Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong hoạt động kinh doanh những vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

TÊN ĐỀ TÀI:
“ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG
TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
- NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN”

1


HỌ VÀ TÊN TÁC GIẢ LUẬN VĂN
NGUYỄN TRỌNG CHÍNH

HÀ NỘI - 2016

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG
TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH –

2


NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

là người đã

luận văn này.

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các Thầy/Cô Khoa Sau đại học - Viện
Đại học Mở Hà Nội đã giảng dạy và truyền thụ những kiến thức quý báu trong
suốt thời gian học làm nền tảng cho tôi thực hiện luận văn này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các tác giả của các công trình nghiên
cứu khoa học, các bài viết bổ ích làm nguồn tài liệu tham khảo mà tôi sử dụng trong
luận văn của mình.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Trọng Chính

5


Mục lục
Danh mục

Trang

MỞ ĐẦU

1

1. Lý do chọn đề tài và tính cấp thiết của việc nghiên cứu

1


6

1.1.1. Những yêu cầu đặt ra đối với việc điều chỉnh hợp đồng bằng pháp
luật

6

1.1.2. Đặc điểm của hợp đồng trong hoạt động kinh doanh

12

1.2. Vấn đề lý luận về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong hoạt
động kinh doanh

17

1.2.1. Nhận thức chung về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng

17

1.2.2. Vấn đề lý luận về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong hoạt
động kinh doanh

20

1.3. Hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu trong hoạt động kinh doanh

31


52

2.2. Hình thức của hợp đồng là điều kiện có hiệu lực trong trường hợp
pháp luật có quy định

54

2.3. Nhận xét đối với quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu lực
của hợp đồng trong hoạt động kinh doanh và thực tiễn áp dụng

60

2.3.1. Một số nhận xét đối với quy định của pháp luật về điều kiện có
hiệu lực của hợp đồng trong hoạt động kinh doanh

60

2.3.2. Một số vấn đề từ thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về
điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong hoạt động kinh doan cần
nghiên cứu giải quyết

65

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

70
Chương 3

THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT ĐỂ
GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP VỀ HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT


KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

84
KẾT LUẬN

85

Danh mục tài liệu tham khảo

88

8


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài và tính cấp thiết của việc nghiên cứu
Hợp đồng là một chế định quan trọng trong pháp luật của bất kỳ một quốc
gia nào. Bởi vì dường như cuộc sống được cấu thành nên từ vô vàn "hợp đồng", có
thể nói bất kỳ hành động nào của chúng ta trong cuộc sống hàng ngày cũng đều tạo
ra các hợp đồng - mà trong đó phần lớn là các hợp đồng trong hoạt động kinh
doanh. Chính vì sự phổ biến của hợp đồng trong cuộc sống hàng ngày, để đảm bảo
cho sự ổn định của xã hội, đảm bảo lợi ích chung của phần đông cộng đồng, Nhà
nước đã lập ra hành lang pháp lý để các "hợp đồng" có hiệu lực và đưa ra các biện
pháp cưỡng chế nhà nước nếu có sự vi phạm quyền và nghĩa vụ của một bên trong
hợp đồng. Chính vì vậy, các quy định về điều kiện để hợp đồng có hiệu lực ra đời.
Nghiên cứu về hợp đồng trong hoạt động kinh doanh không thể không
nghiên cứu đến các vấn đề về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng kinh doanh. Đây
cũng là một yếu tố quan trọng mà các bên tham gia giao kết hợp đồng phải lưu tâm
vì một lẽ, nếu hợp đồng nào vi phạm vào một trong những nội dung theo quy định

khác nhau. Văn bản pháp luật được biết và sử dụng nhiều nhất trong việc điều chỉnh
quan hệ hợp đồng là Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989, tuy nhiên do sự thay đổi
của tình hình trước yêu cầu đổi mới và hội nhập văn bản pháp luật này đã bị hủy bỏ.
Thay vào đó quan hệ hợp đồng đã được điều chỉnh bằng văn bản luật có giá trị pháp
lý cao hơn là Bộ luật dân sự và một số văn bản pháp luật có liên quan như Luật
thương mại, Luật đầu tư... nhằm tạo ra một sự thống nhất trong việc điều chỉnh các
quan hệ hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự.
Hiện nay, Việt Nam đang trên đà hội nhập nền kinh tế toàn cầu, quá trình hội
nhập mở ra nhiều cơ hội lớn cho nền kinh tế Việt Nam nhưng cũng không ít thách
thức, đòi hỏi phải có sự chặt chẽ trong hệ thống pháp luật, đặc biệt là pháp luật về
hợp đồng trong hoạt động kinh doanh. Trước những đòi hỏi khách quan của các
doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam, những năm gần đây đã có một số công
trình khoa học và có rất nhiều bài viết nghiên cứu về vấn đề hợp đồng, cụ thể là:
Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Dạ Như Ngọc - Khoa Luật Trường Đại học
Cần Thơ về “Các trường hợp vô hiệu của hợp đồng thương mại: Lý luận, pháp luật
và thực tiễn tài phán” năm 2009; Luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Hải Hưng Trường Đại học Luật Hà Nội về “Đổi mới sự điều chỉnh của pháp luật về hợp đồng

