Luận văn tiến sĩ: Tình hình song ngữ Khmer-Việt tại đồng bằng sông Cửu Long – Một số vấn đề lý thuyết và thực tiễn pot - Pdf 15

8

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_____________________ ĐINH LƯ GIANG TÌNH HÌNH SONG NGỮ KHMER-VIỆT
TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG –
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN
LUẬN ÁN TIẾN SỸ NGỮ VĂN
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2011
9

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_____________________

ĐINH LƯ GIANG
Đinh Lư Giang
11 LỜI CẢM TẠ

Để có thể hoàn thành luận án này, chúng tôi đã nhận được sự hướng dẫn
khoa học, sự giúp đỡ, những trao đổi học thuật và sự động viên của nhiều thầy cô,
đồng nghiệp, cộng tác viên, bạn bè cũng như gia đình.
Trước hết, chúng tôi xin bày tỏ lòng cảm tạ sâu sắc nhất đến GS.TS Bùi
Khánh Thế, người Thầy đã nhiều năm hướng dẫn khoa học, chỉ bảo cho chúng tôi
trong nghiên cứu cũng như trong cuộc sống.
Chúng tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến PGS.TS Đinh Lê Thư và PGS.TS
Võ Công Nguyện đã tạo điều kiện cho chúng tôi được tham gia các công trình khoa
học của các Thầy Cô về các vấn đề giáo dục và dân tộc học Khmer Nam Bộ và qua
đó học hỏi được nhiều điều để tiến hành viết luận án.
Chúng tôi bày tỏ lòng cảm ơn đến hai giáo sư phản biện độc lập GS.TS
Nguyễn Văn Khang và PGS. Đào Thản, đã đọc và góp ý những ý kiến quan trọng
cho bản luận án này.
Cuối cùng, xin bày tỏ lòng biết ơn đến tất cả các Thầy Cô trong hội đồng
đánh giá cấp đơn vị tại trường ĐHKHXH và NV (ĐHQG TP HCM), các thầy cô đã
giảng dạy cho chúng tôi, các bạn bè đồng nghiệp ở Việt Nam và nước ngoài đã
quan tâm, trao đổi khoa học, cung cấp tư liệu. Đặc biệt, nếu không có sự giúp đỡ
của các cộng tác viên và chính quyền các địa phương Trà Vinh, Sóc Trăng, An
Giang mà chúng tôi không thể kể hết được tên ở đây, thì luận án của chúng tôi sẽ
không thể hoàn thành.
h
] kh [k
h
]
p [p] t [t] c [c] k [k] q [
ʔ
]
b [b] d [d] j [ɟ] g [g]
b [
ʔ
b] đ [
ʔ
d]
m [m] n [n] nh [
ɲ
] ng [
ŋ
]
s [s] y [j] h [h]
l [l]
r [r]
2. Một số từ viết tắt
K ý hiệu nguyên âm đôi/nguyên âm
chuyển sắc
ie [i

] ae [
ʌ
]
ua [uʌ]

2. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 9
2. Tính cấp bách, cần thiết, ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 9
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 10
5. Cơ sở lý luận 14
6. Phương pháp nghiên cứu 14
7. Cấu trúc luận án 17

Chương 1: BỐI CẢNH TIẾP XÚC NGÔN NGỮ KHMER-VIỆT Ở ĐỒNG
BẰNG SÔNG CỬU LONG 19
1.1 Ngôn ngữ học tiếp xúc 19
1.1.1 Các định nghĩa và khái niệm 19
1.1.2 Các lĩnh vực nghiên cứu của Ngôn ngữ học tiếp xúc 21
1.1.3 Các hệ quả của tiếp xúc ngôn ngữ 22
1.2 Bối cảnh tiếp xúc ngôn ngữ KV ở ĐBSCL 25
1.2.1 ĐBSCL và cộng đồng dân tộc Khmer 25
1.2.2 Các trường hợp nghiên cứu điển hình 32
1.2.3 Tiếng Việt, tiếng Khmer và sự phát triển quy tụ của các ngôn ngữ Đông
Nam Á 38
1.3 Xác định cảnh huống tiếng Khmer ở ĐBSCL 48
1.3.1 Tiêu chí phân loại 48
1.3.2 Các loại hình cảnh huống ngôn ngữ 49
1.3.3 Loại hình của cảnh huống tiếng Khmer 51
1.4 Tiểu kết chương 53

