KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG VỤ ÁN THỪA KẾ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẼN - Pdf 11

KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG VỤ ÁN THỪA KẾ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẼN
_____________________________________________________________________________________________
LỜI MỞ ĐẦU
- Xã hội – kinh tế Việt Nam càng phát triển, khối lượng tài sản thuộc sở hữu tư nhân có
giá trị ngày càng cao và quyền sở hữu cá nhân được luật pháp công nhận và bảo vệ -
vấn đề thừa hưỡng tài sản đó (thừa kế) luôn là một trong những các vấn đề gây tranh
cãi do xung đột quyền lợi giữa các bên tham gia quan hệ và vấn đề này luôn là đề tài
nóng cần tìm hiểu, xử lý khéo léo vì các quan hệ này có một đặc trưng đó là hầu hết các
đối tượng tham gia quan hệ thừa kế đều có một điểm chung là ít nhiều có quan hệ
huyết thống hoặc nuôi dưỡng.
- Việc phải cân nhắc giữa giá trị vật chất và giá trị đạo đức là một trở ngại lớn cho các
luật sư khi tham gia bảo vệ quyền lợi cho các đối tượng tham gia quan hệ này khi phát
sinh tranh chấp.
- Thực tế không ít trường hợp ông bà, cha mẹ, anh chị em, vợ chồng tranh giành cãi vả
thậm chí xung đột nặng nề khi giành quyền sở hữu một khối lượng tài sản nào đó mà
theo ý chủ quan của cá nhân họ là thuộc về mình, chỉ có mình mới có quyền thừa kế.
- Với các quy định cụ thể - rõ ràng - chặt chẽ của hệ thống pháp luật Việt Nam về thừa kế
Bộ luật dân sự năm 2005 - Luật Hôn nhân Gia đình năm 2002 ít nhiều cũng đã giải
quyết tốt vấn đề này tuy nhiên không ít những trường hợp phát sinh khiến các cơ quan
tham gia giải quyết phải đau đầu do các quan hệ này khá phức tạp và ít nhiều do nhận
thức của người dân về pháp luật cũng như việc hiểu biết các quy định này còn thấp và
một phần do giá trị đạo đức của người Á Đông theo truyền thống cũng ngăn cản không
ít đến việc giải quyết các vấn đề có liên quan.
- Với tiểu luận này tôi hy vọng có thể tóm tắt và cụ thể hoá được một số vấn đề chính
trong việc áp dụng pháp luật và kĩ năng riêng của cá nhân để giải quyết các vụ án liên
quan đến thừa kế.

_________________________________________________________________________

Trang1
KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG VỤ ÁN THỪA KẾ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẼN

Để xác định được người thừa kế của người chết vào thời điểm người này chết, cần phải
xác định được là người chết có để lại di chúc hay không. Nếu có di chúc thì người thừa kế sẽ
được xác định theo di chúc. Nếu không có di chúc hoặc di chúc không hợp pháp hoặc di chúc
không phát sinh được hiệu lực pháp luật thì người thừa kế sẽ được xác định theo quy định của
pháp luật. Theo đó người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a. Hàng thứ nhất: vơ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi ,me nuôi, con đẻ, con nuôi của
người chết.
b. Hàng thứ hai : ông nội, bà nội, ônng ngọai, bà ngọai, anh ruột,chi ruột, em ruột của
người chết.

_________________________________________________________________________

Trang2
KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG VỤ ÁN THỪA KẾ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẼN
_____________________________________________________________________________________________
c. Hàng thứ ba : cụ nội, cụ ngọai của người chết ; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột,
dì ruộc của người chết; cháu ruột của người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô
ruột, dì ruột.
Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Những người
ở hàng thừa kế chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước đó
đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng thừa kế hoặc từ chồi
nhận di sản ( Điều 679 ).
Tuy nhiên trong một số trường hợp kể cả thừa kế theo di chúc hay theo pháp luật, thì
những người sau đây không có quyền được hưởng thừa kế:
Bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi
nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của
người đó.
Vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản.
Bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế nhằm hưởng một phần
hoặc tòan bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền được hưởng.

