Ô nhiễm đất đồng bằng sông Cửu Long
Lời nói đầu
Ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm đất nói riêng là những vấn đề cấp bách
hiện nay, trong đó ô nhiễm đất ở đồng bằng sông Cửu Long là một ví dụ cụ thể. Để
có thể giải quyết, xây dựng được những biện pháp ngăn ngừa và khắc phục đòi hỏi
thời gian và nhân lực, công nghệ. Dưới góc độ là sinh viên năm thứ ba ngành quản
lý môi trường, nhóm III lớp DH06QM đã tiến hành nghiên cứu và tìm ra những
nguyên nhân chủ yếu cũng như hiện trạng môi trường đất đồng bằng sông Cửu
Long và đề xuất những biện pháp hữu hiệu nhằm cải thiện, nâng cao chất lượng
môi trường của vùng đồng bằng. Nhóm chú trọng tới hiện trạng môi trường của
vùng và cố gắng phân tích, trình bày, trong quá trình thực hiện có sử dụng giáo
trình và các tài liệu tham khảo của các chuyên gia trong lĩnh vực môi trường và lĩnh
vực khác. Quá trình thực hiện đề tài không thể tránh khỏi thiếu sót, rất mong được
sự góp ý của giảng viên môn học.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 10/10/2008
Nhóm III –Lớp DH06QM
Nhóm III lớp DH06QM Page 1
Ô nhiễm đất đồng bằng sông Cửu Long
CHƯƠNG I: MỞ ĐẦU
I. Đặt vấn đề:
Các nhà khoa học môi trường thế giới đã cảnh báo rằng: cùng với ô nhiễm nguồn nước,
ô nhiễm không khí thì ô nhiễm đất đai cũng là vấn đề đáng báo động hiện nay, đặc biệt
trong việc sử dụng nông dược và phân hoá học. Ô nhiễm đất không những ảnh hưởng
xấu tới sản xuất nông nghiệp và chất lượng nông sản, mà còn thông qua lương thực, rau
quả... ảnh hưởng gián tiếp tới sức khoẻ con người và động vật.
Đất, nước và không khí là những điều kiện cơ bản cho sự sinh tồn của con người,
những hiệu ứng phụ của khoa học công nghệ hiện đại đã hạn chế lớn tới sự phát triển
lành mạnh của xã hội loài người, nếu chúng ta không có biện pháp từ hôm nay, chúng ta
sẽ bị ảnh hưởng lớn trên những mảnh đất ô nhiễm ấy.
Trong tự nhiên, môi trường đất có vai trò như một hệ sinh thái hoàn chỉnh. Nhưng hiện
tại, môi trường đất ở đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và cả nước nói chung đang bị
Khí hậu, địa hình, đặc biệt là trị số nhiệt ẩm, ảnh hưởng lớn đến sự hình thành
đất, tác động tới sinh vật và sự phá hủy của đá. Còn địa hình đóng vai trò tái
phân phối lại những năng lượng mà thiên nhiên cung cấp cho mặt đất. Cùng ở
một nhiệt độ nghĩa là được một lượng nhiệt mặt trời cho như nhau nhưng ở địa
hình cao thì lạnh và ở địa hình gần với mặt đất thì nóng..
Thời gian: thời gian là một yếu tố đặc biệt. Mọi yếu tố ngoại cảnh tác động, mọi
quá trình diễn ra trong đất đều đòi hỏi một thời gian nhất định.
Con người: vai trò của con người khác hẳn các yếu tố kể trên. Qua hoạt động
sống, nhờ các thành tựu khoa học kỹ thuật mà con người tác động vào thiên
nhiên và đất đai một cách mạnh mẽ. Tác động này có thể là tích cực, phù hợp
với quy luật tự nhiên, đem lại lợi ích cho con người như tưới nước, thủy lợi, tiêu
nước hay bón phân cải tạo đất xấu và trồng rừng cho vùng đồi trọc. Hoặc tiêu
cực như làm ô nhiễm đất bởi các chất độc hóa học, phá rừng gây xói mòn đất…
Nhóm III lớp DH06QM Page 3
Ô nhiễm đất đồng bằng sông Cửu Long
II.1.2. Thành phần và cấu trúc, tính chất đất:
Các loại đất dao động trong khoảng rộng về thành phần và cấu trúc theo từng khu
vực. Các thành phần khoáng chất và các chất hữu cơ xác định cấu trúc, các tính chất
khác của đất.