9

Chương 2: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA CỘNG ĐỒNG SONG NGỮ KHMER-
VIỆT Ở ĐBSCL 55
2.1 Các môi trường song ngữ ở ĐBSCL 55

3.4 Tiểu kết chương 135

Chương 4: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHÍNH SÁCH VÀ GIÁO DỤC SONG NGỮ
KHMER-VIỆT Ở ĐBSCL 137
4.1 Chính sách ngôn ngữ đối với dân tộc Khmer 137
4.1.1 Tình hình nghiên cứu và chính sách ngôn ngữ dân tộc của Việt Nam 137
4.1.2 Chính sách ngôn ngữ cho vùng song ngữ KV 143
4.2 Giáo dục song ngữ KV 156
4.2.1 Một số kiểu loại giáo dục song ngữ 158
4.2.2 Tình hình giáo dục song ngữ KV hiện nay 160
4.2.3 Giáo dục tiếng Việt cho đồng bào Khmer 166
4.2.4 Vài lưu ý về việc học và viết chữ Khmer 169
4.3 Tiểu kết chương 176

KẾT LUẬN 178
THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 185
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN 200
PHỤ LỤC 201 1 PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự cộng cư lâu đời và hoà hợp giữa hai dân tộc Việt và Khmer cũng như sự
tiếp xúc giữa tiếng Việt và tiếng Khmer đã tạo nên tình hình song ngữ KV tại nhiều
khu vực ở ĐBSCL với các kiểu loại người, các vùng song ngữ khác nhau, cũng như
những biến đổi, phát triển của hai ngôn ngữ trong tiếp xúc. Trong chiến lược phát

2. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở một số lý thuyết mới về nghiên cứu song ngữ, cũng như số liệu,
ngữ liệu thu thập được qua thực địa, mục đích nghiên cứu là mô tả các đặc điểm
môi trường, đặc điểm cộng đồng, đặc điểm ngôn ngữ học, qua đó cung cấp một bức
tranh toàn cảnh về tình hình song ngữ KV hiện nay của đồng bào Khmer ĐBSCL.
Bức tranh đó sẽ bao gồm việc mô tả khả năng và việc sử dụng song ngữ của người
Khmer trong giao tiếp, sự hành chức của hai ngôn ngữ trong xã hội, thái độ của
cộng đồng đối với các ngôn ngữ, sự phát triển biến đổi của các ngôn ngữ trong tiếp
xúc và từ đó cung cấp những luận cứ khoa học cho việc hoạch định các chính sách
dân tộc, chính sách giáo dục cho cộng đồng Khmer ở ĐBSCL.
Để thực hiện các mục tiêu trên, nhiệm vụ cụ thể của luận án là: hệ thống hoá
và giới thiệu một cách có chọn lọc các lý thuyết liên quan đến nội dung luận án;
giới thiệu khái quát về ĐBSCL cũng như các địa bàn nghiên cứu; miêu tả và chỉ ra
các đặc điểm của cộng đồng song ngữ KV qua các nghiên cứu trường hợp cả ở góc
độ định tính lẫn định lượng; mô tả và phân tích các hệ quả của quá trình tiếp xúc
ngôn ngữ KV; và, tổng thuật, phân tích, đánh giá cũng như gợi ý những chính sách
ngôn ngữ, chính sách giáo dục song ngữ và giáo dục ngôn ngữ cho người Khmer
vùng song ngữ.
3. Tính cấp bách, cần thiết, ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Hiện nay, tình hình song ngữ KV ở ĐBSCL tương đối đa dạng và phức tạp.
Một bộ phận người Khmer vẫn còn chưa thông thạo tiếng Việt - ngôn ngữ giao tiếp
chung - và cả tiếng Khmer. Đặc biệt tỷ lệ mù chữ Khmer còn khá cao. Vấn đề song
ngữ này ít nhiều cản trở cho giao tiếp, và một cách gián tiếp ảnh hưởng đến nhu cầu
phát triển kinh tế xã hội của dân tộc Khmer nói riêng và của địa phương nói chung.
3 Nếu không kịp thời nghiên cứu, mô tả và từ đó đưa ra những gợi ý về mặt chính
sách, thì những bất cập, những khuynh hướng biến đổi tiêu cực, sẽ làm chậm lại sự
phát triển.

