiên cứu về nguyên tắc này như:
- Nguyễn Ngọc Chí (2007), Đề cương chi tiết bài giảng : Các nguyên
tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự, Tài liệu tập huấn việc thi hành Bộ luật
hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự.
- Phạm Hồng Hải (2003), Mô hình lý luận Bộ luật tố tụng hình sự Việt
Nam, Sách chuyên khảo, NXB Công an nhân dân.
- Phạm Hồng Hải (1998), Đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc
tội, NXB Công an nhân dân.
luật và áp dụng nguyên tắc này trong thực tiễn.
- Đề ra phương hướng, giải pháp đổi mới, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả
áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án trong giai đoạn hiện
nay.
4- Phạm vi nghiên cứu
Đề tài đi sâu nghiên cứu một số vấn đề sau:
a) Khái niệm, vị trí, ý nghĩa quyền bình đẳng trong tố tụng hình sự.
b) Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của nguyên tắc bình đẳng
trước tòa án trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam. So sánh quy định của
một số nước trên thế giới về nội dung nguyên tắc này.
c) Nghiên cứu thực tiễn áp dụng nguyên tắc.
4
d) Đưa ra giải pháp hoàn thiện nguyên tắc bình đẳng trước tòa án.
5- Nhiệm vụ nghiên cứu
Với phạm vi nghiên cứu nêu trên trong luận văn này, tác giả tập trung
vào giải quyết những nhiệm vụ chính như sau:
a) Phân tích và xây dựng định nghĩa khoa học của khái niệm quyền
bình đẳng trước tòa án và so sánh nguyên tắc này với một số nguyên tắc liên
quan.
b) Nêu được vị trí, ý nghĩa của nguyên tắc này.
c) Khái quát sự hình thành và phát triển của nguyên tắc bảo đảm quyền
bình đẳng trước tòa trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam. So sánh quy
định của một số nước trên thế giới về nội dung nguyên tắc này. Nghiên cứu
thực tiễn áp dụng nguyên tắc này.
d) Luận chứng cho sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định của pháp
luật tố tụng hình sự Việt Nam về nguyên tắc bình đẳng, đánh giá thực tiễn,
nêu được vai trò, ý nghĩa của việc hoàn thiện nguyên tắc bình đẳng trước tòa,
đề xuất các giải pháp hoàn thiện nguyên tắc trong Bộ luật tố tụng hình sự năm
2003.
và vai trò chủ động của Kiểm sát viên và luật sư tại phiên tòa. Ngoài ra, điểm
mới về khoa học của luận văn ở một chừng mực nhất định có thể khẳng định
rằng, đây là nghiên cứu chuyên khảo đồng bộ đầu tiên ở cấp độ một luận văn
thạc sĩ đề cập đến nguyên tắc bình đẳng trong luật tố tụng hình sự Việt Nam,
do đó nó còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo cần thiết cho các cán bộ
nghiên cứu khoa học, cán bộ giảng dạy, nghiên cứu sinh, học viên cao học và
sinh viên thuộc chuyên ngành Tư pháp hình sự.
8- Cơ cấu của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
bao gồm ba chương với kết cấu như sau:
6
Chƣơng 1. Những vấn đề lý luận về nguyên tắc bảo đảm quyền bình
đẳng trƣớc tòa án trong tố tụng hình sự
Chƣơng 2. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự và thực tiễn áp
dụng nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trƣớc Tòa án
Chƣơng 3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng nguyên tắc
bảo đảm quyền bình đẳng trƣớc Tòa án
7
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM
QUYỀN BÌNH ĐẲNG TRƢỚC TÒA ÁN
1.1. Khái niệm, vị trí, ý nghĩa của nguyên tắc bảo đảm quyền bình
đẳng trƣớc tòa án
1.1.1. Khái niệm
Bình đẳng là một trong những quyền tự nhiên cơ bản của con người, gắn
bó mật thiết với con người trong hoạt động xã hội. Nhân loại đã trải qua đấu
tranh, hy sinh để bảo vệ quyền bình đẳng, nên bảo đảm quyền bình đẳng là
một trong những nhiệm vụ quan trọng của các nhà nước văn minh.
được tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh.
Hiến pháp và pháp luật nước ta đã ghi nhận bình đẳng trước tòa án, bình
đẳng trước pháp luật là quyền cơ bản của con người “Mọi công dân đều bình
đẳng trước pháp luật”(Điều 52-Hiến pháp 1992), “Tố tụng hình sự tiến hành
theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân
biệt dân tộc, nam nữ, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội.
Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật”(Điều 5-Bộ luật tố
tụng hình sự 2003).
Ở nhà nước ta các quan hệ pháp luật nói chung và quan hệ pháp luật tố
tụng hình sự nói riêng đều xác định vị trí bình đẳng của các công dân không
có sự phân biệt. Bình đẳng trước pháp luật có nghĩa là: khi tham gia tố tụng
hình sự mọi người đều có quyền và nghĩa vụ như nhau. Trong cùng một vai
trò của người tham gia tố tụng như: bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự,
bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều có quyền và
nghĩa vụ như nhau do pháp luật tố tụng hình sự quy định. Trong quá trình
điều tra, truy tố, xét xử không ai được loại trừ hoặc được áp dụng những ưu
đãi ngoài quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Quá trình giải quyết vụ án
đều phải theo một trình tự, thủ tục thống nhất theo quy định của pháp luật tố
9
tụng hình sự. Tính thống nhất thể hiện ở việc cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng giải quyết vụ án theo trình tự, thủ tục chung trên toàn quốc
và đối với tất cả những người tham gia tố tụng ở tất cả các vụ án khác nhau
theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Đối với các thủ tục đặc biệt, thủ
tục rút gọn chỉ áp dụng với đối tượng và trong phạm vi luật định, bất kỳ ai,
bất kỳ vụ án nào có đủ điều kiện luật định trong trường hợp đặc biệt thì mới
áp dụng thủ tục đặc biệt. Bất kỳ ai phạm tội đều phải chịu trách nhiệm hình sự
không phân biệt địa vị, đẳng cấp, giới tính, tôn giáo.
Bình đẳng trước pháp luật là quyền bình đẳng của công dân trước sự điều
chỉnh của các quy phạm pháp luật, còn bình đẳng trước Tòa án là quyền bình
chủ trước tòa án. Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho họ thực hiện các
quyền đó nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án ”(Điều 19- Bộ luật tố
tụng hình sự 2003).
Quyền bình đẳng ở đây được xem xét trên hai phương diện:
Thứ nhất, trong cùng một vai trò khi tham gia tố tụng thì quyền và nghĩa
vụ của những người tham gia tố tụng là như nhau. Ví dụ, cùng là bị cáo trong
vụ án, không thể có việc bị cáo này được quyền xuất trình chứng cứ, được
quyền đưa ra yêu cầu và tranh luận trước tòa án, còn bị cáo khác lại không
được hưởng các quyền đó.
Thứ hai, đối với các vai trò khác nhau khi tham gia tố tụng: dù là đại diện
cho nhà nước thực hiện chức năng buộc tội (Kiểm sát viên) hay bên gỡ tội (bị
cáo, người đại diện của bị cáo, người bào chữa) và những người tham gia tố
tụng khác thì họ cũng đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài
liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước Tòa án.
Nội dung của nguyên tắc này là phải đảm bảo quyền bình đẳng trong
việc thu thập và đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu theo quy
định của pháp luật. Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự
luật định, được dùng làm căn cứ xác định có hay không hành vi phạm tội,
11
giúp cho việc giải quyết đúng đắn vụ án. Nếu không đảm bảo quyền bình
đẳng trong việc thu thập và đưa ra chứng cứ sẽ dẫn đến tình trạng nhiều
chứng cứ buộc tội, xét xử phiến diện không khách quan chính xác. Tại phiên
tòa các bên có quyền bình đẳng trong việc đánh giá chứng cứ, được đưa ra các
yêu cầu làm rõ các chứng cứ đã thu thập được và yêu cầu thu thập thêm
chứng cứ mới. Ngoài ra, khi tham gia phiên tòa các bên có quyền yêu cầu Tòa
án bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của họ, nếu như quyền lợi của họ
bị xâm phạm.
