THÀNH UỶ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG LÃNH ĐẠO LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG THÀNH PHỐ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN - Pdf 10


1
LUẬN VĂN
THÀNH UỶ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG LÃNH
ĐẠO LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG THÀNH
PHỐ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN

2

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Lãnh đạo các tổ chức chính trị - xã hội, trong đó có Công đoàn, là
chức năng, nhiệm vụ trọng yếu của Đảng Cộng sản Việt Nam, là yếu tố đặc
biệt quan trọng, góp phần đảm bảo thắng lợi của cách mạng. Qua thực tế
cho thấy, ở bất cứ giai đoạn cách mạng nào, ở bất cứ ngành, địa phương,
đơn vị nào làm tốt chức năng, nhiệm vụ trên đều tập hợp, giáo dục được
đông đảo người lao động, đưa họ tham gia vào phong trào hành động cách
mạng, thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách,

Sự lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị cũng như đối với các
lĩnh vực trọng yếu của đời sống kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã hội,
an ninh, quốc phòng, trong giai đoạn hiện nay đã được nhiều nhà khoa học
quan tâm nghiên cứu, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả, năng lực lãnh đạo
của Đảng dưới nhiều góc độ, phạm vi, lĩnh vực, địa bàn khác nhau. Có thể
nêu một số công trình tiêu biểu:
- Lê Văn Lý (chủ biên), Sự lãnh đạo của Đảng trên một số lĩnh vực
trọng yếu trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc
phòng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1999.
- Đan Tâm, Một số ý kiến về Đảng lãnh đạo và giai cấp công nhân lãnh
đạo trong kinh tế thị trường- Tạp chí Dân vận, 2000, số 3, tr. 11-13.
- Đan Tâm, Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với giai cấp công
nhân trong thời kỳ mới. Tạp chí Cộng sản, 1999, số 7, tr. 18-20.
- Thanh Tuyền, Đảng với giai cấp công nhân, Tạp chí Dân vận, 1998,
số 9, tr. 9-11.
- PGS.PTS. Đỗ Quang Hưng (chủ biên), Bác Hồ với giai cấp công
nhân và Công đoàn Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội, 1999.
- Lê Thanh Hà, Đảng lãnh đạo xây dựng giai cấp công nhân đáp ứng
yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Tạp chí Lịch
sử Đảng, 2003, số 4, tr. 20-23.
- Cù Thị Hậu, Một số vấn đề về giai cấp công nhân lao động và tổ chức
công đoàn hiện nay, Tạp chí Dân vận, 2005, số 5, tr.6-8.

4

- Nguyễn An Lương, Giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn Việt
Nam trước những thời cơ và thách thức mới, Tạp chí Cộng sản, 2003, số 29,


- Lê Huy Ngọ, Một số vấn đề về phương thức lãnh đạo của Đảng, Tạp
chí Cộng sản số 19, năm 1996.
- Lê Thanh, Tỉnh ủy Đồng Nai đổi mới phong cách lãnh đạo, Tạp chí
Xây dựng Đảng, số 5, năm 1993.
- Chu Văn Ry, Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng ở Thái Bình,
Tạp chí Xây dựng Đảng, số 3, năm 1992.
- Dương Văn Sao, Thực trạng và những giải pháp đổi mới quan hệ giữa
Đảng, Nhà nước với Công đoàn Việt Nam, NXB Lao động, Hà Nội 2005.
- Thang Văn Phúc- Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với
Nhà nước trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,
Tạp chí Cộng sản 2006, số 9, tr. 46.
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cụ
thể và có hệ thống về sự lãnh đạo của Thành ủy Đà Nẵng đối với Liên đoàn
Lao động thành phố giai đoạn hiện nay.
3.Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích của luận văn
- Góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tăng cường sự
lãnh đạo của Thành uỷ Thành phố Đà Nẵng đối với Liên đoàn Lao động
Thành phố trong giai đoạn hiện nay.
- Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của
Thành uỷ Thành phố Đà Nẵng đối với Liên đoàn Lao động Thành phố trong
giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Trên cơ sở khoa học, phân tích làm rõ đặc điểm, vai trò, chức năng,
nhiệm vụ của Liên đoàn Lao động thành phố Đà Nẵng trong sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo để Thành ủy Đà Nẵng làm
căn cứ đề ra những chủ trương, biện pháp chỉ đạo hoạt động của hệ thống

