đại học quốc gia hà nội
khoa luật
nguyễn thị thúy ngọc ng-ời có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan trong tố tụng hình sự -
những vấn đề lý luận và thực tiễn
luận văn thạc sĩ luật học
Hà nội - 2008
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các bảng mở đầu
1
Ch-ơng 1: một số vấn đề lý luận về ng-ời có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án trong tố
tụng hình sự
5
1.1.
Khái niệm ng-ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
5
1.2.
Cơ sở của việc quy định ng-ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến vụ án trong luật tố tụng hình sự
1.5.1.
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
41
1.5.2.
Liên bang Nga
42
1.5.3.
Cộng hòa Liên bang Đức
43
1.5.4.
Canada
44
1.5.5.
Cộng hòa Pháp
47
Ch-ơng 2: quyền và nghĩa vụ pháp lý của ng-ời có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án theo
pháp luật tố tụng hình sự Việt nam
50
2.1.
Năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng hình sự của
ng-ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
50
2.2.
Quyền và nghĩa vụ của ng-ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan trong tố tụng hình sự
53
2.2.1.
Quyền của ng-ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong tố
tụng hình sự
68
2.2.2.1.
Nghĩa vụ trình bày trung thực những tình tiết trực tiếp liên
quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình
69
2.2.2.2.
Nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập
72
2.2.2.3.
Nghĩa vụ tuân thủ nội quy phiên tòa
75
2.2.2.4.
Nghĩa vụ thực hiện bản án, quyết định của Tòa án
77
Ch-ơng 3: thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị
79
3.1.
Thực tiễn áp dụng
79
3.2.
Nguyên nhân và giải pháp khắc phục
96
3.2.1.
Nguyên nhân
96
3.2.1.1.
Nguyên nhân khách quan
96
Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
3.1.
Tổng hợp số vụ án có ng-ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan từ năm 2003 - 2007 tại Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tây
79
3.2.
Tổng hợp số vụ án có ng-ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan có kháng cáo hoặc bị kháng cáo, kháng nghị từ năm
2003 - 2007 tại Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tây
79
3.3.
Tổng hợp kết quả xét xử phúc phẩm số vụ án có ng-ời có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có kháng cáo hoặc bị kháng
cáo, kháng nghị từ năm 2003 - 2007 tại Tòa án nhân dân
tỉnh Hà Tây
80
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong giải quyết vụ án hình sự, vấn đề trọng tâm và quan trọng là xác
định trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, ở nhiều vụ án còn đặt ra vấn đề trách
Trong khoa học luật tố tụng hình sự, có nhiều công trình nghiên cứu
đưa ra cơ sở lý luận cho từng vấn đề của tố tụng hình sự. Tuy nhiên, đến nay
chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách cụ thể, chi tiết và
có hệ thống về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Mặc dù là
đề tài hẹp, song do đòi hỏi của tính khách quan, toàn diện trong giải quyết vụ
án hình sự, xuất phát từ tình hình thực tế các cơ quan tiến hành tố tụng nhiều
trường hợp xác định không chính xác tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan mà đề tài này cần được quan tâm tìm hiểu. Là một cán bộ ngành
Tòa án làm công tác thực tiễn, tác giả nhận thấy việc nghiên cứu về người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có vai trò, ý nghĩa rất lớn, đặc biệt là trong bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng, một trong những
nhiệm vụ của giải quyết án hình sự.
3. Mục đích nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài nhằm mục đích làm rõ cơ sở lý luận, nội dung
các quyền và nghĩa vụ tố tụng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan,
các biện pháp đảm bảo xác định đúng tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan trong vụ án hình sự. Qua đây nhằm đóng góp một vài ý kiến vào
việc xây dựng chế định này trong pháp luật tố tụng hình sự hiện nay, đồng
thời nâng cao hiệu quả hoạt động bảo vệ pháp luật của các cơ quan tiến hành
tố tụng.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định của pháp luật tố tụng
hình sự Việt Nam, thực tiễn hoạt động tố tụng hình sự của các cơ quan tư
3
pháp, đặc biệt là Tòa án trong việc xác định, giải quyết quyền, nghĩa vụ của
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
Trên cơ sở mục đích, đối tượng nghiên cứu đã xác định phạm vi nghiên
cứu đề tài chỉ tập trung vào những vấn đề liên quan đến người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và trong hoạt
nào, có những quyền gì, được làm gì và làm đến đâu; có nghĩa vụ gì, thực
hiện nghĩa vụ đó ra sao. Trên cơ sở đó họ sẽ bảo vệ được quyền và lợi ích hợp
pháp của mình tốt hơn.
7. Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn đi vào làm rõ những vấn đề lý luận về người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan như: khái niệm, đặc điểm, cơ sở của việc quy định người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong luật tố tụng hình sự, phân biệt người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan với một số người tham gia tố tụng khác…; phân
tích nội dung các quyền và nghĩa vụ pháp lý của người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan; tìm hiểu thực tiễn áp dụng. Trên cơ sở đó, trong luận văn đề xuất
hướng hoàn thiện chế định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong pháp
luật tố tụng hình sự và đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động áp
dụng pháp luật tố tụng hình sự nhằm giải quyết vụ án hình sự khách quan,
toàn diện, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan cũng như những người tham gia tố tụng khác.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến vụ án trong tố tụng hình sự.
Chương 2: Quyền và nghĩa vụ pháp lý của người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị.
5
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƢỜI CÓ QUYỀN LỢI, NGHĨA VỤ
LIÊN QUAN ĐẾN VỤ ÁN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Luật tố tụng hình nhiều nước trên thế giới không có quy định về người
như Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng
hình sự. Nhìn chung, các tài liệu này đều đưa ra định nghĩa về người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan như định nghĩa trong giáo trình Luật tố tụng hình sự
của khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội. Ngoài ra, còn có tác giả nêu: người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự là người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đến việc xét xử vụ án hình sự của Tòa án và được Tòa án
chấp nhận đưa họ vào tham gia với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan đến vụ án hình sự [24]. Như vậy, các giáo trình cũng như các sách
báo, tài liệu tham khảo khi định nghĩa về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan có sự khác nhau ở việc xác định chủ thể có thẩm quyền ra quyết định
ảnh hưởng đến quyền lợi, nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan, có khái niệm xác định là Tòa án, có khái niệm xác định là cơ quan tiến
hành tố tụng. Trong thực tế, mặc dù tư cách tham gia tố tụng cũng như quyền
và nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyết định chủ
yếu trong giai đoạn xét xử, bằng bản án của Tòa án. Song về nguyên tắc,
quyền lợi, nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được giải
quyết trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình tố tụng. Chẳng hạn, ở giai đoạn
điều tra hay giai đoạn truy tố, nếu vụ án được đình chỉ thì Cơ quan điều tra
hoặc Viện kiểm sát sẽ quyết định việc xử lý vật chứng. Theo đó quyền lợi,
nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sẽ được giải quyết. Điều
này cho thấy, ngoài Tòa án, các cơ quan tiến hành tố tụng khác cũng có thẩm
quyền ra các quyết định ảnh hưởng đến quyền lợi, nghĩa vụ của người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Mặt khác, khoản 2 Điều 54 Bộ luật tố tụng hình
sự quy định: "Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án phải có mặt
theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án" [11]. Quy
7
định này đã góp phần khẳng định tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến vụ án có trong các giai đoạn tố tụng, từ giai đoạn điều tra, đến truy
tố, xét xử và chịu tác động của cả ba cơ quan tiến hành tố tụng gồm Cơ quan
liên quan. Khi vụ án hình sự được giải quyết, các cơ quan tiến hành tố tụng
phải quyết định xử lý vật chứng, tài sản đó nhằm đảm bảo quyền lợi cho chủ
sở hữu hợp pháp. Vấn đề trách nhiệm dân sự, vấn đề xử lý vật chứng phát
sinh đã làm xuất hiện tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ
án hình sự. Tất nhiên, không phải hành vi phạm tội nào cũng làm phát sinh
hai vấn đề này và làm xuất hiện người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham
gia tố tụng. Song nếu không có hành vi phạm tội xảy ra thì không thể có
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Vì, nếu là hành vi vi phạm
pháp luật khác (không đủ yếu tố cấu thành tội phạm) thì vấn đề bồi thường,
trả lại tài sản sẽ được giải quyết bằng ngành luật quy định về hành vi vi phạm
đó và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với hành vi phạm tội sẽ được
xác định tư cách tham gia tố tụng theo pháp luật tố tụng dân sự.
