TR ƯỜNG
KHOA………………………
Ti ểu luận
Kỹ năng của luật sư trong vụ án lao động
- Những vấn đề lý luận và thực tiễn
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG
1. Một số vấn đề về tranh chấp lao động và
vai trò của luật sư trong các vụ án lao động 2
1.1 Tranh chấp lao động và việc giải quyết tranh chấp lao động tại Toà án .2
1.2 Vai trò của Luật sư trong các vụ án lao động 3
2. Kỹ năng của luật sư trong các vụ án về lao động 3
2.1 Trong giai đoạn khởi kiện 3
2.2 Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử 5
2.3 Kỹ năng tham gia hoà giải 7
2.4 Tham gia phiên toà sơ thẩm 7
3. Kỹ năng của luật sư trong một số vụ án lao động điển hình 9
3.1 Kỹ năng trong vụ án đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động 9
3.2 Kỹ năng của luật sư trong vụ án về đòi bồi thường chi phí đào tạo 10
LỜI MỞ ĐẦU
Trong xã hội tồn tại rất nhiều mối quan hệ xã hội, trong đó quan hệ lao
động là một trong những quan hệ không thể thiếu, nó chiếm một vị trí hết sức
quan trọng. Nó không giống như những quan hệ hay các giao dịch khác, quan hệ
lao động gắn bó gần như suốt cuộc đời mỗi con người. Đó là cơ sở để đảm bảo
cuộc sống và sự phát triển của mỗi người. Trong quan hệ lao động có rất nhiều
quan hệ phức tạp đan xen lẫn nhau về công việc, tiền lương, thời gian làm việc,
và các quyền và lợi ích khác giữa người lao động và người sử dụng lao động. Do
đó, mâu thuẫn và tranh chấp sẽ không thể tránh khỏi.
Tranh chấp lao động là một hiện tượng xã hội phát sinh trong lĩnh vực lao
động tập thể.
Theo Điều 31 khoản 1 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 166 Bộ luật lao động
thì Toà án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp lao động cá nhân sau:
“ 1. Toà án nhân dân giải quyết các tranh chấp lao động cá nhân mà Hội đồng
hoà giải lao động cơ sở, hoà giải viên lao động hoà giải không thành hoặc
Hội đồng hoà giải lao động cơ sở, hoà giải viên lao động không giải quyết
trong thời hạn quy định.
2. Toà án nhân dân giải quyết tranh chấp về lao động cá nhân sau đây mà
không nhất thiết phải qua hoà giải tại cơ sở:
a) Tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường
hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng;
b) Tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao
động;
c)Tranh chấp giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;
d) Tranh chấp về bảo hiểm xã hội quy định tại điểm b khoản 2 Điều 151 Bộ
luật này;
đ) Tranh chấp về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp
xuất khẩu lao động .”
Điều 172 Bộ luật lao động quy định quyền yêu cầu Toà án giải quyết tranh
chấp lao động của tập thể lao động khi không đồng ý với quyết định của Hội
đồng trọng tài lao động. Và khoản 2 Điều 31 Bộ luật tố tụng dân sự quy định:
“ 2. Tranh chấp lao động tập thể giữa tập thể lao động với người sử dụng lao
động đã được Hội đồng trọng tài lao động tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương giải quyết mà tập thể lao động hoặc người sử dụng lao động không đồng
ý với quyết định của Hội đồng trọng tài lao động bao gồm:
a) Về quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và điều
kiện lao động khác;
b) Về thực hiện thoả ước lao động tập thể;
c) Về quyền thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàn.
