KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG VỤ ÁN THỪA KẾ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẼN
_____________________________________________________________________________________________
LỜI MỞ ĐẦU
- Xã hội – kinh tế Việt Nam càng phát triển, khối lượng tài sản thuộc sở hữu
tư nhân có giá trị ngày càng cao và quyền sở hữu cá nhân được luật pháp
công nhận và bảo vệ - vấn đề thừa hưỡng tài sản đó (thừa kế) luôn là một
trong những các vấn đề gây tranh cãi do xung đột quyền lợi giữa các bên
tham gia quan hệ và vấn đề này luôn là đề tài nóng cần tìm hiểu, xử lý khéo
léo vì các quan hệ này có một đặc trưng đó là hầu hết các đối tượng tham gia
quan hệ thừa kế đều có một điểm chung là ít nhiều có quan hệ huyết thống
hoặc nuôi dưỡng.
- Việc phải cân nhắc giữa giá trị vật chất và giá trị đạo đức là một trở ngại lớn
cho các luật sư khi tham gia bảo vệ quyền lợi cho các đối tượng tham gia
quan hệ này khi phát sinh tranh chấp.
- Thực tế không ít trường hợp ông bà, cha mẹ, anh chị em, vợ chồng tranh
giành cãi vả thậm chí xung đột nặng nề khi giành quyền sở hữu một khối
lượng tài sản nào đó mà theo ý chủ quan của cá nhân họ là thuộc về mình,
chỉ có mình mới có quyền thừa kế.
- Với các quy định cụ thể - rõ ràng - chặt chẽ của hệ thống pháp luật Việt
Nam về thừa kế Bộ luật dân sự năm 2005 - Luật Hôn nhân Gia đình năm
2002 ít nhiều cũng đã giải quyết tốt vấn đề này tuy nhiên không ít những
trường hợp phát sinh khiến các cơ quan tham gia giải quyết phải đau đầu do
các quan hệ này khá phức tạp và ít nhiều do nhận thức của người dân về
pháp luật cũng như việc hiểu biết các quy định này còn thấp và một phần do
giá trị đạo đức của người Á Đông theo truyền thống cũng ngăn cản không ít
đến việc giải quyết các vấn đề có liên quan.
- Với tiểu luận này tôi hy vọng có thể tóm tắt và cụ thể hoá được một số vấn
đề chính trong việc áp dụng pháp luật và kĩ năng riêng của cá nhân để giải
quyết các vụ án liên quan đến thừa kế.
_________________________________________________________________________
Đồng thời việc xác định chính xác địa điểm mở thừa kế còn đóng vai trò
quan trọng khi xác định việc từ chối nhận di sản có hợp pháp hay không. Theo quy
định Điều 645 BLDS “ việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản;
_________________________________________________________________________
Trang2
KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG VỤ ÁN THỪA KẾ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẼN
_____________________________________________________________________________________________
Người từ chối phải báo cho những người thừa kế khác, người được giao
nhiệm vụ phân chia di sản, công chứng nhà nước hoặc UBND xã , phường, thị trấn
nơi có địa điểm mở thừa kế ề việc từ chối nhận di sản”.
1.2. Người thừa kế
Để xác định được người thừa kế của người chết vào thời điểm người này
chết, cần phải xác định được là người chết có để lại di chúc hay không. Nếu có di
chúc thì người thừa kế sẽ được xác định theo di chúc. Nếu không có di chúc hoặc
di chúc không hợp pháp hoặc di chúc không phát sinh được hiệu lực pháp luật thì
người thừa kế sẽ được xác định theo quy định của pháp luật. Theo đó người thừa
kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a. Hàng thứ nhất: vơ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi ,me nuôi, con đẻ, con
nuôi của người chết.
b. Hàng thứ hai : ông nội, bà nội, ônng ngọai, bà ngọai, anh ruột,chi ruột,
em ruột của người chết.
c. Hàng thứ ba : cụ nội, cụ ngọai của người chết ; bác ruột, chú ruột, cậu
ruột, cô ruột, dì ruộc của người chết; cháu ruột của người chết là bác ruột,
chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột.
Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
Những người ở hàng thừa kế chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở
hàng thừa kế trước đó đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất
quyền hưởng thừa kế hoặc từ chồi nhận di sản ( Điều 679 ).
quy định tại phần thứ năm của BLDS.
Một thực tế hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về di sản, dẫn đến tình
trạng các vụ án thừa kế phải xét xử lại do xác định di sản không chính xác. Vậy
hiểu thế nào mới chính xác và đầy đủ?
Tại Điều 172 BLDS quy định “ tài sản bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ có
giá trị được bằng tiền và các quyền tài sản ”. Như vậy, quyền tài sản đã nằm trong
khái niệm tài sản. Cho nên cần phải hiểu khái niệm di sản còn bao gồm cả các
quyền tài sản như: quyền đòi bồi thường thiệt hại, quyền đòi nợ, quyền thừa kế giá
trị, quyền sử dụng nhà thuê của nhà nước.
Mặt khác, di sản thừa kế không bao gồm nghĩa vụ của người chết. Do vậy,
trong trường hợp người có tài sản để lại còn có cả nghĩa vụ về tài sản, thì thông
thường phần nghĩa vụ này sẽ được thanh tóan bằng tài sản của người chết. Phần
còn lại sẽ được xác định là di sản thừa kế và được chia theo di chúc hay quy định
của pháp luật. Theo đó, nghĩa vụ của người chết được thực hiện như sau:
Nếu di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế sẽ có trác nhiệm thực hiện
nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại tương ứng với phần tài sản mà mình đã
nhận.
_________________________________________________________________________
Trang4
KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG VỤ ÁN THỪA KẾ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẼN
_____________________________________________________________________________________________
Trong trường hợp di sản chưa được chia, thì nghĩa vụ tài sản do người chết
để lại được người quản lý di sản thực hiện theo đúng thỏa thuận của những người
thừa kế.
Trong trường hợp Nhà nước, cơ quan, tổ chức hưởng di sản theo di chúc, thì
cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá
nhân.
-
_____________________________________________________________________________________________
Người có quyền nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc.
Người chưa đủ 18 tuổii, hoặc đủ 18 tuổi nhưng người đó bị tâm thần hoặc
mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình.
-
1.5. Thời hiệu khởi kiện vụ án thừa kế
Theo qui định tại Điều 648 Bộ Luật Dân Sự : “thời hiệu khởi kiện về quyền
thừa kế là mười năm, kể từ ngày mở thừa kế”. Trong thời hạn này, người thừa kế
có quyền yêu cầu Tòa án chia thừa kế, xác định quyền thừa kế của mình, truất
quyền thừa kế của người khác. Hết thời hạn này, người thừa kế không còn quyền
khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về quyền thừa kế.
Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế sẽ được tính bắt đầu từ thời điểm bắt
đầu của ngày tiếp theo ngày xảy ra sự kiện người để lại di sản chết và do đó, thời
điểm kết thúc là thời điểm kềt thúc ngày tương ứng 10 năm sau. Tuy nhiên phải
hiểu thời điểm mở thừa kế là thời điểm được xác định bằng giờ người để lại di sản
chết, tại thời điểm đó xác định người thừa kế, di sản của người chết,… để bảo vệ
quyền lợi của những người thừa kế.
Như vậy, thừa kế là việc chuyển giao tài sản của một người sau khi người
này chết cho những người khác theo qui định của pháp luật. Việc chuyển giao này
có thể thực hiện theo di chúc, nếu người có tài sản đã lập di chúc trước khi chết.