Thứ hai: Quyền lợi, nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan phải xuất phát từ các quan hệ do hành vi phạm tội gây ra. Trong vụ án
hình sự, vì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là người bị ảnh hưởng trực
tiếp bởi các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là Tòa án, do
đó việc xác định quyền lợi và nghĩa vụ của một người nào đó có liên quan đến
vụ án hay không rất quan trọng. Xác định đúng quan hệ pháp luật và đúng tư
cách chủ thể mới có thể đưa ra được quyết định đúng đắn. Thực tế có những
vấn đề không hề liên quan đến vụ án hình sự nhưng Tòa án lại vẫn giải quyết
trong vụ án hình sự và xác định tư cách tố tụng của chủ thể là người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan là không đúng. Ví dụ A bán cho B một chiếc xe máy
nhưng B chưa trả hết tiền, vẫn còn nợ A 6 triệu. B đã dùng chiếc xe đó đi
cướp giật tài sản và bị truy tố. Khi xét xử Tòa án xác định A là người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Thực chất, việc A bán cho B chiếc
xe máy và B vẫn còn nợ A một số tiền là quan hệ pháp luật dân sự về hợp
9
đồng mua bán tài sản, không có liên quan gì đến vụ án hình sự đang giải
quyết.
phạm tội. Ví dụ 2: do thấy bị phát hiện, người phạm tội đã giấu chiếc bình
gốm vừa trộm được vào cửa hàng bán đồ gốm của người khác, cơ quan tiến
hành tố tụng đã thu giữ toàn bộ số đồ gốm tại cửa hàng.
- Người được người khác cho tài sản mà không biết đó là tài sản do
phạm tội mà có. Ví dụ A cướp được chiếc đồng hồ đeo tay đem về cho anh
trai mình, nói là nhặt được.
Dạng thứ hai: Người đã tham gia trong chừng mực nhất định vào việc
thực hiện tội phạm nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc được
miễn trách nhiệm hình sự nhưng phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại
hoặc trả lại tài sản được hưởng từ việc thực hiện tội phạm. Ví dụ A, B, C rủ
nhau đi trộm cắp tài sản, tài sản trộm được là một chiếc xe đạp có giá trị
400.000 đồng (theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản). Cả 3 đã bán chiếc
xe đó lấy tiền chia nhau tiêu xài, nhưng chỉ có A bị khởi tố về hình sự, còn B,
C không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, khi vụ án được đưa ra
xét xử, Tòa án đã xác định B, C là người có nghĩa vụ liên quan để buộc A, B,
C phải liên đới bồi thường cho người bị hại.
Thứ ba: về chủ thể, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có thể là
cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức. Chúng ta có thể thấy dưới góc độ pháp luật tố
tụng hình sự thì không có một sự khẳng định rõ ràng và chắc chắn rằng người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ có thể là cá nhân hay bao gồm cả cá nhân
và cơ quan, tổ chức? Có quan điểm cho rằng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan là con người cụ thể chứ không phải là cơ quan, tổ chức. Bởi lẽ, Điều 54
Bộ luật tố tụng hình sự quy định bằng từ "người" tức là chỉ cá nhân con
người, cũng giống như người bị hại được quy định tại Điều 51, chỉ có thể là
cá nhân. Tuy nhiên, theo quan điểm của chúng tôi thì người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan trong tố tụng hình sự có thể là cá nhân hoặc cơ quan, tổ
11
chức. Để lý giải cho điều này, chúng ta hãy xem xét dưới các khía cạnh sau:
Thứ nhất, xét về mặt nội dung thì người bị hại là người bị thiệt hại về thể
là người có quyền lợi liên quan chứ không thể là một tư cách chủ thể nào khác
khi tham gia tố tụng.
Trên thực tế đã có những vụ án hình sự mà cơ quan tiến hành tố tụng
xác định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là cơ quan, tổ chức.