3. Các tranh chấp khác về lao động mà pháp luật có quy định .”
xác định mục đích kiện tức là khởi kiện để yêu cầu giải quyết vấn đề gì. Nếu yêu
cầu khởi kiện đã rõ thì phân tích cho khách hàng về khả năng chiến thắng và
những yêu cầu nào có thể được chấp nhận. Nếu khách hàng muốn tiến hành khởi
kiện thì phải giúp họ những việc như sau:
- Xác định loại việc kiện: để xác định đúng loại việc kiện, luật sư cần xem
xét quan hệ lao động và tình tiết sự việc xảy ra giữa các bên như có quan hệ hợp
đồng hay không, hợp đồng đã ký kết có phải hợp đồng lao động hay không?
Việc xử lý kỉ luật; Quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động yêu
cầu cụ thể của đương sự?
- Tiếp đó luật sư phải xem xét thời hiệu khởi kiện: Thời hiệu khởi kiện cụ
thể đối với từng loại tranh chấp lao động được quy định tại điều 166, 167 Bộ
luật lao động, điều 159 khoản 3 BLTTDS nếu thời hiệu không được quy định tại
BL lao động. Trong trường hợp đã hết thời hiệu khởi kiện thì luật sư cần phải
báo ngay cho đương sự biết và không tiến hành khởi kiện nữa.
- Điều kiện khởi kiện: Tuỳ từng trường hợp tranh chấp lao động đòi hỏi
phải được hoà giải trước khi khởi kiện ra Toà án. Đối với tranh chấp lao động cá
nhân được quy định tại điều 166 Bộ luật lao động; Điều 172 Bộ luật lao động
Đối với tranh chấp lao động tập thể. Vì vậy nếu tranh chấp phải tiến hành hoà
giải trước thì luật sư tư vấn cho đương sự thực hiện đúng trình tự, thủ tục trước
khi khởi kiện ra Toà án. Trong trường hợp tranh chấp không nhất thiết phải qua
hoà giải thì luật sư tư vấn cho đương sự cân nhắc về khả năng hoà giải thành và
khả năng thắng kiện khi khởi kiện ra Toà án.
- Xác định đúng toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động của
đương sự. Căn cứ vào quy định của pháp luật và bản chất vụ án mà Luật sư xác
định cho đương sự toà án nào có thẩm quyền giải quyết vụ án của đương sự.
Điều 33 BLTTDS, Toà án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết các
tranh chấp lao động cá nhân tại khoản 1 Điều 31 BLTTDS. Điều 34 quy định
Toà án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể
tại khoản 2 Điều 31 Bộ luật tố tụng dân sự; những tranh chấp có đương sự hoặc
tài sản ở nước ngoài hoặc cần uỷ thác cho cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở
chính để cùng với đương sự có mặtkhi topà án triệu tập đến lấy lời khai.
Nếu bảo vệ cho nguyên đơn, Luật sư cần nghiên cứu ngay văn bản trả lời
thông báo Toà án của bị đơn và các tài liệu do bị đơn cung cấp. Nếu bảo vệ
quyền lợi cho bị đơn, luật sư cần nghiên cứu từ đơn khởi kiện và các tài liệu do
nguyên đơn cung cấp. Các việc này sẽ giúp luật sư xác định được yêu cầu, quan
điểm, lập luận và căn cứ của bên kia để chuẩn bị việc bảo vệ quyền lợi cho
khách hàng của mình. Luật sư cần tập trung vào các tài liệu có ý nghĩa cho việc
giải quyết vụ án do bên kia cung cấp mà mình chưa được biết được xem xét giá
trị chứng minh của nó và xác định xem mình phải thu thập thêm tài liệu, chứng
cứ nào, giải trình những gì để phản biện lại phía bên kia.
Luật sư cũng cần nghiên cứu các tài liệu do Toà án thu thập như: lời khai
của đương sự, người làm chứng, ý kiến của Công đoàn.