10


trong Bộ Luật Dân sự 2005” năm 2006; Luận văn thạc sĩ của tác giả Hoàng Minh
Chiến - Trường Đại học Luật Hà Nội về “Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng trong
kinh doanh - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” năm 2003; bài viết “Đặc trưng
pháp lí của hợp đồng dân sự” của tác giả Đinh Văn Thanh - Tạp chí Luật học số 2
năm 1999; bài viết “Một số điểm mới về hợp đồng trong Bộ Luật Dân sự 2005 số
3(215)/2006 - Tạp chí Nhà nước và Pháp luật; bài viết Hợp đồng - thuật ngữ và khái
niệm số 8 (2006) - Tạp chí Nhà nước và Pháp luật …
Ở một số công trình cũng đề cập đến vấn đề có hiệu lực của hợp đồng như:
Luận văn thạc sĩ Luật học của tác giả Trần Thị Nhường về “Điều kiện có hiệu lực
của hợp đồng dân sự” năm 2009. Các công trình nghiên cứu trên đã có nội dung

cũng như các quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong hoạt động kinh
doanh.
- Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về
điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong hoạt động kinh doanh.
5. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Trong phạm vi của một luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật kinh tế, tác giả
tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật (theo nghĩa hẹp) về điều kiện có
hiệu lực của hợp đồng trong hoạt động kinh doanh, (không nghiên cứu tổng thể
chung về hợp đồng) và thực tiễn áp dụng các quy định đó. Từ đó làm sáng tỏ thêm
lý luận về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong hoạt động kinh doanh.
Qua nội dung của đề tài tác giả sẽ cố gắng đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn
thiện các quy định pháp luật còn chưa đầy đủ hoặc còn vướng mắc trong thực tiễn
áp dụng.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của điều kiện có hiệu lực hợp đồng trong hoạt động
kinh doanh và hậu quả pháp lý.
Chương 2: Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong hoạt động kinh doanh
theo quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng.
Chương 3: Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật để giải quyết các
tranh chấp về các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng và phương hướng hoàn thiện.

12


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC
CỦA HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH VÀ HẬU QUẢ PHÁP LÝ

Thứ nhất, hợp đồng phải thể hiện được sự tự do ý chí của các bên tham gia
ký kết.
Hợp đồng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động xã hội. Trong đời sống
xã hội để thỏa mãn các nhu cầu trong sinh hoạt tiêu dùng hoặc trong sản xuất, kinh
doanh thì dường như mọi hoạt động của con người đều hướng tới việc ký kết hợp
đồng. Nói cách khác hợp đồng là công cụ pháp lý để các chủ thể có thể thỏa mãn
các nhu cầu chính đáng của mình trong sản xuất cũng như trong sinh hoạt tiêu dùng.
Hợp đồng thể hiện sự bình đẳng giữa những người tham gia hợp đồng và thừa nhận
quyền tự do cam kết, thỏa thuận của họ.
Hợp đồng luôn gắn liền với sự tự do thể hiện ý chí của các chủ thể. Tự do ý
chí trong giao kết hợp đồng được hình thành và phát triển mạnh mẽ ở Pháp từ thế
kỷ XVIII. Lúc đầu nó được coi là nguyên tắc độc tôn ý chí. Nguyên tắc này cho
phép các cá nhân được tự do quyết định trong việc giao kết hợp đồng, khẳng định
quyền của mỗi cá nhân khi tham gia vào giao dịch và chỉ phụ thuộc vào chính họ
mà không phụ thuộc vào pháp luật. Ý chí của họ được thể hiện một cách độc lập và
xuất phát từ lợi ích cá nhân. Quan niệm này xuất phát từ việc cho rằng nếu các cá
nhân tự do giao kết thì sẽ đảm bảo được sự công bằng trong quan hệ hợp đồng.
Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng đưa đến một hệ quả là hợp đồng khi được ký
kết thì có giá trị bắt buộc thực hiện. Việc thay đổi hợp đồng cũng chỉ có thể thực
hiện bởi sự thỏa thuận của các chủ thể hợp đồng và không ai có quyền can thiệp vào
quan hệ của họ cũng như không có quyền làm thay đổi ý chí của họ.
Tuy nhiên, thực tiễn phát triển của hợp đồng cho thấy quan điểm tự do một
cách tuyệt đối như trên đã không tồn tại được lâu và càng ngày đã bộc lộ sự bất bình
đẳng trong giao kết hợp đồng. Trên thực tế, ý nghĩa của nguyên tắc này chỉ mang
tình hình thức mà thôi. Khi nói đến hợp đồng ta hiểu các chủ thể trong đó bình đẳng