Xin đơn cử hai vụ án sau:
Vụ án thứ nhất: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 269/2002/HSST ngày
30/12/2002 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tây và bản án hình sự phúc thẩm số
823/2003/HSPT ngày 24/6/2003 của Tòa án nhân dân tối cao đều xác định
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty trách nhiệm hữu hạn Vĩnh
Phúc, tỉnh Vĩnh Phúc. Nội dung vụ án và kết quả giải quyết như sau:
Nguyễn Văn Khải không có giấy phép lái xe môtô phân khối lớn,
nhưng đã điều khiển xe môtô loại 70 phân khối chở vợ và con đi trên đường
cao tốc 1A mới theo hướng Hà Nam - Hà Nội. Khi đến Km 197 + 50 thuộc
địa phận thôn Hướng Dương, Thắng Lợi, Thường Tín, Hà Tây, Khải đã điều
khiển xe chạy sang phần đường giành riêng cho xe ôtô tải thì bị xe ôtô tải của
Trần Tuấn Dũng (là lái xe thuộc Công ty trách nhiệm hữu hạn Vĩnh Phúc, tỉnh
Vĩnh Phúc) chạy cùng chiều xe của Khải đâm vào phía sau xe máy do Khải
điều khiển. Hậu quả: vợ của Khải chết, con của Khải bị thương, hai xe môtô
và ôtô hư hỏng nhẹ. Khi xem xét vấn đề trách nhiệm dân sự, Tòa án sơ thẩm
xác định: các bị cáo và đại diện gia đình nạn nhân đã có sự tự thỏa thuận về
phần bồi thường, tại phiên tòa các bên không có tranh chấp hay đề nghị gì nên
Tòa không giải quyết. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo Nguyễn Văn Khải có
đơn kháng cáo yêu cầu Công ty trách nhiệm hữu hạn Vĩnh Phúc phải có
trách nhiệm bồi thường cho gia đình nạn nhân. Tòa án cấp phúc thẩm nhận
định: phía bị cáo Dũng và Công ty chủ quản là Công ty trách nhiệm hữu hạn
13
Vĩnh Phúc có hợp đồng mọi vấn đề lái xe phải tự chịu trách nhiệm (bút ký
sơ thẩm). Hơn nữa sau khi tai nạn xảy ra phía bị cáo Dũng và gia đình nạn
nhân đã có sự thỏa thuận như bị cáo Dũng phải bồi thường toàn bộ là
cơ quan tiến hành tố tụng công nhận. Đó thường là các quyền như: quyền đòi
trả lại tài sản mà người phạm tội đã sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm
tội; đòi tài sản trong số tài sản của bị can, bị cáo mà cơ quan tiến hành tố tụng
đã tịch thu, kê biên; đòi bồi thường giá trị tài sản bị hư hỏng, giảm sút giá trị
sử dụng; đòi sửa chữa tài sản hư hỏng; đòi bồi thường những thiệt hại về lợi
ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản; quyền được cấp dưỡng, quyền
được bồi thường tổn thất về tinh thần…
- Người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án là người có nghĩa vụ vật chất
hoặc tinh thần do có liên quan đến tội phạm mà bị can, bị cáo thực hiện.
Người có nghĩa vụ liên quan bao gồm những trường hợp sau:
+ Đó là người mà hành vi của họ có liên quan đến tội phạm do bị can,
bị cáo thực hiện và theo pháp luật họ phải có trách nhiệm về hành vi của
mình, trách nhiệm này chủ yếu là trách nhiệm vật chất. Ví dụ A, B, C cùng
gây thương tích cho D nhưng chỉ có A và B bị truy tố, còn C được miễn trách
nhiệm hình sự, Tòa án xác định C là người có nghĩa vụ liên quan và buộc A,
B, C phải liên đới bồi thường cho D. Tuy nhiên trong một số trường hợp
người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án chỉ có trách nhiệm về mặt tinh thần. Ví
dụ: A và B đều có hành vi vu khống Q, nhưng Q chỉ yêu cầu khởi tố đối với
A nên A bị truy tố về tội vu khống còn B do người bị hại không yêu cầu khởi
tố nên B không bị truy tố về tội này, Tòa án xác định B là người có nghĩa vụ
liên quan và quyết định buộc A, B phải xin lỗi công khai Q [23, tr. 116].
Thông thường người có nghĩa vụ liên quan trong trường hợp này là người có
tham gia thực hiện tội phạm trong một chừng mực nhất định nhưng không bị
truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc được miễn trách nhiệm hình sự.