Tại phiên tòa các bên có quyền bình đẳng trong tranh luận và được Tòa
án bảo đảm quyền bình đẳng ấy. Tranh luận tức là các bên được trình bày
án là cơ quan có trách nhiệm bảo đảm cho Kiểm sát viên, bị cáo, người bào
chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp của họ, người bảo vệ
quyền lợi của đương sự đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ,
tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước tòa án”.
1.1.2. Vị trí
Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của những người tham gia tố tụng
trước tòa án có vị trí rất quan trọng trong Bộ luật tố tụng hình sự, nó tác động,
chi phối các nguyên tắc khác và là định hướng cho hoạt động xây dựng, áp
dụng pháp luật tố tụng hình sự.
Khẳng định nguyên tắc này là nguyên tắc cơ bản của Bộ luật tố tụng hình
sự vì nguyên tắc này bảo vệ một trong những quyền cơ bản của con người, đó
là quyền bình đẳng trước Tòa án.
Ngoài ra, nguyên tắc này là phương châm, định hướng chi phối các hoạt
động tố tụng trong giai đoạn xét xử- mà giai đoạn xét xử là giai đoạn quan
trọng nhất, cơ bản nhất của tố tụng hình sự. Tại giai đoạn này, Tòa án với tính
cách là cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện công việc xét xử vụ án, giải quyết
13
những vấn đề bản chất của vụ án bao gồm định tội danh, quyết định hình phạt
đối với người phạm tội [32, tr 176].
Khẳng định nguyên tắc này là nguyên tắc cơ bản không chỉ dừng ở nhận
định cảm tính, mà nhận định như vậy là căn cứ vào tính khách quan, tính khoa
học của nguyên tắc. Đây là kết quả nghiên cứu của khoa học tố tụng hình sự,
nó phản ánh quy luật phát triển khách quan quá trình đấu tranh chống tội
phạm và giải quyết vụ án hình sự. Mục đích của xét xử là xác định sự thật
khách quan của vụ án để quyết định một người có tội hay không có tội và áp
dụng hình phạt tương ứng để giáo dục cải tạo riêng và phòng ngừa tội phạm
chung. Thực tế khách quan đã chứng minh không thể có được phán quyết
chính xác, khách quan nếu không đảm bảo được quyền bình đẳng của những
hình sự hiện nay càng thấy được vị trí quan trọng của nguyên tắc bảo đảm
quyền bình đẳng trước tòa án. Nguyên tắc này vừa có vị trí quan trọng trong
toàn bộ giai đoạn xét xử, không có bất cứ trường hợp ngoại lệ nào và việc
không đảm bảo nguyên tắc sẽ dẫn đến việc xét xử không công bằng, thiếu
chính xác.
Là nguyên tắc cơ bản nên nguyên tắc này chi phối các nguyên tắc khác,
tác động trực tiếp đến hiệu lực, hiệu quả của các nguyên tắc khác như:
“Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” (Điều 4),
“nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật”
(Điều 5), “nguyên tắc xác định sự thật vụ án” (Điều 10), và “nguyên tắc bảo
đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ bị can, bị cáo” (Điều 11). Quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân cần phải được tôn trọng và bảo vệ, đặc biệt
trong quan hệ tố tụng hình sự nguyên tắc này càng phải được đề cao, bởi vì tố
tụng hình sự điều chỉnh các quan hệ pháp luật liên quan đến điều tra, truy tố,
xét xử- mỗi hành vi tố tụng, quyết định tố tụng đều tác động trực tiếp đến
quyền và lợi ích của công dân. Chính việc bảo đảm quyền bình đẳng trước tòa
15
án cũng là nhằm bảo đảm quyền và lợi ích của công dân. Nội dung quyền
bình đẳng trước tòa án là mọi người được bình đẳng đưa ra chứng cứ, tài liệu,
đồ vật, đưa ra yêu cầu và được tranh luận dân chủ trước tòa án. Tòa án phải
xác định khách quan, toàn diện và đầy đủ sự thật vụ án, phán quyết của tòa án
phải dựa vào các chứng cứ được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả
tranh luận tại phiên tòa, để có phán quyết khách quan, toàn diện, chính xác
cần phải đảm bảo quyền bình đẳng của các bên. Do đó, đảm bảo quyền bình
đẳng trước tòa án vừa thể hiện sự tôn trọng quyền cơ bản của công dân- trong
đó có quyền được bào chữa, quyền được tranh luận và quyền bình đẳng trước
pháp luật, đồng thời đảm bảo xác định sự thật khách quan của vụ án, giải
quyết chính xác vụ án.