7

công đoàn thành phố những năm tới, nhất là chuẩn bị cho đại hội Công đoàn
các cấp, tiến tới Đại hội Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam lần thứ X,
nhiệm kỳ 2008-2013.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn gồm 2 chương, 5 tiết.
Chương 1
THÀNH UỶ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG LÃNH ĐẠO
LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG THÀNH PHỐ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN

1.1. Đặc điểm, vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Thành ủy Đà
Nẵng và của Liên đoàn Lao động Thành phố Đà Nẵng
1.1.1. Đặc điểm, vị trí, vai trò, nhiệm vụ của Thành ủy Đà Nẵng
Thành phố Đà Nẵng có diện tích tự nhiên 1.256,24km²1; phía Bắc giáp
tỉnh Thừa thiên - Huế, phía Nam và Tây giáp tỉnh Quảng Nam. Thành phố
nằm ở vào trung độ của đất nước, nằm trên trục giao thông Bắc- Nam về
đường bộ (quốc lộ 1A), đường sắt, đường biển, đường hàng không. Đà Nẵng
là một trong những cửa ngõ quan trọng ra biển của Tây nguyên và đến các
nước Đông Bắc Á. Những năm đến khi thực hiện tự do hóa thươnng mại và
đầu tư khu vực ASEAN thì vị trí địa lý thành phố cảng là lợi thế quan trọng

Tổng số tổ chức cơ sở đảng là 582.
Về bộ máy, các ban đảng và cơ quan trực thuộc Thành ủy có 7 đơn vị;
Các đoàn thể chính trị - xã hội có 6 đơn vị, cơ sở và tương đương có 24 đơn vị.
Về đảng viên, tổng số đảng viên đảng bộ thành phố là 31.359 người;
trong đó có 10.430 nữ chiếm 32,9%.
Về trình độ lý luận chính trị: đảng viên có trình độ cử nhân chính trị
773 người chiếm tỷ lệ 2,46%, đảng viên có trình độ cao cấp có 2525 người
chiếm tỷ lệ 8,05% [nguồn Ban Tổ chức Thành ủy Đà Nẵng].
Đảng bộ thành phố Đà Nẵng giàu truyền thống cách mạng, cần cù,
đoàn kết, sáng tạo, đã lập nhiều chiến công trong các cuộc kháng chiến cứu
nước, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống

9

nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sau ngày thành
phố trực thuộc Trung ương, đảng bộ và các tầng lớp nhân dân đã nỗ lực vượt
qua nhiều khó khăn, thử thách xây dựng thành phố phát triển nhanh và tương
đối bền vững.
Thời gian qua, Đảng bộ thành phố đã đoàn kết, thống nhất, vừa tập
trung lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, vừa chú trọng công tác xây dựng
Đảng. Đảng bộ đã có nhiều cách làm mới, sáng tạo nhằm nâng cao năng lực
lãnh đạo và sức chiến đấu của đảng bộ.
Công tác chính trị, tư tưởng được quán triệt là nhiệm vụ quan trọng
hàng đầu của Đảng bộ. Cán bộ chủ chốt các cấp thường xuyên đối thoại với
nhân dân, trực tiếp giải quyết các vướng mắc nảy sinh trong thực tiễn. Đảng
bộ chú trọng nghiên cứu, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, tổng kết thực tiễn, tuyên truyền, phổ biến pháp luật, học tập và làm