Các thành phần chính của đất là chất khoáng, nước, không khí, chất mùn và các loại
sinh vật từ vi sinh vật cho tới côn trùng, giun đất….Thành phần khoáng của đất bao
gồm ba loại chính là khoáng vô cơ, khoáng hữu cơ và chất hữu cơ.
Khoáng vô cơ là các khoáng vật hoặc đá vỡ vụn đã, đang bị phân hủy thành các
khoáng vật thứ sinh.
Khoáng hữu cơ chủ yếu là muối humat do chất hữu cơ sau khi phân hủy tạo
thành.
Chất hữu cơ là xác của động thực vật bị phân hủy do các vi sinh vật có trong đất.
Ngoài ba thành phần chính trên, trong đất còn có nước, không khí, các sinh vật, hạt
keo đất tác động tương hỗ với nhau tạo thành một hệ thống tương tác các vòng tuần
hoàn của các nguyên tố dinh dưỡng như Nitơ, Photpho…
Đất phi nông nghiệp 3309,1 1390,5
Đất ở 611,9 606
Đất chuyên dùng 1433,5 509,4
Đất tôn giáo, tín ngưỡng 12,9 12,7
Đất nghĩa trang, nghĩa địa 97,2 81,8
Nhóm III lớp DH06QM Page 5
Ô nhiễm đất đồng bằng sông Cửu Long
Đất sông suối và mặt nước 1150,3 177,9
Đất phi nông nghiệp khác 3,4 2,8
Đất chưa sử dụng 5116 1110,5
Bảng 1. Hiện trạng đất ở Việt Nam năm 2007
(Nguồn: Tổng cục thống kê, 01/01/2007)
Đất ở Việt Nam rất đa dạng về loại và phong phú về khả năng sử dụng, bao gồm 31
loại và 13 nhóm. Riêng ở khu vực miền núi với diện tích gần 25 triệu ha đã có 6 nhóm
và 13 loại đất. Phụ thuộc vào địa hình và điều kiện tự nhiên cụ thể của từng vùng, miền
mà đất có tại đó có những đặc điểm riêng biệt.
II.2.2. Phân loại và đặc điểm của từng loại đất:
Tùy vào từng vùng, từng khu vực mà có những loại đất khác nhau.
Nhóm đất mùn thô trên núi cao: Trên đỉnh các dãy núi cao, khí hậu lạnh có tính
chất của mùa đông ôn đới, các quá trình biến đổi sinh học diễn ra chậm, chất hữu
cơ không phân phủy triệt để nên đã hình thành nhóm đất mùn trên núi cao. Đất
này có tầng mỏng lẫn nhiều đá vụn nguyên sinh, trên bề mặt chỉ là một lớp bùn
thô thường có màu đen hoặc màu xám. Nhóm đất này cần được sử dụng để phát
triển rừng, tạo nguồn sinh thùy tốt cho những vùng đất thấp.
Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi: Từ độ cao 2000m trở xuống đến 900m là
nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi. Với điều kiện khí hậu lạnh giá, lại ở địa hình
cao, dốc, nên nơi nào không còn rừng, đất thường bị xói mòn mạnh. Loại đất này
có phản ứng chua vừa đến chua ít, lượng mùn khá nhưng nghèo lân tổng số và
dễ tiêu.
Nhóm đất đỏ vàng – feralít: Từ độ cao 900m đến vùng thấp 25m là nhóm đất
trình phong hoá tại chỗ của trầm tích biển cũ hoặc trên đá mẹ giàu silíc (cát kết,
liparít, granít,...) và bị cuốn trôi từ sản phẩm phong hoá của các vùng núi lân cận,
mà ở miền Trung là dãy Trường Sơn.
