một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng nghiệp vụ bảo lãnh tại nhno&ptnt nam hà nội - Pdf 10

Luận văn tốt nghiệp
Lời mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Bảo lãnh Ngân hàng ở nớc ta bắt đầu đợc sử dụng từ những năm 1990,
phục vụ chủ yếu trong lĩnh vực tín dụng thanh toán quốc tế. Cùng với sự phát
triển kinh tế và quá trình hiện đại hoá công nghệ Ngân hàng, hoạt động bảo
lãnh của Ngân hàng đã đợc mở rộng ra nhiều lĩnh vực, góp phần đa dạng hoá
các dịch vụ Ngân hàng. Bảo lãnh Ngân hàng không chỉ phục vụ cho hoạt động
kinh tế đối ngoại mà còn phục vụ cho các quan hệ kinh tế giao dịch trong
phạm vi nền kinh tế. Hầu hết các Ngân hàng thơng mại ở nớc ta đều thực hiện
nghiệp vụ này. Tuy nhiên sự phát triển và khởi sắc của nghiệp vụ bảo lãnh
trong thời gian qua vẫn cha thực sự tơng xứng với vai trò và tiềm năng của nó
đối với hệ thống Ngân hàng và nền kinh tế. Mặt khác bảo lãnh còn là nghiệp
vụ mới mẻ nên trong quá trình thực hiện còn nhiều vớng mắc và gây nhiều tổn
thất cho Ngân hàng .
Là một đơn vị có nhiều tiềm năng phát triển của hệ thống Ngân hàng
Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, Ngân hàng Nông Nghiệp và
Phát Triển Nông Thôn Nam Hà Nội đã thực hiện các nghiệp vụ bảo lãnh phục
vụ nhu cầu khách hàng nh: bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo
lãnh bảo hành, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh vay vốn nớc ngoài góp phần
quan trọng trong việc nâng cao chất lợng hiệu quả hoạt động kinh doanh của
Ngân hàng.
Tuy nhiên bảo lãnh còn là nghiệp vụ khá mới mẻ vì vậy việc thực hiện
nghiệp vụ bảo lãnh Ngân hàng ở nớc ta còn nhiều vớng mắc. Mặt khác, rủi ro
trong hệ thống Ngân hàng thơng mại còn cao nhất là đối với Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam do môi trờng kinh doanh có nhiều
khó khăn đã hạn chế rất nhiều đến nghiệp vụ bảo lãnh tại NHNo&PTNT Nam
Hà Nội.
Nhận thức đợc vấn đề trên, sau một thời gian thực tập tại NHNo&PTNT
Nam Hà Nội, em đã quyết định lựa chọn đề tài cho luận văn của mình là:
Một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lợng

Hà Nội.
Chơng 3: Một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao
chất lợng nghiệp vụ bảo lãnh tại NHNo&PTNT Nam Hà Nội.

SV: Phạm Kim Oanh Lớp TC5-K7
Luận văn tốt nghiệp
Chơng 1:
Một số vấn đề cơ bản về nghiệp vụ bảo lãnh
Của Ngân hàng thơng mại
1.1 - Tổng quan về nghiệp vụ bảo lãnh của NHTM.
1.1.1- Khái niệm về bảo lãnh và bảo lãnh Ngân hàng .
Nền kinh tế hàng hoá hiện đại thúc đẩy hoạt động thơng mại bùng nổ
mạnh mẽ với xu hớng toàn cầu hoá sâu sắc. Cũng vì thế thơng mại không chỉ
đợc mở rộng trong nớc mà còn vợt ra khỏi lãnh thổ quốc gia. Do vậy rủi ro về
thông tin không đầy đủ cho doanh nghiệp là rất lớn, từ đó rủi ro về đạo đức do
bạn hàng không đáp ứng các hợp đồng đã ký kết là khó tránh khỏi. Hoặc nếu
họ có thể tìm hiểu đợc thông tin thì việc tranh thủ cơ hội kinh doanh và các
chi phí phải bỏ ra ngăn cản họ thực hiện điều này. Từ đó gây ảnh hởng đến
hoạt động thơng mại và giảm hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Để khắc phục điều này đòi hỏi phải có một sự đảm bảo cho các giao dịch diễn
ra an toàn, tăng độ tin cậy giữa các đối tác kinh doanh. Bên cạnh đó, trong
điều kiện kinh tế phát triển, cạnh trạnh quyết liệt thì nhu cầu vốn cũng tăng
lên không ngừng. Để hạn chế những rủi ro trên và giành thắng lợi trong cạnh
tranh thì doanh nghiệp sẽ buộc phải tiêu tốn rất nhiều thời gian và tiền bạc để
tìm hiểu đối tác, điều này nhiều khi vợt ra ngoài khả năng của một doanh
SV: Phạm Kim Oanh Lớp TC5-K7
Luận văn tốt nghiệp
nghiệp. Nh vậy từ khả năng nền kinh tế xuất hiện nhu cầu có một sự đảm bảo
trong các giao dịch, dẫn tới một hình thức giao dịch đảm bảo ra đời với hình
thức biểu hiện là sự đảm bảo của một bên thứ ba, có đủ t cách và năng lực