1. Liên đoàn Lao động tỉnh, thành phố được tổ chức theo địa giới hành
chính tỉnh, thành phố do Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam
quyết định thành lập hoặc giải thể phù hợp với các quy định của Luật Công đoàn.
2. Đối tượng tập hợp của Liên đoàn Lao động tỉnh, thành phố gồm
đoàn viên, CNVCLĐ trên địa bàn.
Liên đoàn Lao động tỉnh, thành phố chỉ đạo trực tiếp các Liên đoàn Lao
động huyện, Công đoàn ngành địa phương, Công đoàn Tổng công ty (thuộc
tỉnh, thành phố), Công đoàn khu công nghiệp và các Công đoàn cơ sở, nghiệp
đoàn trực thuộc (kể cả Công đoàn cơ sở các đơn vị của Trung ương không có
Công đoàn ngành Trung ương hoặc Công đoàn Tổng Công ty).
1.1.3. Chức năng, nhiệm vụ của Liên đoàn Lao động thành phố Đà Nẵng
Nhiệm vụ, quyền hạn của Liên đoàn Lao động tỉnh, thành phố:
a) Tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ của tổ chức Công đoàn.
b) Đại diện, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng
của đoàn viên, CNVCLĐ trên địa bàn.

11
c) Triển khai thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp
hành, Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Nghị
quyết đại hội Công đoàn tỉnh, thành phố; các chỉ thị, nghị quyết của
Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Tham gia với cấp uỷ
Đảng, cơ quan Nhà nước tỉnh, thành phố về các chủ trương, kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội và các vấn đề có liên quan đến đời
sống, việc làm và điều kiện làm việc của CNVCLĐ trên địa bàn. Tổ
chức phong trào thi đua yêu nước, các hoạt động xã hội của
CNVCLĐ trên địa bàn.

quản lý các nhà văn hoá công nhân, công đoàn; tổ chức các trung
tâm giới thiệu việc làm, văn phòng tư vấn pháp luật theo quy định
của Nhà nước và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.
g) Thực hiện quy hoạch, quản lý, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và
thực hiện chính sách cán bộ theo phân cấp của tỉnh uỷ, thành uỷ và
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.
h) Hướng dẫn, chỉ đạo đại hội các Công đoàn cấp dưới; xây
dựng Công đoàn cơ sở và nghiệp đoàn vững mạnh.
i) Thực hiện quan hệ đối ngoại theo quy định của Tổng Liên
đoàn Lao động Việt Nam [58, tr. 46-50].
 Liên đoàn Lao động thành phố Đà Nẵng có chức năng và nhiệm vụ:
- Tập hợp, vận động CNVC,LĐ trên địa bàn đẩy mạnh phong trào thi
đua "Lao động giỏi", "Lao động sáng tạo" và các phong trào thi đua khác, đẩy
mạnh việc thực hành tiết kiệm, thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế - xã hội
của Thành phố:
Trong những năm qua Công đoàn thành phố luôn chủ động đẩy mạnh
các phong trào thi đua trong CNVC,LĐ thành phố cũng như hưởng ứng 3
phong trào thi đua của Tổng Liên đoàn Việt Nam phát động, nhất là phong
trào " Lao động giỏi với năng suất, chất lượng, hiệu quả cao, bảo đảm an toàn
vệ sinh lao động"; " Học tập nâng cao trình độ mọi mặt, đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hoá, hiện đại hoá" và nhiều phong trào cụ thể khác gắn liền vào những
dịp kỷ niệm những ngày lễ lớn. Bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng với

13
những nội dung, tiêu chí cụ thể, phù hợp với từng loại hình cơ sở và người lao
động; phong trào "Giỏi việc nước, đảm việc nhà" trong nữ công nhân viên
chức lao động, phong trào thi đua phục vụ nông nghiệp, phát triển nông thôn,