4 5. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ở Việt Nam, nghiên cứu ngôn ngữ dân tộc thiểu số đã được quan tâm và
nghiên cứu từ rất sớm. Cuốn “Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt
Nam từ những năm 90” của Viện Thông tin Khoa học Xã hội (Trung tâm KHXH &
NV Quốc gia) đã liệt kê thư mục nghiên cứu về ngôn ngữ dân tộc (từ trang 172 đến
trang 210) từ những năm 1990 cho đến 2002, trong đó có 58 công trình (sách, bài
viết) về vấn đề chung và 235 công trình về các ngôn ngữ dân tộc khác nhau. Từ đó
đến nay, hàng chục cuốn sách, luận văn, luận án, bài nghiên cứu v.v. đã được thực
hiện. Tình hình đó cho thấy nghiên cứu ngôn ngữ dân tộc ở Việt Nam có một bề
dày đáng tự hào. Từ thời điểm cuối những năm 90, đầu những năm 2000, Bùi
Khánh Thế đã cung cấp một cái nhìn tổng thể về những đóng góp này:
“Hàng trăm khoá luận tốt nghiệp đại học cả ở phía Bắc lẫn ở phía
Nam, trong nước và ngoài nước khai thác đề tài từ những ngôn ngữ dân tộc
Việt Nam và con số luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ trong lĩnh vực này lên
đến con số vài chục. Có thể dẫn ra đây một số tác giả Việt Nam và ngoại
quốc có công trình nghiên cứu về các ngôn ngữ dân tộc ở Việt Nam. Đó là
Hoàng Tuệ, Nguyễn Văn Tài (về dân tộc Mường), Nguyễn Văn Lợi (về tộc
Mèo/Hmông), Trần Trí Dõi (về tộc Chứt), Đoàn Văn Phúc (về tộc Êđê),
Hoàng Văn Ma (về tộc La ha), Tạ Văn Thông (về tộc Kơ ho), Hoàng Văn An
(về tộc Tày), Phạm Đức Dương, Bùi Khánh Thế, Vương Hữu Lễ, Nguyễn
Phú Phong, Nguyễn Bạt Tụy, Phạm Hữu Lai … Trong số các nhà nhà khoa
học nước ngoài viết về ngôn ngữ dân tộc Việt Nam ta thường gặp trên sách
báo tên các tác giả Haudricourt A.G Ferlus M., Martini F., Piat M., Savina
F.M., Aumonier E.F., Cabaton A., Adams K.L., Diffloth G., Banker J.E.,
Blood David và Dorothy, Edmonson J.A., Gregerson K.J., Miller J.D. và
V.G., Fuller E., Friberg T. và V., Pittman R.S., Watson L., Solnsev V.M.,
Solseva N.V., Alieva N.F., Efimov A.J., Sokolovskaja N.K., Pogibenko T.T.,