Bộ luật tố tụng hình sự còn quy định “Nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của
Nếu như nguyên tắc “Suy đoán vô tội” xóa bỏ định kiến chủ quan luôn
coi bị cáo đã là người có tội và góp phần đảm bảo quyền bình đẳng của những
người tham gia tố tụng trước tòa án, thì nguyên tắc “Bảo đảm sự vô tư của
những người tiến hành hoặc tham gia tố tụng” lại yêu cầu những người tiến
hành tố tụng, những người tham gia tố tụng phải vô tư trong khi thực hiện
nhiệm vụ. Vô tư trong khi thực hiện nhiệm vụ tức là không có động cơ, mục
đích riêng ảnh hưởng đến tính khách quan của vụ án, việc họ thực hiện nhiệm
vụ hoàn toàn theo quy định của pháp luật nhằm mục đích giải quyết vụ án
khách quan, chính xác. Người tiến hành tố tụng không vô tư, vì lợi ích cá
nhân nên bênh vực bên mình được hưởng lợi ích sẽ dẫn đến việc bất bình
đẳng trong quá trình xét xử, các chứng cứ và các ý kiến đối lập sẽ không được
xem xét. Do vậy, bảo đảm sự vô tư cũng góp phần bảo đảm cho sự bình đẳng
của những người tham gia tố tụng trước tòa án.
Từ những phân tích trên cho thấy “Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng
trước Tòa án” có vị trí quan trọng trong Bộ luật tố tụng hình sự. Nhận thức
đầy đủ về vị trí của nguyên tắc góp phần áp dụng hiệu quả nguyên tắc trong
17
thực tiễn. Đây là nguyên tắc cơ bản của Bộ luật tố tụng hình sự, chi phối và
tác động đến các nguyên tắc khác, góp phần đảm bảo hiệu quả trong việc áp
dụng các nguyên tắc khác như: “Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ
bản của công dân”, “Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân
trước pháp luật”, “Nguyên tắc xác định sự thật vụ án” và “Nguyên tắc bảo
đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ bị can, bị cáo”. Đồng thời, nguyên
tắc này cũng có quan hệ mật thiết, gắn bó và cần áp dụng thống nhất, đồng bộ
với các nguyên tắc như: “Nguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chưa có bản
án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”, “Nguyên tắc bảo đảm sự vô
tư của những người tiến hành hoặc tham gia tố tụng”.
1.1.3. Ý nghĩa
Nguyên tắc “Bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án” có ý nghĩa quan
liệu, chứng cứ, đưa ra yêu cầu và được tranh luận dân chủ trước tòa. Tại phiên
tòa, những chứng cứ gỡ tội cần được xem xét, những yêu cầu cần được quan
tâm và những lời tranh luận cần được bảo đảm, chỉ khi tòa án bảo đảm quyền
bình đẳng trong việc tranh luận và xem xét chứng cứ thì mới có nhiều căn cứ
để ra bản án chính xác, khách quan. Bảo đảm quyền bình đẳng chính là bảo
đảm quyền được tranh luận, quyền được xuất trình chứng cứ, quyền được
chứng minh sự thật vụ án. Có như vậy thì quyền lợi của bị cáo mới được bảo
đảm, sự thật mới được xác định một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ.
Đối với những người tham gia tố tụng khác như: người bào chữa, người
bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên
quan cũng vậy. Những người này tham gia tố tụng họ cũng có quyền và lợi
ích riêng, họ cần phải được bảo đảm quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng
cứ và được tranh luận bình đẳng để bảo vệ lợi ích của mình. Như vậy, bảo
đảm quyền bình đẳng trước tòa án có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm
quyền và lợi ích của bị cáo và những người tham gia tố tụng.