Nhóm III lớp DH06QM Page 7
Ô nhiễm đất đồng bằng sông Cửu Long
Đánh giá chung về tài nguyên đất Việt Nam thấy rằng, đất Việt Nam phong phú và
đa dạng. Do ở trong vùng nhiệt đới ẩm gió mùa nên đất trồng được nhiều loại cây, một
số nơi có thể trồng thêm nhiều vụ. Cũng do khí hậu nhiệt đới ẩm mà đất dễ bị xói mòn,
mùn trong đất dễ bị khoáng hóa, các chất dinh dưỡng dễ bị hòa tan và rửa trôi nhanh
nên đất thoái hóa nhanh, khiến cho đất xấu nhiều hơn đất tốt.
Tài nguyên đất Việt Nam (đất rừng và đất nông nghiệp) là rất có hạn, vì vậy những
năm gần đây vấn đề khai thác sử dụng cải tạo và bảo vệ đất đã trở thành vấn đề quan
tâm lớn, vấn đề chiến lược trong hoàn cảnh thế giới thiếu hụt về lương thực và sự gia
tăng dân số nhanh chóng như hiện nay. Do quá trình đô thị hóa và sự phát triển của nền
kinh tế thị trường, những vùng đất màu mỡ và tốt nhất trở thành nơi có mật độ dân số
cao và tốc độ xây dựng nhà ở lớn, kéo theo đó là những vấn đề nan giải cho bài toán
phát triển cân đối giữa kinh tế - xã hội và môi trường.
II.3.Tổng quan đồng bằng sông Cửu Long:
II.3.1. Lịch sử hình thành đồng bằng:
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) được tạo ra bởi phù sa sông Cửu Long ít nhất
là từ 6000 năm trước đây. Con người định cư ở đồng bằng sông Cửu Long từ lâu đời,
bắt đầu được biết đến từ thời Phù Nam cách đây khoảng hai ngàn năm qua di chỉ Óc Eo
ở Long Xuyên và Kiên Giang. Từ những năm đầu khẩn hoang, khai thác ĐBSCL, lưu
dân đã biến đất rừng thiên nhiên giữa các sông rạch thành đất định cư và canh tác. Với
vùng đất phì nhiêu, màu mỡ ở đây, đân số lần lần tăng nhanh kéo theo sự nới rộng đất
ruộng canh tác. Dân phát triển định cư lấn rừng tràm, vùng nước ngập (wetlands).
Trong lịch sử phát triển thì đa số thành phố gần sông và từ đó đến nay phát triển ra các
vùng khác còn hoang sơ.
Vào những năm cuối thế kỷ 19, miền Nam còn nhiều rừng rậm, dân cư vẫn còn
thưa thớt. Các thú vật như hổ, bò tót, nai... còn nhiều và hiện diện từ Đồng Nai, Gia
nhiều vật liệu sinh phèn.
Mực nước biển dâng cao, bao phủ cả vùng như thế hầu như hơi không ổn định và
bắt đầu có sự giảm xuống cách đây vào khoảng 5.000 năm. Sự hạ thấp mực nước biển
dẫn đến việc hình thành một mực nước biển mới, sau mỗi giai đoạn như thế thì có một
bờ biển mới được hình thành, và cuối cùng hình thành nên những vạt cồn cát chạy song
song với bờ biển hiện tại mà người ta thấy ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Một cồn
Nhóm III lớp DH06QM Page 9
Ô nhiễm đất đồng bằng sông Cửu Long
cát chia cắt vùng Đồng Tháp Mười và vùng trầm tích phù sa được xác định bằng C
14
cho thấy có tuổi tuyệt đối vào khoảng 4.500 năm.
Sự hạ dần của mực nước kèm theo những thay đổi về môi trường trong vùng đầm
lầy biển, mà ở đây những thực vật chịu mặn mọc dầy đặc được thay thế bởi những loài
thực vật khác của môi trường nước ngọt như tràm và những loài thực thực vật hoang
dại khác . Sự ổn định của mực nước biển dẫn đến một sự bồi lắng trầm tích ven biển
khá nhanh với vật liệu sinh phèn thấp hơn.