của các nhà dân tộc học như Lê Hương ([54]) (nghiên cứu từ vay mượn Khmer),
Nguyễn Đình Đầu, Lê Trung Hoa ([42], [43]) (nghiên cứu về địa danh và nhân
danh) …, Trần Thanh Pôn (trong [100]) (nghiên cứu về giáo dục tiếng Khmer),
ngoài các công trình ngôn ngữ học của Phan Ngọc ([77]), Thái Văn Chải ([9])
Nguyễn Văn Chiến ([12]), Mai Ngọc Chừ ([13]), Vũ Đức Nghiệu ([76]), Ch. Bauer
6 ([3]), Cl. Gotze-Sam ([35]), Nguyễn Văn Lợi và Nguyễn Thị Huệ ([67]) về các đặc
điểm khác nhau của tiếng Khmer… thì những nghiên cứu về đặc điểm của tiếng
Khmer Nam Bộ hay từ điển Khmer – Việt, Việt - Khmer phần lớn được các nhà
giáo, nhà giáo dục học người Khmer nghiên cứu với mục đích sư phạm, như Lâm
Es, Trần Chinh, Lâm Sai, Lâm Khu, Châu Ngọc Phước, Thái Chợt, Trần The, Ngô
Chân Lý, Trịnh Thới Cang, Sơn Song Sơn… biên soạn. Việc nghiên cứu về tiếng
Khmer Nam Bộ còn được một số các khoá sinh viên thuộc khoa Văn hóa học (Đại
học Trà Vinh), khoa Ngữ văn và Báo chí (trước đây) và khoa Văn học và Ngôn ngữ
(bây giờ) (ĐHKHXH và NV – ĐHQG TP Hồ Chí Minh), Trung tâm nghiên cứu
giáo dục (ĐHSP TP HCM)… thực hiện dưới hình thức khoá luận tốt nghiệp hay báo
cáo thực tập, báo cáo khoa học.
Riêng việc nghiên cứu vấn đề song ngữ KV có thể nói là còn chưa nhiều.
Song ngữ KV chủ yếu được đề cập sơ lược trong các cuốn địa chí, trong phần mở
đầu của các nghiên cứu xã hội học, nhân học, lịch sử về ĐBSCL và về cộng đồng
Khmer. Năm 2003, luận văn thạc sĩ của chúng tôi đã được thực hiện về tình hình
song ngữ KV tại ấp Trà Sết, thuộc xã Vĩnh Hải, huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng
trong hoàn cảnh ít tài liệu tham khảo. Gần đây hơn, một vài nghiên cứu của Bùi
Khánh Thế, Đinh Lê Thư, Nguyễn Văn Lợi, Nguyễn Văn Huệ, Nguyễn Công Đức,
Nguyễn Thị Huệ, Trần Thanh Pôn, Phan Trần Công, Nguyễn Chí Tân … đã bắt đầu
cung cấp những tư liệu ở các góc độ từ chính sách ngôn ngữ, đến giáo dục song ngữ,
đến các vấn đề cấu trúc ngôn ngữ. Luận án đang hoàn thành của Nguyễn Thị Huệ
do GS.TS Nguyễn Văn Lợi hướng dẫn là tư liệu gần nhất với luận án của chúng tôi,