học tập 5 bài chính trị cơ bản.
Liên đoàn Lao động thành phố đã duy trì thường xuyên các hoạt động
của Nhà Văn hoá và đang xây dựng Trung tâm Văn hoá Lao động và Dịch vụ
việc làm, tạo điều kiện cho người lao động có nơi vui chơi giải trí, được đào
tạo nghề miễn phí để hoà nhập với công việc đang ngày một đòi hỏi chuyên
môn cao.
- Chăm lo, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của
CNVC,LĐ; phát huy quyền dân chủ của CNVC,LĐ theo tinh thần nghị quyết
Trung ương III (Khóa IX) ; tăng cường giám sát, kiểm tra việc thực hiện chế
độ, chính sách và pháp luật của Nhà nước đối với người lao động:
Việc chăm lo, bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của người lao
động là chức năng cơ bản của Công đoàn, vì vậy Liên đoàn Lao động thành
phố đã chủ động tham gia với Uỷ ban nhân dân thành phố xây dựng, bổ sung,
sửa đổi các chế độ, chính sách liên quan đến CNVC,LĐ và tổ chức công đoàn
như tiền lương, tiền thưởng, sắp xếp lao động dôi dư, sắp xếp đổi mới doanh
nghiệp, cổ phần hoá doanh nghiệp, thực hiện chế độ BHXH, Bảo hiểm y tế,
phụ cấp ca 3, phụ cấp độc hại,… cho người lao động.
Liên đoàn Lao động thành phố đã chỉ đạo công đoàn cơ sở trực thuộc
theo dõi chặt chẽ việc cổ phần hoá, nhằm sắp xếp thoả đáng số lao động dôi
dư trong quá trình đổi mới doanh nghiệp Nhà nước, góp phần bảo đảm sản
xuất, kinh doanh nâng cao hiệu quả công tác, góp phần nâng cao thu nhập cho
người lao động. chỉ đạo công đoàn trực thuộc, hằng năm chủ động phối hợp
với chính quyền và chuyên môn mở Hội nghị cán bộ công chức và Đại hội
công nhân viên chức nhằm lắng nghe những thắc mắc của CNVC,LĐ giải
quyết kịp thời ý kiến, kiến nghị của người lao động làm cho người lao động
yên tâm, tin tưởng, gắn bó với đơn vị, với công việc nhiều hơn.

16
Trong 10 năm đã phát hiện, bồi dưỡng, giới thiệu cho Đảng kết nạp được
hơn 4000 đảng viên, 12/14 Chủ tịch LĐLĐ quận, huyện và công đoàn ngành
được bầu vào cấp uỷ, có hơn 80% cán bộ công đoàn cơ sở tham gia cấp uỷ.
Tham gia cùng chính quyền sắp xếp bộ máy hành chính, tinh giảm biên
chế trong các cơ quan hành chính sự nghiệp, vận động CNVC,LĐ tham gia
cải cách hành chính, thực hiện chống quan liêu, tham nhũng tại đơn vị. Tập
trung cái tiến lề lối làm việc, xây dựng tác phong công nghiệp, khoa học trong
công tác.
Thường xuyên tổ chức các diễn đàn để cho công nhân phát biểu ý kiến,
giúp cho các cấp lãnh đạo đảng, chính quyền thấu hiểu được tâm tư tình cảm
và nguyện vọng của người lao động. Với chương trình thực hiện thường
xuyên tại các diễn đàn " Nghe công nhân nói và nói cho công nhân nghe" đã
giúp cho Đảng và công nhân gần gũi và hiểu nhau hơn. Đồng thời cũng giúp
cho các nhà hoạch định chính sách kinh tế - xã hội định đoạt những chính
sách đúng đắn hơn.
- Xây dựng tổ chức Công đoàn vững mạnh, nâng cao năng lực hoạt
động của cán bộ công đoàn các cấp:
Trong những năm qua, các cấp công đoàn đã luôn coi trọng công tác
phát triển đoàn viên và xây dựng tổ chức công đoàn nhờ thế mà số lượng
đoàn viên và tổ chức công đoàn tăng lên hằng năm.
Xác định việc nâng cao trình độ của CNVC,LĐ nói chung và cán bộ
công đoàn nói riêng có ý nghĩa quyết định cho thời kỳ CNH,HĐH thành phố,
nên trong 10 năm đã có 9800 lượt cán bộ công đoàn các cấp tham gia tập
huấn nâng cao nghiệp vụ công đoàn, cử 36 cán bộ chuyên trách đi học nghiệp
vụ Công đoàn, quản lý nhà nước, lý luận chính trị, trong đó có 02 người học
cao học.