Sự tham gia của sông Cửu Long đóng vai trò rất quan trọng trong suốt quá trình
hình thành vùng châu thổ. Lượng nước trung bình hàng năm của sông này cung cấp vào
khoảng 4.000 tỷ m³ nước và vào khoảng 100 triệu tấn vật liệu phù sa, những mảnh vỡ
bị bào mòn từ lưu vực sông, mặc dù một phần có thể dừng lại tạm thời dọc theo hướng
chảy, cuối cùng được mang đến cửa sông và được lắng tụ như một châu thổ. Những vật
liệu sông được lắng tụ dọc theo sông để hình thành những đê tự nhiên có chiều cao 3–4
m, và một phần của những vật liệu phù sa phủ lên trên những trầm tích pyrit thời kỳ
Holocen với sự biến thiên khá rộng về độ dầy tầng đất vùng và không gian vùng. Các
con sông nằm được chia cắt với trầm tích đê phù sa nhưng những vùng rộng lớn mang
vật liệu trầm tích biển chứa phèn tiềm tàng vẫn còn lộ ra trong vùng đầm lầy biển.
Tuy nhiên, độ chua tiềm tàng không xuất hiện trong vùng phụ cận của những nhánh
sông gần cửa sông mà tại đây ảnh hưởng rửa bởi thủy triều khá mạnh. Ngược lại, vùng
châu thổ sông Sài Gòn, nằm kế bên hạ lưu châu thổ sông Mekong, được biểu thị bởi
một tốc độ bồi lắng ven biển khá chậm do lượng vật liệu phù du trong nước sông khá
nguồn cung cấp nước mặt duy nhất. Mùa mưa, lượng mưa trung bình hàng năm dao
động từ 2400mm ở phía tây đồng bằng đến 1300mm tại vùng đồng bằng trung tâm và
khoảng 1600mm ở vùng phía đông đồng bằng. Cũng vào mùa mưa thường có lũ xảy ra
vào tháng 9, còn gọi là mùa nước nổi, một đặc điểm thú vị của đồng bằng.
Thủy triều ven biển ĐBSCL
Đồng bằng sông Cửu Long là bộ phận cuối cùng ở lưu vực sông Mekong tiếp giáp
với biển nên chế độ nước ở đây chịu ảnh hưởng lớn của thủy triều. Căn cứ vào đặc
điểm hình thành và diễn biến của thủy triều, ta có thể chia vùng biển ĐBSCL ra làm 2
đoạn và lấy mũi Cà Mau làm điểm trung gian:
a. Khu vực biển Đông
Kéo dài từ Vũng Tàu đến mũi Cà Mau, dài 400 km chịu ảnh hưởng rõ rệt theo chế
độ thủy triều bán nhật triều không đều, biên độ triều khá lớn trên 2 m, đạt tối đa 3,5 m,
đặc biệt trong chu kỳ triều Maton (chu kỳ 19 năm) có thể lên đến 4 - 4,2 m. Tuy vậy,
triều biển Đông cũng chịu một phần ảnh hưởng triều biển Tây từ vịnh Thái Lan (bán
nhật triều không đều) nhất là đoàn càng đi về phía Cà Mau. Mỗi ngày có 2 lần triều lên
và 2 lần triều xuống nhưng biên độ triều trong 2 lần khác nhau. Trong mỗi chu kỳ 1/2
tháng, thấy rõ sự chênh lệnh đáng kể về biên độ kỳ nước cường. Nước lớn thường xảy
ra vào những ngày mồng 2 đấn mồng 3 âm lịch, hoặc ngày 18 - 19 âm lịch. Nước kém
xảy ra vào thời gian giữa 2 kỳ nước cường (ngày mồng 7 - 8 âm lịch hoặc 20 - 21 âm
lịch).