thực hành ngôn ngữ (practice-oriented approach) nhằm mô tả những tương đồng và
khác biệt giữa các ngôn ngữ ([157]). Lý thuyết này được sử dụng trong luận án khi
khảo sát những khác biệt giữa hai ngôn ngữ KV trong các hiện tượng hòa mã,
chuyển mã, chuyển di và giao thoa, vay mượn và sao phỏng.
7. Phương pháp nghiên cứu
Về mặt phương pháp, luận án có sự kết hợp giữa định lượng và định tính,
trên cơ sở các giáo trình về phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội ([63]; [110]).
Sự kết hợp này được mô tả chi tiết trong công trình của Robert Murray Thomas
([180]). Ngoài ra, phương pháp nghiên cứu còn có sự tham khảo các bài giảng về
8 nghiên cứu định lượng và định tính của PGS.TS Phan Thị Yến Tuyết, và TS. Phan
Ngọc Lan (trong chương trình Cao học Việt Nam học, năm 2010).
7.1 Hướng tiếp cận định lượng
Ở hướng định lượng, dữ liệu được thu thập qua phương pháp thống kê xã hội
học như là phương pháp chủ đạo. Phương pháp này lấy cơ sở trên việc chọn mẫu
phân tầng, sử dụng bảng hỏi tổng hợp và việc xử lý số liệu bằng phần mềm MS
Excel và SPSS.
Chọn mẫu: Mẫu được chọn theo từng phân tầng, với tỷ lệ lấy từ cơ cấu toàn
ĐBSCL (trên cơ sở Niên giám thống kê năm 2007
4
của 3 tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng
và An Giang). Cách chọn mẫu theo phương pháp phân tầng này có thể nói là phù
hợp với tính chất và quy mô nghiên cứu, cũng như số lượng đối tượng nghiên cứu.
Do các mẫu được chọn trên cơ sở phần trăm các tiêu chí, nghĩa là tập hợp mẫu phản
ánh cấu trúc của toàn bộ đối tượng nghiên cứu, nên kết quả nghiên cứu thu được về
mặt lý thuyết mới có thể khái quát được cho toàn bộ đối tượng nghiên cứu. Tuy vậy,
chúng tôi vẫn nhấn mạnh đến tính chất tương đối của nghiên cứu định lượng, do số
lượng mẫu là ít so với tập hợp đối tượng nghiên cứu. Ba phân tầng được sắp xếp

sẽ được đề cập chi tiết hơn ở chương 1 của luận án. Bảng hỏi phỏng vấn 300 mẫu
có thể thấy ở Phụ lục 3a.
7.2 Hướng tiếp cận định tính
Nghiên cứu ngôn ngữ học điền dã: Phương pháp này thường được sử dụng
trong nghiên cứu thực địa, nhất là nghiên cứu ngôn ngữ dân tộc. Nó bao gồm việc
quan sát tham dự, phỏng vấn sâu, thu âm ngữ liệu, quan sát các tình huống giao tiếp,
chụp và sao lưu tài liệu để tiến hành phân tích. Phương pháp này được sử dụng
trong luận án để đi sâu vào chi tiết và kiểm chứng, mô tả thêm về kết quả định
lượng.
Nghiên cứu tư liệu: Phương pháp này được sử dụng trong việc tham khảo
các công trình nghiên cứu l ý thuyết và thực tiễn trước đó về tiếng Việt, tiếng Khmer
cũng như song ngữ nói chung. Phần lớn chương 4 của luận án sử dụng phương pháp
này.
Nghiên cứu hồi cố (lịch sử lời kể): Phương pháp này được sử dụng ở các
cuộc phỏng vấn sâu nhằm tìm lại những thông tin trong quá khứ. Đặc biệt, phương
10 pháp này được chúng tôi sử dụng trong việc mô tả sự khác biệt của tình hình sử
dụng cũng như khả năng song ngữ của người Khmer trong hiện tại và trong quá khứ,
trong khảo sát sự biến đổi ngôn ngữ, cũng như những nghiên cứu về song ngữ KV
trước 1975.
7.3 Các phần mềm xử lý thông tin. Luận án cũng sử dụng một số phần mềm để xử
lý các dạng thông tin, ngữ liệu, số liệu khác nhau:
Phần mềm xử lý ngữ âm Praat: PRAAT (Tiếng Hà Lan nghĩa là "NÓI") được
sử dụng trong luận án để phân tích các mẫu âm thu được khi nghiên cứu về giao
thoa ngôn ngữ và lỗi phát âm của người Khmer song ngữ.
Speech Tools: Speech Tools là bộ các ứng dụng do Hội ngữ học Mùa hè phát
triển, được sử dụng để tìm ra sự biến đổi thanh điệu, sự khác biệt phương ngữ giữa
các phương ngữ Khmer Nam Bộ và một số dấu hiệu đơn tiết hoá.