ngừng phát triển cả số lượng và chất lượng. Từ đầu năm 1997, Liên đoàn Lao

18
động Thành phố Đà Nẵng chỉ có 49.732 đoàn viên, đến nay đã có 14 công
đoàn ngành, quận, huyện và 44 công đoàn cơ sở trực thuộc với 76.823
CNVC,LĐ trong đó có 59.085 đoàn viên Nguồn Ban Tổ chức Liên đoàn Lao
động Thành phố Đà Nẵng.
Cụ thể có 7 công đoàn ngành địa phương, trong đó có 01 Công đoàn
các khu công nghiệp và chế xuất. 7 Liên đoàn Lao động quận, huyện và 22
công đoàn cơ sở trực thuộc.
Liên đoàn Lao động trực tiếp chỉ đạo các phong trào Công đoàn, xây
dựng tổ chức công đoàn địa phương, vận động đoàn viên CNVC,LĐ tham gia
tốt các hoạt động sản xuất, kinh doanh, thực hiện tốt các lĩnh vực kinh tế - xã
hội trong địa phương, góp phần tăng GDP của thành phố, giải quyết tốt công
ăn việc làm cho người lao động, bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của
người lao động.
Tính đến 31 tháng 12 năm 2006, Liên đoàn Lao động thành phố Đà Nẵng
có 756 công đoàn cơ sở, trong đó được chia ra như sau:
- Khu vực Nhà nước: có 614 công đoàn cơ sở.
- Khu vực ngoài quốc doanh: có 142 công đoàn cơ sở. Trong đó:
Đơn vị sự nghiệp ngoài công lập: 16 công đoàn cơ sở.
Đơn vị sản xuất kinh doanh, gồm 126 công đoàn cơ sở. Trong đó:
Liên doanh với nước ngoài có 10 công đoàn cơ sở.
100% vốn nước ngoài có 21 công đoàn cơ sở.
Công ty cổ phần có 35 công đoàn cơ sở.
Công ty trách nhiệm hữu hạn có 30 công đoàn cơ sở.
Công ty tư nhân có 9 công đoàn cơ sở.

Đây là lực lượng chủ yếu sản xuất vật chất, hàng năm đã làm ra một
khối lượng sản phẩm chiếm tỷ trọng hơn 60% tổng sản phẩm địa phương.
Qua tổ chức lại sản xuất - kinh doanh, sắp xếp lại doanh nghiệp, bộ
máy quản lý Nhà nước đã có khoảng 3 vạn công nhân, viên chức, lao động rời
khỏi nhà máy, cơ quan, xí nghiệp chuyển sang các thành phần kinh tế khác
hoặc mất việc làm
Điều đáng chú ý là bên cạnh kinh tế quốc doanh, công nhân lao động
trong các thành phần kinh tế khác có xu hướng phát triển mạnh. Hiện nay
thành phố có trên 18.000 lao động thuộc khu vực HTX, TTCN, thương mại

20
dịch vụ với các loại hình, ngành nghề như xây dựng, giao thông vận tải, sản
xuất dịch vụ và có hơn 10.000 lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài.
Tại thành phố Đà Nẵng qua điều tra cho thấy công nhân lâu năm, thợ
bậc cao trong các doanh nghiệp Nhà nước giảm mạnh, lực lượng công nhân
trẻ, kết cấu nhiều thành phần, đa dạng tăng nhanh. Khu vực có vốn đầu tư
nước ngoài thật sự đã thu hút được lực lượng lao động trẻ, công nhân giỏi, thợ
bậc cao và đội ngũ kỹ sư, cán bộ kỹ thuật trên nhiều lĩnh vực.
Về chất lượng, đội ngũ công nhân viên chức lao động (CNVC - LĐ)
thành phố đến nay được nâng lên nhiều mặt. Nhìn chung tuổi đời trẻ, lao động
dưới 30 tuổi chiếm 33,71%, từ 30 đến 40 tuổi chiếm 46,51%, có 76, 35% đạt
trình độ trung học phổ thông trở lên trong đó có 27,27% có trình độ đại học
và trên đại học nguồn Ban Kinh tế, chính sách- xã hội Liên đoàn Lao động
thành phố Đà Nẵng nên có khả năng tiếp cận nhanh với khoa học và công
nghệ tiên tiến, hiện đại
Tuy nhiên, đội ngũ CNVC - LĐ hiện còn bộc lộ những điểm yếu đó