Các đặc trưng này xảy ra đều đặn suốt chiều dài 300 km dọc bờ biển, chỉ riêng
đoạn gần đến mũi Cà Mau thì mới có sự biến động lớn về tính chất và biên độ của thủy
triều. Theo Nguyễn Ngọc Thụy (1979) thì biên độ thủy triều ngoài khơi vùng nam biển
Đông gia tăng dân khi tiến sát đến thềm lục địa ĐBSCL và giảm dần khi sóng triều
Nhóm III lớp DH06QM Page 12
Ô nhiễm đất đồng bằng sông Cửu Long
truyền sâu vào sông Cửu Long. Tại vùng biển Tây Nam biển Đông, sóng bán nhật triều
được tăng cường về biên độ khi tiến về phía đất liền do cấu trúc địa hình, địa mạo của
đáy biển ở đây tương đối phức tạp. Điều này, ở vịnh Thái Lan cũng có ảnh hưởng
tương tự nhưng mức độ thấp hơn.
mất dần trên quy mô lớn. Trong số các rừng ngập mặn còn lại, trên 80% (khoảng
77.000 ha) tập trung ở tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau.
b. Hệ sinh thái đầm nội địa (rừng Tràm):
Trước đây rừng Tràm đã từng bao phủ một nửa diện tích đất phèn. Hiện nay chỉ
còn lại trong khu vực đất than bùn U Minh và một số nơi trong vùng đất phèn ở Đồng
Tháp Mười và đồng bằng Hà Tiên là những nơi bị ngập theo mùa.
Rừng Tràm rất quan trọng đối với việc ổn định đất, thuỷ văn và bảo tồn các loại vật.
Rừng Tràm thích hợp nhất cho việc cải tạo các vùng đất hoang và những vùng đất
không phù hợp đối với sản xuất nông nghiệp như vùng đầm lầy than bùn và đất phèn
nặng. Cây tràm thích nghi được với các điều kiện đất phèn và cũng có khả năng chịu
được mặn.
Hình 2. Rừng ngập mặn
Nhóm III lớp DH06QM Page 14
Ô nhiễm đất đồng bằng sông Cửu Long
Hiện nay, rừng tràm chỉ phân bố ít ỏi ở vùng đất than bùn U Minh, ở vùng đất
than bùn Đồng Tháp Mười và cánh đồng Hà Tiên. Những vùng đất ngập nước dưới
rừng tràm có khả năng giữ nước ngọt quanh năm cung cấp cho sinh hoạt cùa người dân
và cho khu động vật hoang dã, han chế quá trình phèn hóa và làm giảm tốc độ dòng
chảy trong lũ , là nơi cư trú cho rất nhiều loài thủy sàn nước ngọt , cung cấp gỗ, củi, cá,
mật ong và bảo tồn đa dạng sinh học. Tầng than bùn ở vùng rừng Tràm U Minh có vai
trò quan trọng đối với hệ sinh thái. Trong điều kiện khô như bị thoát nước, than bùn sẽ
bị oxi hóa rất nhanh làm cho đất bị phèn hóa và sinh ra các độc tố như sắt và nhôm.
c. Hệ sinh thái cửa sông:
Cửa sông là nơi nước ngọt từ sông chảy ra gặp biển. Chúng chịu ảnh hưởng mạnh
mẽ bởi các thuỷ triều và sự pha trộn giữa nước mặn và nước ngọt. Cửa sông duy trì
những quá trình quan trọng như vận chuyển chất dinh dưỡng và phù du sinh vật, du đẩy
các ấu trùng tôm cá, xác bồi động thực vật và nó quyết định các dạng trầm tích ven
biển. Hệ sinh thái cửa sông nằm trong số các hệ sinh thái phong phú và năng động nhất
trên thế giới. Tuy nhiên chúng rất dễ bị ảnh hưởng do ô nhiễm môi trường và do các
thay đổi của chế độ nước (nhiệt độ, độ mặn, lượng phù sa), những yếu tố có thể phá vỡ
đồng bằng sông Cửu Long. Đất phèn phân bố ở các vùng Đồng Tháp Mười, Tứ giác
Long Xuyên và bán đảo Cà Mau. Vùng Đồng Tháp Mười, phần lớn đất phèn hình thành
từ trầm tích sét nặng có độ thấm cao, khi bị oxy hóa dễ dàng xuất hiện khoáng Jarosite.