hợp người có tài sản để lại còn có cả nghĩa vụ về tài sản, thì thông thường phần nghĩa vụ này
sẽ được thanh tóan bằng tài sản của người chết. Phần còn lại sẽ được xác định là di sản thừa
kế và được chia theo di chúc hay quy định của pháp luật. Theo đó, nghĩa vụ của người chết
được thực hiện như sau:
Nếu di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế sẽ có trác nhiệm thực hiện nghĩa vụ về
tài sản do người chết để lại tương ứng với phần tài sản mà mình đã nhận.
Trong trường hợp di sản chưa được chia, thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được
người quản lý di sản thực hiện theo đúng thỏa thuận của những người thừa kế.
Trong trường hợp Nhà nước, cơ quan, tổ chức hưởng di sản theo di chúc, thì cũng phải
thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân.
-
1.4. Di chúc
Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác
sau khi chết.
Di chúc phải được lập thành văn bản. Trong trường hợp tính mạng của một người bị cái
chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không htể lập di chúc bằng văn bản,
thì có thể di chúc miệng. Di chúc miệng chỉ được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể
hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những
người làm chứng phải ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Sau 3 tháng, kể từ thời điểm di
chúc miệng mà người để lại di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt, thì di chúc miệng bị hủy
bỏ.
Trong trường hợp di chúc của người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi phải được lập
thành văn bản và phải được cha mẹ hoặc người giám hộ đồng ý; Di chúc của người bị hạn chế
về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và
có chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của UBND xã, phường, thị trấn.
Tuy nhiên, một di chúc dù bằng văn bản hay bằng miệng thì chỉ được coi là hợp pháp
khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
Người lập di chúc đã thành niên, minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị
lừa đối, đe dọa hoặc cưỡng ép.
Nội dung di chúc không phải trái pháp luật, đạo đức xã hội, hình thức di chúc không trái

sản sẽ thực hiện theo pháp luật. Trong trường hợp có tranh chấp về tài sản thừa kế thì người
có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
Qua quá trình phân tích những nội dung cơ bản của chế định thừa kế, chúng ta có thể
nhận thấy các vụ án tranh chấp về thừa kế có những đặc điểm sau:
Thứ nhất: Quan hệ pháp luật về thừa kế là một quan hệ pháp luật mang tính chất đặc
thù. Vì những người tham gia vào quan hệ pháp luật này là những bên có quan hệ huyết thống
gần gũi với nhau như: cha, mẹ, con, anh, em v.v…hoặc quan hệ hôn nhân như: vợ chồng, và
quan hệ nuôi dưỡng như: con nuôi. Chính vì vậy, để giải quyết các vụ tranh chấp về quyền
thừa kế người Luật sư không những phải nắm vững và áp dụng đúng đắn các quy định của
pháp luật về thừa kế mà còn phải có trách nhiệm nhằm giữ vững tình yêu thương, đòan kết
trong gia đình khách hàng của mình.
Thứ hai: Lọai án về thừa kế là lọai án phức tạp đặc biệt trong việc thu thập đầy đủ
chứng cứ.
Theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự ( BLTTDS) thì “ Các đương sự có quyền và
nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và
hợp pháp; Tòa án chỉ tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp do Bộ
luật này quy định” (Điều 6). Nhưng thực tế thì phần lớn các vụ án tranh chấp về thừa kế,
nguyên đơn không thể có đầy đủ các giấy tờ, tài liệu, chứng cứ chứng minh để xuất trình cho
Tòa án. Trong khi phía bị đơn (thường là những người trực tiếp quản lý khối di sản và nắm giữ
các tài liệu quan trọng), họ không chịu xuất trình cho Tòa án,không tạo điều kiện cho Tòa án
tiến hành thu thập chứng cứ; hoặc do thời gian đã quá lâu , các tài liệu liên quan đến vụ án đã
bị thất lạc. Đặc biệt đối với bất động sản thì các tài liệu lưu trữ tại cơ quan nhà nước cũng
không thể hoặc có cũng không đầy đủ, ghi chép sơ sài, do đó vấn đề xác định di sản do người
chết để lại rất khó khăn.
Đồng thời cũng do thời gian đã quá lâu, khối di sản đã bị biến động nhiều ( có thể do
nguyên nhân khách quan hoặc do nguyên nhân chủ quan ) nên việc xác định chính xác, cụ thể
khối di sản không dễ dàng. Chính vì vậy điều tra xác minh như: đo đạc, xem xét thực tế và định
giá khối di sản thừa kế v.v… là vô cùng khó khăn, phức tạp.