14


về quyền và nghĩa vụ. Thế nhưng, thực tiễn cho thấy các bên ký kết hợp đồng



hiện hợp đồng một cách trung thực, còn đối với người có quyền thì không được cản trở
người có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng. Dần dần, qua thực tiễn người ta cho rằng nếu
chỉ hiểu ngay tình là trung thực thì chưa đủ và khái niệm ngay tình còn được hiểu là
nghĩa vụ hợp tác giữa các bên. Nghĩa vụ hợp tác giữa các bên thể hiện ở việc các bên
phải có nghĩa vụ cung cấp thông tin cho nhau để thực hiện hợp đồng. Nguyên tắc ngay
tình không chỉ được áp dụng trong quá trình thực hiện hợp đồng mà còn được áp dụng
trong cả quá trình hình thành hợp đồng. Nguyên tắc ngay tình không chỉ nhằm bảo vệ
bên yếu trong hợp đồng mà còn nhằm lập lại sự bình đẳng giữa các bên trong hợp
đồng.
Khái niệm lạm dụng được hình thành ở Pháp vào những năm 70. Xuất phát
từ sự mất cân đối trong hợp đồng có nguyên nhân từ việc một bên là những thương
gia đơn phương soạn thảo hợp đồng và đối tác thường là những người tiêu dùng
phải tham gia hợp đồng mà không có sự thể hiện ý chí chung hoặc thỏa thuận các
điều khoản cụ thể về nội dung. Lúc đó nhằm mục đích bảo vệ người tiêu dùng và
hủy bỏ các điều khoản lạm dụng và nhằm bảo vệ bên yếu hơn trong hợp đồng mà
các nhà lập pháp đã đưa vào luật khái niệm lạm dụng. Có hai tiêu chí xác định có sự
lạm dụng là sự lạm dụng thế mạnh kinh tế để áp đặt các điều khoản của hợp đồng
và sự lạm dụng đem lại lợi ích thái quá cho một bên chủ thể. Dù bằng cách này hay
cách khác thì chế định hợp đồng ở mỗi quốc gia khác nhau đều hướng tới việc tạo
ra sự bình đẳng có thể có được giữa các bên giao kết hợp đồng.
Thứ hai, hợp đồng phải là sự tập hợp những cam kết được pháp luật thừa
nhận, ủng hộ và đứng ra bảo vệ.
Chế định hợp đồng luôn tôn trọng sự tự do của các bên giao kết, song sự tự
do đó phải giới hạn trong khuôn khổ pháp luật. Nói cách khác, pháp luật chỉ bảo vệ
các cam kết không xâm hại đến trật tự pháp luật, trật tự công cộng. Xuất phát từ
nguyên tắc cơ bản trong quan hệ dân sự là tôn trọng quyền tự do ý chí của mọi cá
nhân và các chủ thể khác trong việc xác lập quyền và nghĩa vụ của mình, pháp luật
của các nước quy định rằng các chủ thể được hoàn toàn tự do giao kết hợp đồng,

với nhà làm luật. Hiện nay để giải quyết vấn đề này thông thường Tòa án tối cao có
các báo cáo chuyên đề, công văn hướng dẫn hoặc Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao ban hành các nghị quyết riêng về một vấn đề cụ thể nào đó. Song các
hướng dẫn này nhiều khi vẫn thiếu cụ thể và vì vậy việc đưa ra các phán quyết khác