ở Tứ giác Long Xuyên đất phèn tương đối đồng đều về nguồn gốc hình thành và độc tố,
ít có những biến động lớn trong cùng một khu vực. Đất phèn vùng bán đảo Cà Mau
hình thành trên trầm tích sông biển hỗn hợp chứa Pyrite bị phủ một lớp trầm tích sông
mỏng bên trên, do đó lượng chất độc không cao, đất thường bị nhiễm mặn vào mùa khô
bởi nước biển tràn vào sông rạch.
Nhóm đất mặn : diện tích 744.547 ha, gồm đất mặn do ngập nước thủy triều
mặn hoặc đất mặn do nước ngầm mặn gây nên. Đất mặn bị ngập thủy triều thường mặn
quanh năm và bão hòa muối. Đất mặn không bị ngập thủy triều thường có độ mặn cao
nhất về mùa khô, mùa mưa nước mưa đã hòa tan muối và rửa mặn nên độ mặn giảm
nhiều, có thể cấy lúa một vụ mùa mưa.
Nhóm III lớp DH06QM Page 16
Ô nhiễm đất đồng bằng sông Cửu Long
Bảng 2. Phân loại đất mặn
Nguồn: Hội Khoa học Đất Việt Nam, 2002
Ngoài ra, Đồng bằng sông Cửu Long còn có diện tích đất ngập nước 4.939.684 ha,
bao gồm diện tích đất ngập nước nội địa và đất ngập nước ven biển ngập thủy triều
dưới 6 mét.
Hình 2. Đất ngập nước đồng bằng sông Cửu Long
“Đất ngập nước” (wetlands) Theo nghĩa rộng: “Đất ngập nước là những vùng đầm
lầy, dù là tự nhiên hay nhân tạo, ngập nước thường xuyên hoặc từng thời kỳ, là nước
tĩnh, nước chảy, nước ngọt, nước lợ hay nước mặn, bao gồm cả những vùng biển mà độ
sâu mực nước khi thủy triều ở mức thấp nhất không vượt quá 6 mét”.
Theo đó ĐNN phải có một trong ba thuộc tính sau:
Có thời kỳ nào đó, đất thích hợp cho phần lớn các loài thực vật thủy sinh.
Nhóm III lớp DH06QM Page 17
Ô nhiễm đất đồng bằng sông Cửu Long
Nền đất hầu như không bị khô
Đất ngập nước ngọt thuộc hồ ở đồng bằng sông Cửu Long có diện tích 56.389
ha, phân bố ở vùng hồ rừng Tràm U Minh Hạ (tỉnh Cà Mau), hồ rừng Tràm U
Minh Thượng (tỉnh Kiên Giang) và ở Vườn quốc gia Tràm Chim (tỉnh Đồng
Tháp).
Đất ngập nước thuộc đầm có diện tích 229.363 ha, dạng đất ngập nước chủ yếu
là đất ngập nước thuộc đầm ngập không thường xuyên, sử dụng để canh tác
nông nghiệp, phân bố ở vùng Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên.
Vai trò của đất ngập nước:
ĐNN là những hệ sinh thái có năng suất cao, cung cấp cho con người nhiều loại
nhiên liệu, thức ăn, là nơi giải trí và nơi lưu trữ các nguồn gen quý hiếm. Ngoài ra, đất
ngập nước còn có vai trò quan trọng trong thiên nhiên và môi trường như lọc nước thải,
điều hòa vi khí hậu, chống xói lở bờ biển, ổn định mực nước ngầm, là nơi trú chân của
nhiều loài chim di cư quý hiếm...
Hình 3. Hiện trạng đất đồng bằng sông Cửu Long
Nhóm III lớp DH06QM Page 19