Khi nghiên cứu hồ sơ, luật sư cần kết hợp với việc đánh giá chứng cứ trên
cơ sở
đối chiếu các quy định của pháp luật và chứng cứ khác; phải ghi chép có hệ
thống các sự việc, tình tiết khách quan đã xảy ra, ghi rõ ngày xác lập tài liệu đó,
số bút lục. Để từ đó luật sư sẽ hình thành cho mình một bộ tài liệu riêng bao
gồm
diễn biến quan hệ lao động, diễn biến tranh chấp lao động, yêu cầu của các bên
đương sự, quan điểm của họ và các cá nhân, tổ chức hữu quan về các tình tiết
của sự việc. Luật sư lập kế hoạch thu thập thêm chứng cứ, chuẩn bị lập luận để
phản bác bên kia, tham gia hoà giải khi thấy cần thiết.
2.3 Tham gia phiên toà sơ thẩm
Hết thời hạn chuẩn bị xét xử, toà án ra quyết định mở phiên toà, đến giai
đoạn này luật sư cần phải chuẩn bị phương án bảo vệ quyền lợi cho khách hàng
tại phiên toà, cần phải dự kiến nội dung sẽ hỏi tại phiên toà đối với các đương
sự, người làm chứng và chuẩn bị bản luận cứ bảo vệ cho khách hàng, nghiên cứu
các văn bản pháp luật làm căn cứ để giải quyết vụ việc. Bản luận cứ phải ngẵn
gọn, rõ ràng và tập trung vào những vấn đề chính có lợi cho khách hàng đồng
thời phải có những lập luận sắc đáng phải bác những lập luận của đối phương,
sư. Luật sư cần gửi ngay bản luận cứ cho Hội đồng xét xử ngay sau khi trình bày
xong.
Trong quá trình trình bày, Luật sư nên viện dẫn các chứng cứ viết sẵn, đưa
ra trước Toà các tài liệu chứng minh cho những gì mình đang nói; kết hợp việc
so sánh, phân tích những tình tiết vừa được kiểm tra công khai tại phiên toà,
không nên lệ thuộc quá vào bài luận cứ đã viết sẵn. Do vậy để bài phát biểu có
gây được sự chú ý và thuyết phục được Hội đồng xét xử hay không là phụ thuộc
vào sự linh hoạt của luật sư trước chúng cứ, tình tiết mới được đưa ra xét hỏi tại
phiên toà, áp dụng các quy định của pháp luật một cách chính xác và kịp thời,
kết hợp với xự chuẩn bị một cách tru đáo, bài bản của bản luận cứ trước đó. Tuy
nhiên điều mà luật sư cần tránh là việc dùng những lời lẽ gay gắt hoặc mang tính
xúc phạm đương sự hoặc luật sư của họ, tạo không khí căng thẳng trong phiên
toà.
Luật sư có thể tận dụng tối đa quyền năng của mình trong khuôn khổ pháp
luật cho phép, Luật sư có thể nhờ thư ký để giúp đỡ trong phiên toà hoặc sử
dụng các sơ đồ, bảng biểu, để chứng minh các vấn đề có tính thuyết phục cao
hơn. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện việc này, luật sư cần phải tuân theo sự
điều hành của chủ toạ phiên Toà.
Sau khi Toà án tuyên án, vai trò của luật sư chưa hẳn đã kết thúc. Luật sư
có thể giúp thân chủ xem biên bản phiên toà, trao đổi những vấn đề cần sửa
chữa, bổ sung. Nếu đương sự không đồng ý với bản án của Toà án, luật sư có
thể giúp đương sự thực hiện quyền kháng cáo nếu đương sự có đề nghị.
2.4 Kỹ năng tham gia hoà giải
Hoà giải trong các vụ án đều là rất cần thiết nó không những đảm bảo
quyền lợi cho các đương sự trong vụ án mà còn mang tính nhân văn cao cả,
trong vụ án lao động cũng vậy. Việc hoà giải trong vụ án lao động được tiến
hành hai giai đoạn, trước phiên toà và tại phiên toà. Thời điểm hoà giải cụ thể do
Toà án quyết định. Ngoài ra, trong bất cứ thời điểm nào có khả năng hoà giải
Toà án cũng tạo điều kiện cho các đương sự hoà giải.