17


nhau cho các vụ án có nội dung tương tự nhau là việc không thể tránh khỏi trong
quá trình giải quyết các tranh chấp dân sự liên quan đến vấn để hiệu lực của hợp
đồng ở nước ta hiện nay.
Ngoài ra, thực tiễn luôn thay đổi và rất sinh động, trong khi đó luật lại
tương đối ổn định, vì vậy mâu thuẫn trong điều chỉnh các quan hệ hợp đồng, đặc
biệt là mâu thuẫn giữa các nguyên tắc của luật hợp đồng truyền thống và thực tiễn
hợp đồng sinh động là không thể tránh khỏi.
Thực tiễn hợp đồng phát triển đưa đến sự phát triển của pháp luật về hợp
đồng theo các hướng:
Một là, phạm vi hiệu lực của hợp đồng được mở rộng do sự xuất hiện các
loại hợp đồng mới. Các loại hợp đồng mới được hình thành bởi nhiều nguyên nhân
khác nhau mà nguyên nhân cơ bản nhất đó là các loại hàng hóa mới, dịch vụ mới
xuất hiện, tự chúng đòi hỏi sự điều chỉnh đặc biệt về mặt pháp lý.
Ví dụ, do kết quả của cách mạng khoa học kĩ thuật mà các thông tin thương
mại có giá trị trở thành đối tượng của hợp đồng. Một nguyên nhân khác nữa đó là sự
xuất hiện các hợp đồng được cấu thành bởi nội dung của hai hay nhiều loại hợp
đồng khác nhau như hợp đồng leasing. Trong nội dung hợp đồng này có sự kết hợp
đặc điểm của hợp đồng thuê tài sản và hợp đồng mua bán. Bên cạnh đó, hợp đồng
trong lĩnh vực kinh doanh thương mại ngày càng hướng tới điều chỉnh các quan hệ
về tổ chức như hợp đồng thành lập các hiệp hội, liên hiệp, thỏa ước dưới mọi hình
thức.
Hai là, một số quan hệ hợp đồng trước kia chỉ do những quy phạm luật dân

những trường hợp này, chủ thể cung cấp dịch vụ soạn thảo sẵn hợp đồng gồm
những điều khoản về loại dịch vụ, giá cả, chất lượng, thời gian, địa điểm cung cấp
dịch vụ… còn bên nhận dịch vụ xem xét nếu chấp nhận những nội dung đó thì ký
kết hợp đồng. Như vậy, hợp đồng được ký kết mà không cần hai bên bàn bạc, thỏa
thuận. Một bên (thường là khách hàng) đã mất sự tự do thương thuyết, thỏa thuận là
đặc trưng cơ bản của hợp đồng và phải chấp nhận các điều khoản của đối phương
đưa ra, không có sự lựa chọn nào khác. Tuy nhiên, xét về mặt biểu hiện khách quan
thì ý chí chung được thể hiện thông qua việc cả hai bên mong muốn tham gia vào
quan hệ hợp đồng và đã chấp nhận giao kết hợp đồng. Trong trường hợp này sự
thỏa thuận của các bên được hình thành khi một bên chủ thể chấp nhận và quyết

19


định tham gia vào các hợp đồng này với những điều kiện và điều khoản như vậy.
Loại hợp đồng này trên thực tế ngày càng phát triển và giữ một vị trí quan trọng,
song đặt ra các vấn đề là làm thế nào để đảm bảo sự bình đẳng thích hợp giữa các
bên. Trên thực tế, đã xảy ra không ít trường hợp mà ở đó bên gia nhập phải gánh
chịu những tổn thất từ các điều khoản của hợp đồng gia nhập. Để bảo vệ quyền lợi
cho khách hàng trong trường hợp này khoản 2, Điều 407, Bộ luật dân sự đã quy
định: "Trong trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản không rõ ràng thì bên
đưa ra hợp đồng theo mẫu phải chịu sự bất lợi khi giải thích điều khoản đó".
Ở các nước, các vấn đề này đã có rất nhiều cuộc bàn cãi, tranh luận. Lúc
đầu người ta chủ yếu chú tâm vào việc làm thế nào để công nhận các hợp đồng loại
này có hiệu lực pháp lý ràng buộc các bên. Xuất phát từ thực tiễn thực hiện các hợp
đồng này đã phát sinh lý luận nhằm làm mất hiệu lực của các điều khoản không phù
hợp. Các ý kiến đã lại tập trung vào ý nghĩa ban đầu của hợp đồng là các điều khoản
của hợp đồng có hiệu lực do ý chí của các bên hợp đồng. Vì vậy, khi người kí hợp
đồng không được cung cấp thông tin nên không thể thỏa thuận được hoặc khi ý
nghĩa của các điều khoản hợp đồng vượt quá sự hiểu biết của họ thì hợp đồng không