Bên nhận bảo lãnh
Bên đợc bảo lãnh
(1)
(3)(2)
Luận văn tốt nghiệp
hợp đồng. Sự thoả thuận phải rõ ràng, chi tiết, chính xác về các điều khoản,
điều kiện kể cả về câu chữ của th bảo lãnh. Việc này thể hiện qua bớc (1) trên
sơ đồ.
Bớc (2) thể hiện quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên đợc bảo lãnh. Hai bên
sẽ ký kết hợp đồng bảo lãnh mà trong đó bên đợc bảo lãnh chỉ dẫn cho Ngân
hàng phục vụ mình phát hành th bảo lãnh với các điều khoản và điều kiện nh
đã thoả thuận với ngời thụ hởng. Trong trờng hợp Ngân hàng đã phải thanh
toán bảo lãnh theo các điều khoản và điều kiện của th bảo lãnh thì sau đó ngời
đợc bảo lãnh phải có nghĩa vụ bồi hoàn lại cho Ngân hàng.
Bên bảo lãnh sẽ phát hành th bảo lãnh dựa theo sự chỉ dẫn của bên đợc bảo
lãnh và giao cho bên nhận bảo lãnh và thông báo cho bên nhận bảo lãnh.
Trong trờng hợp bên đợc bảo lãnh không thực hiện đợc hoặc thực hiện không
đúng nghĩa vụ đã cam kết, bên nhận bảo lãnh chắc chắn sẽ đợc bên bảo lãnh
trả nợ. Việc này thể hiện qua bớc (3) trên sơ đồ.
1.1.2- Đặc điểm của bảo lãnh Ngân hàng.
1.1.2.1 - Bảo lãnh Ngân hàng là một quan hệ nhiều bên, phụ thuộc lẫn nhau.
Th bảo lãnh là một cam kết phát sinh từ mối quan hệ của nhiều bên, đó là:
- Mối quan hệ hợp đồng kinh tế hoặc hợp đồng dân sự giữa ngời đợc bảo
lãnh và ngời thụ hởng (có thể là hợp đồng vay vốn, hợp đồng thơng mại, hợp
đồng thi công, hợp đồng thiết kế)
- Mối quan hệ hợp đồng giữa ngời đợc bảo lãnh và Ngân hàng phát hành
bảo lãnh thể hiện trên hợp đồng bảo lãnh.
- Mối quan hệ hợp đồng giữa ngời thụ hởng bảo lãnh và Ngân hàng phát
hành bảo lãnh.
Nh vậy, do sự ảnh hởng phụ thuộc lẫn nhau của các mối quan hệ trên nên