bệnh định kỳ, phát hiện 16,32% CNVC - LĐ mắc bệnh nghề nghiệp phải điều
trị, 7,08% được xác định bệnh nghề nghiệp.nguồn Ban Kinh tế, chính sách-
xã hội Liên đoàn Lao động thành phố Đà Nẵng 


Tình hình thu nhập và đời sống của công nhân viên chức lao động:
Tình hình tiền lương, thu nhập và đời sống của đại đa số CNVC - LĐ
thành phố có được cải thiện hơn, thu nhập bình quân hàng năm của CNLĐ
tăng từ 10% đến 35% nhưng vẫn còn thấp so với yêu cầu bình thường của
cuộc sống. Tiền lương và thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức trong
khu vực hành chính sự nghiệp tương đối ổn định, nhưng đời sống còn khó
khăn. Trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tiền lương không ổn định và
thấp vào thời điểm tháng 6/2006 phổ biến từ 600.000đ đến 900.000đ
/người/tháng.

22
Thu nhập và đời sống của CNVC - LĐ trong những năm qua vẫn chỉ ở
mức trung bình, vừa đủ trang trải cho việc ăn, ở hàng ngày, chưa có tích luỹ
để chăm sóc sức khoẻ, đầu tư cho học hành của con cái, mua sắm các tiện
nghi phục vụ sinh hoạt gia đình, cải thiện nhà ở,v.v
Một điều đáng quan tâm là sự chênh lệch lớn về thu nhập các ngành
nghề, các khu vực và ngay cả trong cùng một ngành nghề còn khá phổ
biến. Trong đó, có phần do cơ chế, chính sách quản lý quỹ tiền lương, tiền
thưởng ở các đơn vị rất khác nhau tạo nên sự bất hợp lý, thiếu công bằng
như giữa những người làm việc trong một số ngành có lợi thế độc quyền
thu nhập cao so với đông đảo CNVC - LĐ ở các ngành khác (Mức chênh
lệch từ 3-5 lần, thậm chí có lĩnh vực gấp 10 lần), nên dẫn đến sự phân hoá

Trình độ bậc thợ công nhân lao động:
Bậc 1: 6,39%; Bậc 2: 10,74%; Bậc 3: 11,24%; Bậc 4: 18,3%; Bậc 5:
9,51%; Bậc 6: 4,79%; Bậc 7: 2,02%
Tỉ lệ bậc thợ thấp (Bậc 1,2) còn khá lớn chiếm 17,13%, số thợ bậc cao
còn quá ít (Bậc 6,7) chiếm 6,81%  Ban Kinh tế chính sách - xã hội Liên đoàn
Lao động thành phố Đà Nẵng.


Tình hình chính trị, tư tưởng trong công nhân, viên chức, lao động:
Hiện nay tỷ lệ đảng viên trong CNLĐ chiếm khoảng 20%, tỉ lệ đoàn
viên công đoàn chiếm 70% trong CNLĐ (Riêng khu vực kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài có 9/57 doanh nghiệp có tổ chức cơ sở Đảng, có 17/57 doanh
nghiệp có tổ chức công đoàn). Hàng năm có trên 75% CNVC - LĐ được học
tập chính trị, pháp luật và các nghị quyết của Đảng, Nhà nước. Từ năm 1998
đến 2003 các cấp công đoàn thành phố đã giới thiệu 5.752 đoàn viên ưu tú
cho Đảng và đã có 2.943 đoàn viên được kết nạp Đảng (đạt tỷ lệ 51%), có
11,8% CNVC - LĐ theo học trung cấp, cao cấp, cử nhân chính trị Nguồn
Ban Tổ chức Liên đoàn Lao động thành phố Đà Nẵng.
Trong cơ chế thị trường, phần lớn công nhân xoá bỏ được tư tưởng bao
cấp, tâm lí trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước. Họ đã dần hình thành ý thức mới, ý
thức tự lực, tự cường vươn lên khẳng định mình, tự kiếm sống, kiếm việc làm,
tham gia vào quá trình đào tạo, đào tạo lại để đáp ứng đòi hỏi của xã hội. Họ