Trường hợp không có di chúc, di chúc không hợp pháp hoặc di chúc không phát
sinh được hiệu lực pháp luật, thì việc chuyển giao tài sản sẽ thực hiện theo pháp
luật. Trong trường hợp có tranh chấp về tài sản thừa kế thì người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
Qua quá trình phân tích những nội dung cơ bản của chế định thừa kế, chúng
ta có thể nhận thấy các vụ án tranh chấp về thừa kế có những đặc điểm sau:
Thứ nhất: Quan hệ pháp luật về thừa kế là một quan hệ pháp luật mang tính
chất đặc thù. Vì những người tham gia vào quan hệ pháp luật này là những bên có
quan hệ huyết thống gần gũi với nhau như: cha, mẹ, con, anh, em v.v…hoặc quan
hệ hôn nhân như: vợ chồng, và quan hệ nuôi dưỡng như: con nuôi. Chính vì vậy,
chúc không tuân theo quy định của pháp luật ( di chúc miệng không có người làm
chứng, di chúc bằng văn bản lại chưa phù hợp với pháp luật nhiều trường hợp còn
ghi quá sơ sài, không rõ nghĩa, nên để xác định đúng thực chất ý chí của người để
lại di sản cũng khó khăn. Việc nhận con nuôi cũng chỉ đơn thuần xuất phát từ tình
cảm chứ không tuân theo một thủ tục pháp lý nào, nên căn cứ để Tòa án xác định
một người là con nuôi chủ yếu là xác định con nuôi thực tế.
Cho nên, đối với các tranh chấp về thừa kế là luật sư nhất thiết phải nắm
vững các vấn đề sau:
+ Tòa án có thẩm quyền thụ lý
+ Thẩm quyền khởi kiện của khách hàng
+ Thời điểm, địa điểm mở thừa kế.
+ Thời hiệu khởi kiện
+ Đối tượng được quyền hưởng thừa kế
+ Các vấn đề liên quan đến di chúc.
+ Khối di sản hiện tại ra sao.
_________________________________________________________________________
Trang7
KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG VỤ ÁN THỪA KẾ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẼN
_____________________________________________________________________________________________
2. KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
THỪA KẾ
2.1. Kỹ năng của Luật sư trước khi tham gia phiên tòa:
2.1.2. Tiếp xúc với khách hàng:
Khi khách hàng tìm đến yêu cầu luật sư giúp đỡ, luật sư phải chú ý nghe để
chắt lọc vấn đề, trao đổi các thông tin khách hàng cung cấp nhằm làm rõ nội dung
đang có tranh chấp, quan hệ pháp luật của vụ kiện. Từ đó luật sư có thể hiểu được
yêu cầu của khách hàng, xác định khả năng của Luật sư có đáp ứng được yêu cầu
của khách hàng không? Đồng thời luật sư sẽ xác định được thời gian hiệu khởi
KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG VỤ ÁN THỪA KẾ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẼN
_____________________________________________________________________________________________
2.1.2. Chuẩn bị hồ sơ khởi kiện
a. Hướng dẫn đương sự viết đơn khởi kiện
Luật sư phải hướng dẫn khách hàng viết đơn khởi kiện đúng hình thức và
nội dung theo quy định tại Điều 164- BLTTDS.
+ Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện.
+ Tên Tòa án nhận đơn khởi kiện.
+ Họ, tên, tuổi, chổ ở của người khởi kiện và người bị kiện, người có
quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng(nếu có).
+ Nội dung vụ kiện.
+ Thời điểm, địa điểm mở thừa kế.
+ Mối quan hệ huyết thống.
+ Phải đưa ra chính xác, đầy đủ các thông tin liên quan đến khối di sản
đang có tranh chấp và hiện nay khối di sản đó đang do ai quản lý.
+ Nêu rõ yêu cầu của nguyên đơn. Nếu yêu cầu của mình hưởng di sản
bằng hiện vật hoặc bằng tiền cũng phải nêu rõ.