15
+ Họ cũng có thể là người không có liên quan đến việc thực hiện tội
phạm của bị can, bị cáo nhưng đã được hưởng những lợi ích từ việc phạm tội
nên phải có nghĩa vụ bồi hoàn những lợi ích đó. Ví dụ: A được B cho chiếc
túi sách mà B trộm cắp được. Khi giải quyết vụ án Tòa án xác định A là người
quyền lợi gắn liền với quyền lợi của nguyên đơn hoặc bị đơn. Tố tụng dân sự
không đòi hỏi xác định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan rõ ràng là
người có quyền lợi liên quan và người có nghĩa vụ liên quan. Quyết định của
Tòa án có thể có lợi hoặc bất lợi cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
nói chung. Còn trong tố tụng hình sự, việc xác định là người có quyền lợi hay
người có nghĩa vụ liên quan căn cứ vào lợi ích được hưởng hay nghĩa vụ phải
gánh chịu. Thường thì người có quyền lợi liên quan sẽ chịu ảnh hưởng bởi
quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng theo hướng có lợi, còn người có
nghĩa vụ liên quan lại chịu ảnh hưởng theo hướng bất lợi.
Thứ sáu: Khi tham gia tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
có các quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định tại Điều 54 Bộ luật tố tụng
hình sự. Cụ thể: quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu trong các giai đoạn tố
tụng; quyền tham gia phiên tòa, phát biểu ý kiến, tranh luận tại phiên tòa để
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; quyền kháng cáo bản án, quyết
định của Tòa án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ
của mình; quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có
thẩm quyền tiến hành tố tụng; nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của Cơ
quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án; nghĩa vụ trình bày trung thực những tình
tiết trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình. Ngoài ra mặc dù
Điều 54 Bộ luật tố tụng hình sự không quy định, song tại các quy định pháp
luật khác, khi tham gia vào quá trình tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan còn có một số quyền và nghĩa vụ như: quyền ủy quyền cho người
khác tham gia tố tụng; quyền nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
mình; quyền yêu cầu thi hành án; nghĩa vụ tuân thủ nội quy phiên tòa; nghĩa
vụ thực hiện bản án, quyết định của Tòa án.
17
1.2. CƠ SỞ CỦA VIỆC QUY ĐỊNH NGƢỜI CÓ QUYỀN LỢI, NGHĨA VỤ
LIÊN QUAN ĐẾN VỤ ÁN TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Vụ án hình sự phát sinh khi có hành vi xâm hại đến các quan hệ xã hội
phải quan tâm giải quyết, đảm bảo quyền lợi cho chủ sở hữu hợp pháp.
Tùy từng vụ án cụ thể mà trách nhiệm dân sự hay vấn đề xử lý vật
chứng có được đặt ra hay không và có những loại người nào tham gia vào quá
trình tố tụng.
Đối với nguyên đơn dân sự, để được tham gia vào quá trình tố tụng
đòi hỏi họ phải có đơn yêu cầu; còn đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan, theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, bắt buộc các cơ
quan tiến hành tố tụng phải đưa họ vào tham gia tố tụng. Có các chuỗi hệ lụy
được xác định là:
Thứ nhất: hành vi phạm tội xảy ra gây thiệt hại về tính mạng, sức
khỏe, tinh thần, tài sản, danh dự, uy tín cho cá nhân, tổ chức làm phát sinh
nghĩa vụ dân sự các cơ quan tiến hành tố tụng phải xem xét, giải quyết
nghĩa vụ này phải đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào tham gia
tố tụng.
Thứ hai: hành vi phạm tội xảy ra cơ quan điều tra tiến hành điều
tra thu thập chứng cứ thu giữ vật chứng, tài sản đòi hỏi phải xử lý vật
chứng phải đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố
tụng.
Do đó quy định tư cách tham gia tố tụng của người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan trong tố tụng hình sự là một tất yếu.
Vậy ý nghĩa, vai trò của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong
giải quyết vụ án hình sự là gì?
Trước hết, việc đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào tham
gia tố tụng và giải quyết quyền lợi, nghĩa vụ của họ góp phần đảm bảo cho
việc giải quyết vụ án hình sự mang tính tổng thể và toàn diện. Quá trình giải
19
quyết vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng phải thu thập đầy đủ chứng cứ để
xem xét, quyết định nhiều vấn đề chứ không riêng gì trách nhiệm hình sự.
Những vấn đề ngoài trách nhiệm hình sự chủ yếu là trách nhiệm dân sự và xử