thương nhân, hợp đồng đại lý thương mại, hợp đồng dịch vụ quảng cáo thương
mại...); bên cạnh đó có những hợp đồng kinh doanh, thương mại chỉ cần ít nhất một
bên là thương nhân (hợp đồng mua bán hàng hoá, hợp đồng dịch vụ bán đấu giá
hàng hoá, hợp đồng môi giới thương mại...).
Về hình thức: Hợp đồng trong kinh doanh, thương mại có thể được thiết lập
dưới hình thức vàn bản, lời nói hoạc bằng hành vi cụ thể của các bên giao kết.
Trong những trường hợp nhất định, pháp luật bắt buộc các bên phải thiết lập hợp
đồng trong kinh doanh, thương mại bằng hình thức vàn bản (Hợp đồng mua bán
hàng hoá quốc tế, hợp đồng dịch vụ khuyến mãi, quảng cáo, hội chợ, triển lãm
thương mại...). Luật Thương mại 2005 cho phép các bên hợp đồng có thể thay thế
hình thức vàn bản bằng các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương. Các hình
thức có giá tri tương đương văn bản gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu.
Về mục đích: Mục đích phổ biến của các bên trong hợp đồng kinh doanh,
thương mại là lợi nhuận. Trường hợp có chủ thể hợp đồng không nhằm mục đích lợi
nhuận, thì hợp đồng được áp dụng Luật Thương mại và khi các bên không nhằm
mục đích lợi nhuận lựa chọn áp dụng Luật dân sự.

21


Như vậy, thông qua hợp đồng quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên chủ thể
phát sinh. Hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh thương mại là loại hợp đồng phổ
biến trong đời sống sinh hoạt hàng ngày. Thông thường hợp đồng có hai bên tham
gia trong đó thể hiện sự thống nhất ý chí của các chủ thể trong một quan hệ cụ thể
(mua bán, cho thuê…) nhưng cũng tồn tại hợp đồng có nhiều bên tham gia (hợp
đồng hợp tác - Điều 111 Bộ luật dân sự). Mỗi bên trong hợp đồng (hai hay nhiều
bên) có thể có một hoặc nhiều chủ thể tham gia. Trong hợp đồng ý chí của một bên
đòi hỏi có sự đáp lại của bên kia, tạo thành sự thống nhất ý chí của các bên, từ đó
mới hình thành được hợp đồng.
Do vậy, khác với hành vi pháp lý đơn phương là sự biểu lộ ý chí "đơn

xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên. Tuy vậy, Bộ luật dân sự Đức vẫn quan tâm
tới việc tìm kiếm ý chí thực sự của người ký hợp đồng. Hợp đồng trong lĩnh vực
kinh doanh thương mại có thể được ký kết trực tiếp hoặc gián tiếp. Pháp luật các
nước khác nhau cũng thừa nhận khác nhau về thời điểm xác định hợp đồng được
giao kết:
+ Các nước theo thuyết tuyên bố: hợp đồng được giao kết kể từ thời điểm
bên chấp nhận tuyên bố chấp nhận bằng thư hay điện tín;
+ Các nước theo thuyết tống phát: Hợp đồng được giao kết kể từ thời điểm
bức thư hay điện tín chấp nhận được gửi đi;
+ Các nước theo thuyết tiếp nhận: Hợp đồng được giao kết kể từ thời điểm
bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được thư hay điện tín chấp nhận;
+ Các nước theo thuyết tống đạt: Hợp đồng được giao kết kể từ thời điểm
khi bên đề nghị giao kết hợp đồng thực sự biết rõ sự chấp nhận ấy.
Như vậy, thời điểm hình thành hợp đồng sẽ khác nhau tùy theo pháp luật
hoặc các bên chấp nhận giải pháp nào theo các lý thuyết trên. Trong các lý thuyết
trên thì thuyết tống đạt ít được áp dụng vì nó đòi hỏi bên đề nghị phải biết rõ sự
chấp nhận của bên đề nghị giao kết. Một số nước áp dụng lý thuyết tiếp nhận theo đó
bên đề nghị được coi là xem thư trả lời ngay khi nhận được thư và như vậy hợp đồng
được giao kết và không phụ thuộc vào ý chí của bên này. Lý thuyết này được áp dụng
ở các nước Bắc Âu và Cộng hòa liên bang Đức. Đối với các nước Anh, Mỹ, Nhật Bản
và Cộng hòa Pháp thì áp dụng thuyết tiếp nhận. Ở nước ta, thời điểm hình thành hợp
đồng được xác định tùy theo hình thức và nội dung mà các bên lựa chọn và cam kết.
Đối với các hình thức ký kết hợp đồng thông qua việc gửi văn bản qua lại cho nhau,
pháp luật nước ta chấp nhận lý thuyết tiếp nhận để xác định thời điểm giao kết hợp
đồng.

24


Hợp đồng kinh doanh - thương mại (thường gọi là hợp đồng kinh tế) là hợp




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status