Trong trường hợp hoà giải Luật sư có trách nhiệm tư vấn cho khách hàng
phương chấm dứt hợp đồng lao động được đưa ra Toà án giải quyết chủ yếu là
từ phía người lao động, còn người sử dụng lao động thì rất ít. Bởi vì việc đơn
phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động thường ảnh
hưởng rất lớn đến quyền lợi của người lao động. Còn việc người lao động đơn
phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động thì thiệt hại gây ra cho
người sử dụng lao động không lớn và khoản tiền bồi thường cũng không đáng
kể so với chi phí bỏ ra để yêu cầu Toà án giải quyết. Vấn đề này còn do tương
quan giữa người lao động và người sử dụng lao động trên thị trường lao động.
Người lao động thường ở vị thế yếu hơn trong quan hệ lao động.
Trong giai đoạn chuẩn bị khởi kiện, khách hàng chủ yếu của Luật sư là
người lao động. Luật sư cần xác định các yêu cầu của khách hàng xem đó có
thuộc trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hay không, định
hướng và phân tích cho khách hàng những điểm có lợi và bất lợi; nên khởi kiện
hay không, Khi chuẩn bị hồ sơ khởi kiện cho khách hàng ngoài đơn khởi kiện,
cần hướng dẫn khách hàng cung cấp các tài liệu để chứng minh cho yêu cầu của
họ, sau đó hướng dẫn đương sự nộp đơn đến Toà án có thẩm quyền.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, nếu là luật sư của bị đơn. Luật sư giúp bị
đơn chuẩn bị văn bản trả lời thông báo của Toà án. Trong văn bản trả lời trình
bày tóm tắt lại việc tranh chấp, trình bày quan điểm về các yêu cầu của nguyên
đơn (không có cơ sở để chấp nhận hoặc chỉ chấp nhận một phần). Kèm theo văn
bản trả lời, luật sư giúp bị đơn các tài liệu gửi kèm theo để chứng minh cho
những nội dung trong văn bản đó. Phần lớn bị đơn trong các vụ án này là người
sử dụng lao động nên họ phải gửi kèm các tài liệu chứng minh tư cách tổ chức,
hoạt động của đơn vị, văn bản phân cấp quản lý của cơ quan có thẩm quyền, nội
quy lao động, thoả ước lao động tập thể,
Trong quá trình thu thập chứng cứ luật sư hướng dẫn đương sự thu thập các
tài liệu có lợi cho họ. Ví dụ như nguyên đơn tìm các tài liệu chứng minh việc
chấm dứt hợp đồng là trái pháp luật như: sự không vi phạm hợp đồng, không vi
phạm kỉ luật lao động, không có sự báo trước khi chấm dứt hợp đồng lao động,
không có sự đồng ý của công đoàn, Bị đơn thì sẽ phải chứng minh sự vi phạm
sâu các quy định của pháp luật nói chung và pháp luật lao động nói riêng, am
tường các vấn đề xã hội. Việc tham gia tố tụng của Luật sư không những có tác
dụng thiết thực đối với bảo vệ quyền lợi của đưong sự mà còn giúp các cơ quan
tiến hành tố tụng giải quyết vụ án nhanh chóng và công minh. Chính vì lẽ đó
càng có thể khảng định hơn rằng trình độ và kỹ năng chuyên môn là chìa khoá
để Luật sư thực hiện các hoạt động nghề nghiệp của mình. Các kỹ năng này phải
dựa trên cơ sở pháp luật, tiến hành trong khuôn khổ pháp luật.
12
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ luật lao động - Nxb Chính trị Quốc gia, 2003.
2. Bộ luật tố tụng dân sự năm - Nxb Chính trị Quốc gia, 2004.
3. Sổ tay luật sư - Nxb Công an nhân dân, 2004.