_________________________________________________________________________

khởi kiện hay không khởi kiện . Trên cơ sở phân tích, đánh giá, nội dung sự việc theo quy định
của pháp luật, khách hàng sẽ quyết định khởi kiện hay không khởi kiện.
Trong trường hợp đương sự quyết định khởi kiện ra trước Tòa án yêu cầu giải quyết
tranh chấp về thừa kế thì Luật sư cần hướng dẫn khách hàng của mình một số vấn đề sau:
- Khởi kiện ra trước tòa án nào? Vì theo quy định của pháp luật thì:
+ Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án thừa kế là Tòa án cấp huyện nơi cư trú, làm việc
của bị đơn. Nếu di sản thừa kế là bất động sản (nhà đất) thì Tòa án nơi có khối di sản(là bất
động sản giải quyết).
+ Nếu vụ án thừa kế có đương sự hoặc di sản ở nước ngòai hoặc cần phải ủy thác tư pháp
cho cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngòai, cho Tòa án nước ngòai thì thụôc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án cấp tỉnh nơi bị đơn cư trú, làm việc.
- Về thời hiệu khởi kiện: Tùy thuộc vào thời điểm mở thừa kế của vụ án mà khách
hàng yêu cầu, luật sư trao đổi với khách hàng về thời hiệu khởi kiện.
- Tính mức án phí cho khách hàng, hướng dẫn khách hàng tìm hiểu các điều kiện
để khách hàng làm đơn xin miễn giảm án phí.

_________________________________________________________________________

Trang6
KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG VỤ ÁN THỪA KẾ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẼN
_____________________________________________________________________________________________
- Giải thích cho khách hàng bíêt trình tự, thủ tục giải quyết vụ án, thời gian tối đa
luật định để xem xét và giải quyết vụ án này là bao lâu. Hướng dẫn khách hàng
chuẩn bị những gì để tham gia tố tụng được tốt.
2.1.2. Chuẩn bị hồ sơ khởi kiện
a. Hướng dẫn đương sự viết đơn khởi kiện
Luật sư phải hướng dẫn khách hàng viết đơn khởi kiện đúng hình thức và nội dung
theo quy định tại Điều 164- BLTTDS.
+ Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện.
+ Tên Tòa án nhận đơn khởi kiện.

Sau khi thực hiện các vấn đề trên, luật sư giúp khách hàng sắp xếp các tài liệu,
chứng cứ để chứng minh yêu cầu của khách hàng thành tập hồ sơ khởi kiện gửi lên
Tòa án. Thông thường hồ sơ khởi kiện gồm:
+ Đơn khởi kiện.
+ Các tài liệu chứng minh quyền được hưởng thừa kế của khách hàng.
+ Các tài liệu chứng minh yêu cầu của khách hàng.
+ Các văn bản pháp luật có liên quan.
2.1.3. Kỹ năng của Luật sư trong giai đọan chuẩn bị xét xử
Trong giai đọan này luật sư phải tự mình thu thập chứng cứ để bảo vệ quyền lợi hợp
pháp của khách hàng. Có thể thu thập chứng cứ ở ngòai thựctế, ví dụ : Thu thập chứng cứ từ