Trong thực tế khi viết đơn khởi kiện, đương sự thường không đảm bảo
quy định về nội dung và hình thức. Cho nên khi tiếp nhận yêu cầu của
khách hàng, luật sư nên trực tiếp viết đơn khởi kiện tránh tình trạng đơn
khởi kiện bị Tòa án trả lại.
b. Chuẩn bị tài liệu, chứng cứ
Những chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ án khách hàng phải tự thu thập
như: bản di chúc, giấy tờ chứng nhận là con nuôi, con đẻ, các tài liệu
chứng minh nguồn gốc di sản v.v…Nhưng Luật sư phải hướng dẫn cho
khách hàng biết chứng cứ nào là quan trọng đối với việc xem xét và giải
quyết vụ án, trên cơ sở đó khách hàng thu thập, sắp xếp theo chỉ dẫn của
luật sư. Đối với những chứng cứ là bản gốc duy nhất luậ sư cần hướng
dẫn các khách hàng photo công chứng lại các bản gốc.
Bước tiếp theo sau khi thu thập được các chứng cứ cần thiết,Luật sư cần
Thứ nhất, Nghiên cứu đơn khởi kiện của nguyên đơn (nếu là Luật sư của bị
đơn) vì đơn khởi kiện của nguyên đơn chứa đựng các yêu cầu của nguyên đơn, đó
là đối tượng xem xét và giải quyết của Tòa án. Kèm theo đơn kiện là hồ sơ khởi
kiện của nguyên đơn, Luật sư cần phải nghiên cứu kỹ tập hồ sơ này. Nghiên cứu
các tài liệu của bị đơn ( nếu là luật sư của nguyên đơn) vì thông thường tài liệu của
phía bị đơn cung cấp có thể bao gồm các tài liệu mà bị đơn dùng để phản bác lại
yêu cầu của nguyên đơn.
Trong trường hợp vụ án có di chúc thì luật sư cần xác định xem di chúc đó
có hợp pháp hay không? Để xác định chia theo di chúc hay chia theo pháp luật.
Xác định ai là người được hưởng quyền thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc.
Có ai bị truất quyền thừa kế không. Xác định di sản thừa kế gồm những gì? Có hợp
pháp hay không? Có thuộc sở hữu chung với ai không?
Thứ hai, Nghiên cứu đến tập tài liệu do Tòa án xác minh, thu thập được.
Đây là một phần rất quan trọng trong tòan bộ hồ sơ vụ án. Thông qua tài liệu này
có thể bổ sung cho các tài liệu của khách hàng. Từ các tài liệu khác nhau nếu biết
kết hợp sẽ giúp luật sư đánh giá chứng cứ của tổng thể vụ án được tốt hơn.
Thứ ba, Luật sư nghiên cứu các lời khai của những người tham gia tố tụng,
kể cả lời khai của thân chủ mình. Việc nghiên cứu các lời khai này giúp Luật sư
tìm ra các lời khai mâu thuẫn nhau để phản bác lại lời khai đó, nhằm khẳng định
hoặc bác bỏ chứng cứ đó.
_________________________________________________________________________
Trang1
0
KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG VỤ ÁN THỪA KẾ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẼN
_____________________________________________________________________________________________
Thứ tư, Nghiên cứu các tài liệu khác có trong hồ sơ, điều đó sẽ giúp luật sư
tìm ra những chứng cứ có lợi cho khách hàng của mình.
Như vậy, Luật sư phải tập trung vào các vấn đề cụ thể sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ
1
KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG VỤ ÁN THỪA KẾ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẼN
_____________________________________________________________________________________________
Tòa án đã triệu tập đầy đủ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa?
Việc triệu tập có hợp pháp không? Nếu chưa thì lý do là gì ? Lý do có chính đáng
không?