24
đã tự chủ trong sản xuất, kinh doanh sống bằng bàn tay, khối óc của chính
mình, nhanh chóng tiếp thu những thành tựu khoa học - kỹ thuật công nghệ
hiện đại, từ đó đã bắt đầu hình thành về " Giá trị kinh tế " của bản thân thông

25
Việc thực hiện giao kết hợp đồng lao động trong các khu vực còn
khác biệt lớn, ở khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt tỉ lệ gần 95%, còn ở
khu vực ngoài quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ
đạt từ 20% - 30% và chủ yếu là Hợp đồng Lao động có xác định thời hạn,
hoặc ngắn hạn, mặc dù công việc mang tính thường xuyên. Tỷ lệ doanh
nghiệp ký kết thoả ước lao động tập thể có tăng nhưng chưa đạt yêu cầu về
số lượng và chất lượng nhất là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh; thời
gian làm việc, nghỉ ngơi tuy được Bộ luật lao động quy định nhưng nhiều
doanh nghiệp còn vi phạm.
Tình hình tranh chấp lao động, phản ứng tập thể và đình công trong
các loại hình doanh nghiệp còn xảy ra nhưng không còn bức xúc và điểm
nóng. Trong 7 năm qua trên địa bàn thành phố đã xảy ra trên 17 cuộc tranh
chấp lao động tập thể, đình công tại 10 doanh nghiệp ở các thành phần kinh
tế. Trong đó có một cuộc đình công xảy ra ở doanh nghiệp Nhà nước, còn lại
đa số xảy ra ở doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài. Các cuộc phản
ứng tập thể, đình công xảy ra không tuân theo quy định của Pháp luật.
Nguyên nhân dẫn đến các cuộc đình công đa số do chủ doanh nghiệp vi phạm
pháp luật lao động, ngoài ra còn có nguyên nhân một số CNLĐ trẻ, mới vào
làm việc chưa hiểu pháp luật lao động. Đình công xảy ra chủ yếu ở nơi chưa
có tổ chức công đoàn.
Đội ngũ CNVC - LĐ đang có mặt trong tất cả các thành phần kinh tế,
các ngành nghề, là lực lượng sản xuất cơ bản, chủ yếu có vai trò quan trọng
trong sự nghiệp CNH - HĐH thành phố. Là lực lượng nắm giữ những cơ sở
vật chất và các phương tiện sản xuất hiện đại, quyết định thúc đẩy kinh tế - xã
hội phát triển, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội.
Đội ngũ công nhân thành phố thực sự có khả năng sáng tạo trong sản
xuất và đời sống xã hội, thích ứng với cơ chế mới, tiếp cận nhanh với khoa

Trích đoạn Đổi mới, hoàn thiện nội dung và phương thức hoạt động của Liờn đoàn lao động thành phố trong tỡnh hỡnh mớ Đổi mới nội dung, phương thức lónh đạo của thành ủy đối với Liờn đoàn Lao động thành phố Đổi mới nội dung và phương thức lónh đạo của cỏc tổ chức cơ sở đảng đối với cụng đoàn cơ sở trực thuộc Đổi mới nhận thức cụng tỏc tổ chức và cỏn bộ Lónh đạo chớnh quyền và cỏc đoàn thể tạo mọi điều kiện thuận lợi cho hoạt động của Liờn đoàn Lao động thành phố
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status