_________________________________________________________________________

Trang7
KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG VỤ ÁN THỪA KẾ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẼN
_____________________________________________________________________________________________
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về việc xác nhận con nuôi, con đẻ,v.v…Nghiên cứu hồ sơ vụ
án một cách tòan diện, có hệ thống, khách quan theo trình tự sau:
Thứ nhất, Nghiên cứu đơn khởi kiện của nguyên đơn (nếu là Luật sư của bị đơn) vì đơn
khởi kiện của nguyên đơn chứa đựng các yêu cầu của nguyên đơn, đó là đối tượng xem xét và
giải quyết của Tòa án. Kèm theo đơn kiện là hồ sơ khởi kiện của nguyên đơn, Luật sư cần phải
nghiên cứu kỹ tập hồ sơ này. Nghiên cứu các tài liệu của bị đơn ( nếu là luật sư của nguyên
đơn) vì thông thường tài liệu của phía bị đơn cung cấp có thể bao gồm các tài liệu mà bị đơn
dùng để phản bác lại yêu cầu của nguyên đơn.
Trong trường hợp vụ án có di chúc thì luật sư cần xác định xem di chúc đó có hợp pháp
hay không? Để xác định chia theo di chúc hay chia theo pháp luật. Xác định ai là người được
hưởng quyền thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc. Có ai bị truất quyền thừa kế không.
Xác định di sản thừa kế gồm những gì? Có hợp pháp hay không? Có thuộc sở hữu chung với
ai không?
Thứ hai, Nghiên cứu đến tập tài liệu do Tòa án xác minh, thu thập được. Đây là một

_____________________________________________________________________________________________
Chuẩn bị đầy đủ các văn bản pháp luật có liên quan đến vụ án làm cơ sở pháp lý cho
luật sư tại phiên tòa.
2.2. Kỹ năng tranh tụng của luật sư tại phiên tòa sơ thẩm:
2.2.1. Thủ tục bắt đầu phiên tòa:
Ngay từ thủ tục bắt đầu phiên tòa, Luật sư phải chú ý theo dõi diễn biến để nắm bắt
được những thông tin cần thiết như:
Yêu cầu hõan phiên tòa có đúng quy định của pháp luật không ?Có ảnh hưởng đến
quyền và lợi ích của thân chủ mình không?
Tòa án đã triệu tập đầy đủ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa? Việc triệu tập
có hợp pháp không? Nếu chưa thì lý do là gì ? Lý do có chính đáng không?
Các yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng, hoặc yêu cầu cung cấp thêm chứng cứ có
cần thiết không? Có lợi hay bất lợi cho thân chủ của mình để dự định phương án bảo vệ. Có
trường hợp Tòa án triệu tập thiếu người làm chứng quan trọng thì Luật sư phải yêu cầu. Hoặc
có những chứng cứ mới có lợi cho thân chủ luật sư cần cung cấp cho tòa án tại phiên tòa.
2.2.2. Kỹ năng hỏi tại phiên tòa:
Trong giai đọan hỏi luật sư phải tập trung để nắm bắt tình hình thực tế, nếu có vấn đề
mới phát sinh thì còn có phương án làm việc hợp lý. Giai đọan này luật sư có quyền đặt câu hỏi
để bảo vệ quyền lợi cho khách hàng của mình bằng cách thông qua các câu trả lời để khẳng
định công khai những vấn đề cần phải làm sáng tỏ trong vụ án. Luật sư cần ghi chép đầy đủ
các lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại
diện của đương sự Qua những lời trình bày nếu thấy có sự mâu thuẫn hoặc có những tình tiết
khác mà trước đó chưa được thể hiện trong hồ sơ nếu có lợi hoặc bất lợi cho thân chủ của
mình thì luật sư cũng phải lưu ý đến điểm đó để có cách phản bác lại hoặc sử dụng chúng
nhằm bảo vệ quyền lợi cho khách hàng của mình. Thông qua đó luật sư có thể điều chỉnh bản
luận cứ của mình hướng vào việc làm sáng tỏ các quan điểm của hội đồng xét xử mà luật sư
đã dự đóan theo hướng có lợi cho thân chủ của mình. Trong nhiều trương hợp luật sư đã sử
dụng chính những vấn đề ghi chép được để làm cơ sở phản bác của mình. Khi đặt câu hỏi cần
chú ý thật ngắn gọn, trọng tâm và dễ hiểu dễ trả lời. Tránh tình trạng luật sư vừa hỏi vừa giải
thích các câu hỏi đó, hay lặp lại các câu hỏi mà hội đồng xét xử, hay luât sư đồng nghiệp đã