Việt và của học sinh dân tộc Khmer viết tiếng Việt.
Chương 4: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHÍNH SÁCH VÀ GIÁO DỤC SONG NGỮ
KHMER-VIỆT Ở ĐBSCL. Vấn đề thực tiễn được rút ra trên cơ sở kết quả nghiên
cứu của luận án, bao gồm những đề xuất thực tiễn cho chính sách ngôn ngữ, chính
sách giáo dục song ngữ và một số giải pháp cho việc dạy và học tiếng Việt và tiếng
Khmer.
Cuối cùng là phần kết luận, thư mục tham khảo và hơn 10 phụ lục minh hoạ
thêm cho nội dung của luận án.
12 Chương 1: BỐI CẢNH TIẾP XÚC NGÔN NGỮ
KHMER-VIỆT Ở ĐBSCL
Ở Đông Nam Á và ở Việt Nam, lịch sử tiếp xúc giữa các ngôn ngữ đã được
quan tâm nghiên cứu, bởi quá trình này là tác nhân quan trọng của sự biến đổi của
các ngôn ngữ trong khu vực, trong đó có tiếng Việt và tiếng Khmer. Từ những cơ
sở lý thuyết về ngôn ngữ học tiếp xúc, chương này sẽ giới thiệu bối cảnh nơi sự tiếp
xúc giữa tiếng Việt và tiếng Khmer diễn ra.
1.2 Ngôn ngữ học tiếp xúc
1.2.1 Các định nghĩa và khái niệm
Tiếp xúc ngôn ngữ, ở góc độ nhân học văn hóa, được xem là một bộ phận
của quá trình tiếp biến văn hoá (acculturation). Việc nghiên cứu vấn đề này là
nhiệm vụ của Ngôn ngữ học tiếp xúc (Contact Linguistics), và các cơ sở lý thuyết
đúc kết được đã xây dựng nên lý thuyết Tiếp xúc ngôn ngữ (Theory of Language
Contact). Lịch sử nghiên cứu tiếp xúc ngôn ngữ đã được Winford D. ([184]) mô tả
một cách chi tiết
5
, trong đó cho thấy công trình xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX của H.
Schuchardt (1842-1927) về “sự pha trộn ngôn ngữ” là nghiên cứu tiên phong (theo
Bùi Khánh Thế, trong [112], tr.11). Sau đó, các tác giả Boudouin de Courtenay

vững chắc ở Việt Nam, cho dù những nghiên cứu theo hướng này đến nay vẫn chưa
nhiều.
Để tìm hiểu về vấn đề tiếp xúc ngôn ngữ, có lẽ cần phải điểm qua một số
định nghĩa cơ bản. Theo từ điển International Encyclopedia of Linguistics (quyển 4,
tr. 310) thì tiếp xúc ngôn ngữ là:
“cảnh huống kề cận nhau về mặt địa lý và về mặt xã hội của các ngôn ngữ
hoặc phương ngữ, mức độ song ngữ dần xuất hiện trong phạm vi cộng đồng,
và do vậy các ngôn ngữ bắt đầu ảnh hưởng với nhau (như vay mượn từ hoặc
thay đổi trong cách phát âm.”
Từ điển Bách khoa Toàn thư thuộc Viện Từ điển học và Bách khoa thư (Việt
Nam) định nghĩa tiếp xúc ngôn ngữ là:
“quá trình ảnh hưởng, thâm nhập, thậm chí thay thế lẫn nhau giữa các ngôn
ngữ, do trong các điều kiện lịch sử, xã hội nhất định, các chủ nhân của
những ngôn ngữ này bằng nhiều hình thức, trạng huống khác nhau đã tiến
hành việc giao tiếp bằng lời với nhau. Tiếp xúc ngôn ngữ là hiện tượng phổ
biến đối với toàn bộ ngôn ngữ nhân loại và là một tác nhân khá quan trọng
làm cho từng ngôn ngữ biến đổi và phát triển. Các hiện tượng ngôn ngữ
thường gặp khi nảy sinh tiếp xúc ngôn ngữ: vay mượn, sao phỏng, giao thoa,
hoà trộn, lai tạp hoặc thay thế hoàn toàn.”
12