Các yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng, hoặc yêu cầu cung cấp thêm
chứng cứ có cần thiết không? Có lợi hay bất lợi cho thân chủ của mình để dự định
phương án bảo vệ. Có trường hợp Tòa án triệu tập thiếu người làm chứng quan
trọng thì Luật sư phải yêu cầu. Hoặc có những chứng cứ mới có lợi cho thân chủ
luật sư cần cung cấp cho tòa án tại phiên tòa.
2.2.2. Kỹ năng hỏi tại phiên tòa:
Trong giai đọan hỏi luật sư phải tập trung để nắm bắt tình hình thực tế, nếu
có vấn đề mới phát sinh thì còn có phương án làm việc hợp lý. Giai đọan này luật
sư có quyền đặt câu hỏi để bảo vệ quyền lợi cho khách hàng của mình bằng cách
thông qua các câu trả lời để khẳng định công khai những vấn đề cần phải làm sáng
tỏ trong vụ án. Luật sư cần ghi chép đầy đủ các lời trình bày của nguyên đơn, bị
đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện của đương sự Qua
những lời trình bày nếu thấy có sự mâu thuẫn hoặc có những tình tiết khác mà
trước đó chưa được thể hiện trong hồ sơ nếu có lợi hoặc bất lợi cho thân chủ của
mình thì luật sư cũng phải lưu ý đến điểm đó để có cách phản bác lại hoặc sử dụng
chúng nhằm bảo vệ quyền lợi cho khách hàng của mình. Thông qua đó luật sư có
thể điều chỉnh bản luận cứ của mình hướng vào việc làm sáng tỏ các quan điểm
của hội đồng xét xử mà luật sư đã dự đóan theo hướng có lợi cho thân chủ của
mình. Trong nhiều trương hợp luật sư đã sử dụng chính những vấn đề ghi chép
được để làm cơ sở phản bác của mình. Khi đặt câu hỏi cần chú ý thật ngắn gọn,
trọng tâm và dễ hiểu dễ trả lời. Tránh tình trạng luật sư vừa hỏi vừa giải thích các
câu hỏi đó, hay lặp lại các câu hỏi mà hội đồng xét xử, hay luât sư đồng nghiệp đã
hỏi.
2.2.3. Kỹ năng tranh luận tại phiên tòa:
Giai đọan này vai trò của luật sư không lớn, kết quả của vụ án phụ thuộc vào
hội đồng xét xử đánh giá chứng cứ như thế nào mà thôi. Nhưng việc luật sư ở lại
nghe quyếtt định của tòa án, sẽ giúp luật sư nắm được nội dung quyết định, đánh
giá quyết định đó có hợp pháp không. Đồng thời luật sư cũng có thể tìm hiểu và
biết được biên bản phiên tòa có chính xác không. Từ đó nếu khách hàng có yêu cầu
luật sư kháng cáo thì luật sư cũng không lúng túng, tạo được uy tín, nhân cách của
người luật sư.
PHẦN II
THỰC TIỄN KHI GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP VỀ THỪA KẾ
I. VẤN ĐỀ XÁC ĐỊNH DI SẢN:
Trên thực tế khi giải quyết các tranh chấp thừa kế, vấn đề xác định di sản do
ngừời chết để lại luôn gặp khó khăn, đôi khi không chính xác ,đầy đủ dẫn đến tình
trạng sau khi vụ án được giải quyết bằng bản án của tòa án thì vẫn liên tíếp nhận
các đơn khiếu nại, phúc thẩm bản án….
Tòa án nhân dân tối cao đã có nhiều văn bản hướng dãn cụ thể về việc xác
định di sản, đặc biệt là tài sản gắn với quyền sử dụng đất chưa được cấp giấy
_________________________________________________________________________
Trang1
3
KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG VỤ ÁN THỪA KẾ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẼN
_____________________________________________________________________________________________
chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật đất đai năm 2003. Nhưng trên thực tế, tòa
án không điều tra đầy đủ để xác định thẩm quyền giải quyết.