tòa án, sẽ giúp luật sư nắm được nội dung quyết định, đánh giá quyết định đó có hợp pháp
không. Đồng thời luật sư cũng có thể tìm hiểu và biết được biên bản phiên tòa có chính xác
không. Từ đó nếu khách hàng có yêu cầu luật sư kháng cáo thì luật sư cũng không lúng túng,
tạo được uy tín, nhân cách của người luật sư.
PHẦN II
THỰC TIỄN KHI GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP VỀ THỪA KẾ
I. VẤN ĐỀ XÁC ĐỊNH DI SẢN:
Trên thực tế khi giải quyết các tranh chấp thừa kế, vấn đề xác định di sản do ngừời chết
để lại luôn gặp khó khăn, đôi khi không chính xác ,đầy đủ dẫn đến tình trạng sau khi vụ án
được giải quyết bằng bản án của tòa án thì vẫn liên tíếp nhận các đơn khiếu nại, phúc thẩm
bản án….
Tòa án nhân dân tối cao đã có nhiều văn bản hướng dãn cụ thể về việc xác định di sản,
đặc biệt là tài sản gắn với quyền sử dụng đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất theo Luật đất đai năm 2003. Nhưng trên thực tế, tòa án không điều tra đầy đủ để xác định
thẩm quyền giải quyết.
Ví dụ vụ tranh chấp sau: Cụ Thiết và cụ Khởi có 3 gian nhà lợp rạ trên diện tích 145m
2
và 492 m
2
đất vườn, cụ Thiết được chia trong cải cách ruộng đất. Nhà cũ đổ từ năm 1955, chỉ
còn đất không. Phía nguyên đơn, bị kiện đều xác nhận trong quá trình ở sử dụng, quản lý ông
Anh đã xây dựng lại nhà cấp 4 lợp lá (1985), sau đó sữa chữa mái lá thành mái ngói ( 1958 ) và
sau đó thì phá nhà cũ đi để xây dựng thành nhà hai tầng như hiện nay.
Tòa án cấp sơ thẩm không xác minh và cũng không thừa nhận các ý kiến của các bên
đương sự đã tự ý cho rằng nhà cấp 4 mà ông Anh làm từ năm 1955 là của các cụ để lại nên
vẫn chia thừa kế.
Tòa án cấp phúc thẩm điều tra lại và xác định các ý kiến xác nhận của các bên đương
sự là phù hợp thực tế, xác định trên đất không còn là vật kiến trúc nào, cũng không còn cây cối
nàoo mà các cụ để lại. Hơn nữa, chưa ai được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hay
các giấy tờ chứng nhận theo Điều 50- Luật đất đai năm 2003 đối với diện tích trên, nên đã xử

chấp các đồ thờ cúng như : Hòanh phi, câu đối…thì giải quyết như thế nào? Hiện tại Điều 673
BLDS chưa đề cập đến các trường hợp nói trên, nên đã có những ý kiến và cách hiểu khác
nhau, dẫn đến sự không thống nhất trong việc giải quyết các tranh chấp này. Cũng có ý kiến
cho rằng tranh chấp này không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, vì đối tượng tranh
chấp không phải là tài sản thuộc di sản thừa kế được quy định ở Điều 637 và Điều 673 BLDS.
Từ thực tế này cho thấy đây là một lọai tài sản đặc biệt,thuộc di sản thừa kế, nhưng do
BLDS chưa có điều nào quy định ề đồ thờ cúng mà mới đề ập chung đến vấn đề” Di sản dùng
vào việc thờ cúng” ( Kể cả thẩm phán đều tỏ ra lúng túng). Vậy nên khi sửa đổi, bổ sung BLDS
có nên chăng thêm một điều luật quy định về vấn đề này va phải xác định đây là một lọai việc
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Cho nên trong suốt quá trình tiếp nhận hồ sơ của khách hàng, luật sư phải theo sát mọi
họat động liên quan đến việc giải quyết vụ án đúng pháp luật. Khi có bất cứ họat động nào liên
quan đến việc thẩm định di sản của người chết, nếu tòa án xác định không chính xác, hoặc bỏ
sót, luật sư phải có ngay ý kiến bằng văn bản nhằm bảo vệ quyền lợi của thân chủ mà mình
đang bảo vệ. Đôi khi chính luật sư phải tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ, đến tận nơi
có di sản để đánh giá chính xác và cung cấp các tài liệu cần thiết giúp cho Tòa án.
2. VẤN ĐỀ XÁC ĐỊNH NGƯỜI THỪA KẾ:
Vấn đề xác định tư cách đương sự tham gia trong vụ án tanh chấp về thừa kế đối với
tòa án sơ thẩm rất quan trọng, nhưng trên thựctế nhiều năm qua chưa được tòa án quan tâm,
chú ý, thậm chí việc giám đốc án của Tòa án nhân dân tối cao cũng tập trung nhiều vào nội
dung giải quỵết vụ án mà có phần chưa đánh giá đầy đủ tính chất quan trọng của việc xác định