Trong một nghiệp vụ bảo lãnh khi ngời thụ hởng bảo lãnh đến yêu cầu
Ngân hàng thanh toán thì Ngân hàng phát hành có trách nhiệm kiểm tra các
chứng từ do ngời thụ hởng xuất trình phù hợp với những điều khoản và điều
kiện của th bảo lãnh. Ngân hàng phát hành có quyền từ chối thanh toán nếu
chứng từ bất hợp lệ hay những điều kiện và điều khoản của bảo lãnh không đ-
ợc đáp ứng. Nếu Ngân hàng không thực hiện đúng trách nhiệm kiểm tra chứng
từ của mình tức là vẫn thanh toán khi bộ chứng từ bất hợp lệ thì Ngân hàng sẽ
không nhận đợc bồi hoàn từ ngời đợc bảo lãnh. Tuy nhiên nếu bộ chứng từ đợc
đa đến hoàn toàn phù hợp với các điều khoản quy định trong bảo lãnh và Ngân
hàng kiểm tra thấy không có dấu hiệu lừa đảo thì phải lập tức thanh toán ngay
cho bên thụ hởng. Ngân hàng phải hành động một cách trung thực và khách
quan, không làm chỗ dựa cho khách hàng của mình để từ chối thanh toán vì
nếu nh vậy sẽ làm giảm uy tín của chính Ngân hàng.
1.1.3 - Vai trò và chức năng của bảo lãnh Ngân hàng
1.1.3.1- Chức năng của bảo lãnh Ngân hàng .
Chức năng bảo đảm.
Đây là chức năng quan trọng nhất của bảo lãnh. Mục đích của bảo lãnh là
cung cấp cho ngời thụ hởng một khoản bồi hoàn tài chính cho những thiệt hại
do hành vi vi phạm hợp đồng của ngời đợc bảo lãnh gây ra. Nhng khả năng
xảy ra nghĩa vụ bồi thờng của Ngân hàng là rất nhỏ. Theo thống kê của các
nhà Ngân hàng Mỹ thì chỉ 1% trên tổng số bảo lãnh phát hành tại nớc này bị
ngời thụ hởng yêu cầu thanh toán. Ngoài ra bảo lãnh còn sử dụng cho các thoả
SV: Phạm Kim Oanh Lớp TC5-K7
Luận văn tốt nghiệp
thuận phi mua bán nh dự thầu, thực hiện hợp đồng Do vậy bảo lãnh không
phải là công cụ thanh toán mà là công cụ bảo đảm.
Chức năng tài trợ.
Đa số các hợp đồng thi công và mua bán lớn đòi hỏi phải dùng tới những
khoản vốn lớn trong thời gian khá dài. Ngời thi công có thể phải yêu cầu từ
ngời chủ công trình một khoản tiền ứng trớc. Hoặc trong cuộc đấu thầu, chủ

tham gia thanh toán quốc tế.
SV: Phạm Kim Oanh Lớp TC5-K7
Luận văn tốt nghiệp
Phí bảo lãnh = Tỷ lệ phí (%)*giá trị bảo lãnh*thời gian bảo lãnh
Thực vậy, nghiệp vụ bảo lãnh đem lại một nguồn thu đáng kể cho Ngân
hàng, đó là phí bảo lãnh. Hiện nay NHNN Việt nam quy định mức phí bảo
lãnh không vợt quá 2%/năm trên giá trị hợp đồng bảo lãnh. Nếu mức phí bảo
lãnh tính theo tỷ lệ này thấp hơn ba trăm ngàn thì Ngân hàng thu phí tối thiểu
là ba trăm ngàn đồng. Bên cạnh đó doanh nghiệp cần phải có một khoản ký
quỹ nhất định do Ngân hàng yêu cầu (ít nhất là 5% giá trị món bảo lãnh). Đây
là nguồn vốn kinh doanh rẻ của Ngân hàng vì số tiền ký quỹ bảo lãnh cũng đ-
ợc hạch toán phí bằng mức tiền gửi trên tài khoản vãng lai (hiện nay là
0,2%/tháng). Khoản phí và số tiền ký quỹ này còn có tác dụng hỗ trợ nghiệp
vụ thanh toán góp phần đảm bảo tính thanh khoản cho Ngân hàng .
Đối với doanh nghiệp.
Với doanh nghiệp, bảo lãnh Ngân hàng giúp cho việc đáp ứng kịp thời các yêu
cầu về vốn, đảm bảo sự lành mạnh trong hoạt động sản xuất kinh doanh, thúc
đẩy cạnh tranh mở rộng và phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp.
Cụ thể là, với bên đợc bảo lãnh, Ngân hàng tạo điều kiện cho bên đợc bảo
lãnh có đủ phơng tiện và khả năng thực hiện hợp đồng nhng lại cha có đợc uy
tín đối với các bên đối tác có thể tham gia đấu thầu, tham gia giao dịch và ký
kết hợp đồng.
Với bên thụ hởng bảo lãnh, có thể tiết kiệm đợc thời gian tìm hiểu đối tác,
tạo cơ hội kinh doanh hiệu quả, lựa chọn đợc đối tác tốt nhất, đồng thời yên
tâm khi ký kết, thực hiện hợp đồng hạn chế đợc rủi ro trong giao dịch và bù
đắp thiệt hại trong thời gian ngắn nhất.
Trong bảo lãnh, Ngân hàng chỉ đứng ra bảo đảm việc thực hiện hợp đồng
của doanh nghiệp, mọi nghĩa vụ tài chính doanh nghiệp phải trả cho Ngân
hàng. Thêm vào đó doanh nghiệp còn phải trả cho Ngân hàng một khoản phí