Bùi Khánh Thế ([112], tr.13) cũng dẫn ra hai định nghĩa về tiếp xúc ngôn
ngữ, trong đó, theo O.S. Akhmanova (1966) , tiếp xúc ngôn ngữ là:
“sự tiếp hợp nhau giữa hai ngôn ngữ do những điều kiện cận kề về mặt địa
lý, sự tương cận về mặt lịch sử, xã hội dẫn đến nhu cầu của các cộng đồng
người vốn có những thứ tiếng khác nhau phải giao tiếp với nhau.”
14 còn từ điển Bách khoa về ngôn ngữ học (tiếng Nga do V.N. Jarceva chủ biên, 1990

- Sự duy trì ngôn ngữ nghiên cứu về các vấn đề vay mượn từ vựng, phổ biến
cấu trúc hay vay mượn cú pháp, sự chuyển di và giao thoa v.v.
- Sự biến đổi ngôn ngữ nghiên cứu về sự phát triển quy tụ và khuếch tán, sự
chuyển mã, sự hoà mã v.v.
- Sự tạo mới ngôn ngữ nghiên cứu về các ngôn ngữ pha trộn, sự thụ đắc ngôn
ngữ thứ hai, sự bào mòn ngôn ngữ, sự diệt vong của một ngôn ngữ, hiện
tượng bồi hoá ngôn ngữ (pidginization), sự nảy sinh créole.
Nghiên cứu hoạch định. Hướng nghiên cứu này quan tâm đến các vấn đề vĩ
mô như kế hoạch hoá ngôn ngữ, lập pháp ngôn ngữ, ngôn ngữ và chính trị, ngôn
ngữ và bản sắc văn hoá xã hội, duy trì bảo vệ các ngôn ngữ nguy cấp, phát triển,
hiện đại hoá, trí tuệ hoá các ngôn ngữ giao tiếp v.v và v.v.
1.1.3 Các hệ quả của tiếp xúc ngôn ngữ
Có rất nhiều hệ quả trực tiếp và gián tiếp của quá trình tiếp xúc, tuy nhiên, ba
trong số các hệ quả có thể nói là trực tiếp và có tính chất quy luật là sự phát triển
quy tụ, sự giao thoa ngôn ngữ và song ngữ. (Rozentzzveig V. 1972, trích theo [112],
tr. 14; [94], [104]).
1.1.3.1 Phát triển quy tụ (convergence)
Khi tiếp xúc với một cường độ và thời gian nhất định, hai ngôn ngữ sẽ có
những biến đổi theo xu thế giống nhau và làm cho một số đặc điểm của chúng gần
nhau hơn. Hiện tượng này được gọi là sự phát triển quy tụ (hay hội tụ). Khái niệm
này luôn gắn liền với khái niệm khu vực ngôn ngữ (linguistic area) hay liên minh
ngôn ngữ (sprachbund). Liên minh ngôn ngữ thường là một khu vực gồm những
ngôn ngữ cận kề về địa lý, có thể có hoặc không có quan hệ về nguồn gốc với nhau
([141]). Vùng ngôn ngữ gồm các tiếng Trung Quốc, Việt, Hàn, Nhật, hay vùng
ngôn ngữ Đông Nam Á là các thí dụ về một liên minh ngôn ngữ trong đó các ngôn
ngữ có khuynh hướng phát triển xích lại gần nhau và tham gia vào cùng một
khuynh hướng phát triển. Giữa tiếng Thái, tiếng Việt và một số ngôn ngữ trong khu
vực Đông Nam Á, sự phát triển hội tụ trong liên minh ngôn ngữ này chính là sự
hình thành thanh điệu và đơn tiết hoá.
16

gần như vậy. Song ngữ là kết quả trực tiếp, cơ bản và rõ rệt nhất của sự tiếp xúc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status