_________________________________________________________________________

Trang1
1
KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG VỤ ÁN THỪA KẾ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẼN
_____________________________________________________________________________________________
tư cách đương sự trong các vụ án thừa kế, mà nhiều trường hợp việc đó liên quan đến nội
dung giải quyết vụ án , quyền nghĩa vụ của đương sự.

Ông Trung và bà Thu sống chung vào khỏang năm 1990 khi ông Trung đã có vợ hợp
pháp là bà Phụng. Căn cứ luật HNGĐ năm 2000 thì quan hệ giữa ông Trung và bà Thu là quan
hệ hôn nhân trái pháp luật (vi phạm điều 8, luật HNGĐ 86, 2000). Vì vậy tài sản của ông Trung
không thể chia cho bà Thu theo chế độ tài sản chung của vợ chông. Và đương nhiên bà Thu
không ohải là người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Trung. Do đó việc xác định di sản
thừa kế của ông Trung trên cơ sở xác định tài sản chung của vợ chồng ông Trung và bà Phụng.
Tài sản chung gồm tòan bộ tài sản mà vợ chồng tạo dựng trong thời kỳ hôn nhân, gồm cả căn
nhà mà ông Trung đã tự mua tại tỉnh Hòa Bình đang do bà Thu quản lý. Tuy nhiên vẫn phải
đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho bà Thu bằng cách xác định phần công sức đóng góp của bà
Thu ( nếu có ) vào giá trị của ngôi nhà, vì bà Thu và ông Trung đã có thời gian chugn sống tại
ngôi nhà này.
Việc xác định người thừa kế của ông Trung thuộc Điều 679 BLDS.
Căn cứ vào Điều 679 thì : Hàng thừa kế thứ nhất của ông Trung gồm: Mẹ đẻ của ông
Trung, bà Phụng và Phượng ( con gái củia ông Trung với bà Phụng). Riêng về người con nuôi

_________________________________________________________________________

Trang1
2
KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG VỤ ÁN THỪA KẾ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẼN
_____________________________________________________________________________________________
của ông Trung và bà Thu là cháu Từ Tấn Tài có phải là người thuộc diện thừa kế thứ nhất của
ông Trung? Vấn đề này có rất nhiếu quan điểm khác nhau:
Quan điểm 1: Vì quan hệ hôn nhân giữa bà Thu và ông Trung là quan hệ hôn nhân
không hợp pháp nên việc đăng ký nhận con nuôi chung giữa hai người cũng không hợp pháp.
Vì vậy Từ Tấn Tài không thể được coi là con nuôi của ông Trung, nên không thuộc diện thừa kế
theo pháp luật của ông Trung.
Quan điểm 2 : Tuy quan hệ hôn nhân giữa ông Trung và bà Thu là QHHN trái pháp luật,
nhưng việc đăng ký nhận nuôi con nuôi là hợp pháp. Vì vậy căn cứ vào Điều 72 luật HNGĐ
năm 2000 thì Điều luật không đưa ra điều kiện “ Chỉ chấp nhận là bố mẹ nuôi khi hai người có


Trang1
3


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status