Ví dụ vụ tranh chấp sau: Cụ Thiết và cụ Khởi có 3 gian nhà lợp rạ trên diện
tích 145m
2
và 492 m
2
sản có “ giá trị không đáng kể” phải rất thận trọng xem xét trong mối liên hệ với
các di sản khác.
_________________________________________________________________________
Trang1
4
KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG VỤ ÁN THỪA KẾ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẼN
_____________________________________________________________________________________________
Bên cạnh đó, trong một số vụ án tranh chấp về thừa kế có liên quan đến di
sản dùng vào việc thờ cúng đã có một vài trường hợp những người những người
được giao việc thờ cúng, nhưng chỉ sử dụng một phần rất nhỏ nhà đất vào việc thờ
cúng, ví dụ: Nhà thờ lớn dùng làm nhà ở, việc thờ cúng chỉ dành một góc nhà hoặc
ở một nhà khác bé hơn hoặc không thực hiện việc thờ cúng. Nhiều di sản là nhà đất
của ôn cha để lại đã bị cải tạo, thay đổi dùng vào mục đích kinh doanh hoặc bị chia
cắt để bán. Cũng có trường hợp các đương sự chỉ tranh chấp các đồ thờ cúng như :
Hòanh phi, câu đối…thì giải quyết như thế nào? Hiện tại Điều 673 BLDS chưa đề
cập đến các trường hợp nói trên, nên đã có những ý kiến và cách hiểu khác nhau,
dẫn đến sự không thống nhất trong việc giải quyết các tranh chấp này. Cũng có ý
kiến cho rằng tranh chấp này không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, vì
đối tượng tranh chấp không phải là tài sản thuộc di sản thừa kế được quy định ở
Điều 637 và Điều 673 BLDS.
Từ thực tế này cho thấy đây là một lọai tài sản đặc biệt,thuộc di sản thừa kế,
nhưng do BLDS chưa có điều nào quy định ề đồ thờ cúng mà mới đề ập chung đến
vấn đề” Di sản dùng vào việc thờ cúng” ( Kể cả thẩm phán đều tỏ ra lúng túng).
Vậy nên khi sửa đổi, bổ sung BLDS có nên chăng thêm một điều luật quy định về
vấn đề này va phải xác định đây là một lọai việc thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án.
Cho nên trong suốt quá trình tiếp nhận hồ sơ của khách hàng, luật sư phải
theo sát mọi họat động liên quan đến việc giải quyết vụ án đúng pháp luật. Khi có
năm 1993, qua họ hàng và người quen, bà phụng mới biết ông Trung hiện đang
chung sống tại Hòa Bình với bà Thu như vộ chồng. Bà Phụng phản đối quyết liệt
chuyện này. Ông Trung hứa hẹn và xin bà tha thứ. Hơn nữa do hòan cảnh địa
phương nên bà đành thôi. Tháng 12 nam 1997, ông Trung chết đột ngột không để
lại di chúc. Chi phí mai táng hết 7 triệu đồng, Do ông Trung đang sống cùng bà
Thu nên tòan bộ số tiền này bà Thu lo liệu bằng chính tiền phúng viếng đám tang
ông Trung. Sau khi ông Trung mất, bà Phụng yêu cầu bà Thu phải trả lại cho bà
những tài sản của ông Trung, trong đó có căn nhà mà theo bà Phụng ông Trung đã
dùng tiền của vợ chồng bà để mua. Bà Thu thừa nhận căn nhà hiện tại có tranh
chấp đúng là của ông Trung mua, sau đó ông Trung đã đón bà về ở cùng. Nhưng
đồng thời bà Thu cũng thông báo luôn với bà Phụng việc bà đã chung sống với ông
Trung đã có đăng ký kết hôn. Vì vậy theo bà Thu thì bà cũng là vợ hợp pháp của
ông Trung, do vậy cũng có quyền đối với tài sản của ông Trung. Khi biết việc ông
Trung, bà Thu có giấy đăng ký kết hôn, bà Phụng đã khởi kiện để yêu cầu chia
thừa kế của ông Trung. Qua điều tra xác minh của Tòa án được biết, trong thời
gian chung sống ông Trung và bà Thu không có con chung, nhưng hai người có
muôi một người con nuôi tên Từ Tấn Tài sinh năm 1987. Việc nuôi con nuôi được
ông Trung và bà Thu đã làm thủ tục đăng ký nhận con nuôi ở UBND xã. Ngòai ra
ông Trung còn một mẹ già 94 tuổi đang sống với bà Thu tại căn nhà tranh chấp số
61, ấp Tân Xuân, tỉnh Hòa Bình.
Theo tình tiết của vụ án ông Trung chết không có di chúc, nên di sản của
ông Trung sẽ được phân chia theo pháp luật như vậy có hai vấn đề được đạt ra
trong vụ án này. Thứ nhất là việc xác định di sản thừa kế và thứ hai là người thừa
kế theo pháp luật của ông Trung.
Ông Trung và bà Thu sống chung vào khỏang năm 1990 khi ông Trung đã
có vợ hợp pháp là bà Phụng. Căn cứ luật HNGĐ năm 2000 thì quan hệ giữa ông
Trung và bà Thu là quan hệ hôn nhân trái pháp luật (vi phạm điều 8, luật HNGĐ
86, 2000). Vì vậy tài sản của ông Trung không thể chia cho bà Thu theo chế độ tài
sản chung của vợ chông. Và đương nhiên bà Thu không ohải là người thuộc hàng
thừa kế thứ nhất của ông Trung. Do đó việc xác định di sản thừa kế của ông Trung
kế thứ nhất của ông Trung.
Các Tranh chấp về thừa kế rất phức tạp, các vấn đề như: xác định chứng cứ,
di sản hay các đương sự có quyền được hưởng di sản thường khó khăn, đôi khi
người chết có tài sản hay con riêng mà chính các đương sự cũng không biết. Do
đó, Luật sư phải hết sức thận trọng trong việc nhận định các vấn đề, đưa ra quan
điểm bảo vệ. Kho phát hiện các nghi vấn, luật sư phải thu thập chứng cứ để làm rõ,
trên cơ sở đó có kiến nghị với Tòa án nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách
hàng. Tránh tình trạng án xử rồi lại bị hủy gây phiền hà cho thân chủ của mình.
KẾT LUẬN
Có thể nói , kỹ năng tranh tụng của luật sư trong vụ án thừa kế là vấn đề khá
phức tạp. Để có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp một cách tốt nhất cho khách
hàng, luật sư không những phải nắm bắt được kỹ năng nghiệp vụ mà còn đòi hỏi
_________________________________________________________________________
Trang1
7
KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG VỤ ÁN THỪA KẾ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẼN
_____________________________________________________________________________________________
phải luôn trau dồi kiến thức, cập nhật văn bản pháp luật, từ đó mới có cơ sở lý
luận sắc bén để bảo vệ cho thân chủ của mình.
Với tư cách là người trợ giúp pháp lý đắc lực nhất, Luật sư đóng vai trò quan
trọng trong việc bảo vệ công lý, ở đó Luật sư một mặt bảo vệ quyền lợi của thân
chủ thông qua việc tham gia tích cực trong các giai đoạn tố tụng, mặt khác việc
đưa ý kiến hợp lý, hợp tình của Luật sư sẽ tăng thêm niềm tin của các thành viên
Hội đồng xét xử trong việc đưa ra các phán quyết để giải quyết tranh chấp phù hợp
với pháp luật và hợp lẽ công bằng.
Trong vụ việc tranh chấp thừa kế, sự tham gia của Luật sư không chỉ giúp
bảo vệ quyền lợi chính đáng cho thân chủ của mình phù hợp với pháp luật và thuần
phong mỹ tục của dân tộc mà còn từ đó góp phần ổn định và phát triển xã hội.