biết về khả năng hoạt động, mức độ tin cậy giữa doanh nghiệp với các đối tác.
Điều đó khiến doanh nghiệp thờng không quyết đoán trong việc ký hợp đồng
làm trì hoãn việc kinh doanh, cản trở sự phát triển thơng mại quốc tế.
Bảo lãnh Ngân hàng sẽ giúp các bên giải tỏa các bế tắc đó để họ có thể yên
tâm khi ký kết, thực hiện hợp đồng góp phần hình thành mối quan hệ chặt chẽ
giữa các bên, tạo đợc uy tín với nhau trên thị trờng quốc tế.
Ngoài ra, bảo lãnh Ngân hàng còn thúc đẩy quá trình chu chuyển vốn trong
nền kinh tế thông qua các quan hệ hàng - tiền, góp phần tăng tổng sản phẩm
quốc dân, ổn định chính trị, xã hội và nâng cao đời sống nhân dân.
1.2. Nội dung của nghiệp vụ bảo lãnh
1.2.1 Các loại bảo lãnh Ngân hàng
Ngày nay trên thế giới áp dụng rất nhiều loại hình bảo lãnh khác nhau.
Căn cứ vào các tiêu chí bảo lãnh có thể phân bảo lãnh Ngân hàng thành các
loại bảo lãnh sau:
1.2.1.1 Theo mục đích của bảo lãnh
Theo cách phân loại này ng ời ta đã chia bảo lãnh thành các loại sau:
Bảo lãnh dự thầu (Tender guarantee)
Bảo lãnh dự thầu là cam kết của Ngân hàng với chủ thầu về việc Ngân
hàng sẽ trả tiền thay trong phạm vi thời hạn và số tiền bảo lãnh nếu bên dự
SV: Phạm Kim Oanh Lớp TC5-K7
Luận văn tốt nghiệp
thầu vi phạm quy chế dự thầu mà không nộp hoặc nộp không đủ số tiền phạt
cho bên chủ thầu.
Bảo lãnh dự thầu thờng có 2 loại:
- Bảo lãnh dự thầu xây lắp.
- Bảo lãnh dự thầu cung ứng máy móc thiết bị
Thông thờng, đối với những hợp đồng lớn, đặc biệt là những hợp đồng xây
dựng, thiết kế hay cung cấp thiết bị thì ngời chủ công trình thờng lựa chọn đối
tác thông qua hình thức đấu thầu. Việc đấu thầu bao gồm các bớc sau: Gọi
thầu, mở thầu và tuyên bố trúng thầu. Trong bộ hồ sơ mời thầu, chủ thầu th-

quả sau khi công bố kết quả trúng thầu không quá 30 ngày kể từ ngày công bố
hoặc đợc trả lại cho ngơì trúng thầu sau khi đã nộp bảo lãnh thực hiện hợp đồng.
Bảo lãnh thực hiện hợp đồng (Performance guarantee)
Bảo lãnh thực hiện hợp đồng là cam kết của Ngân hàng bảo lãnh về việc
thực hiện hợp đồng của bên đợc bảo lãnh. Trong trờng hợp bên đợc bảo lãnh
không thực hiện đúng và đầy đủ hợp đồng mà không nộp tiền phạt hoặc nộp
không đủ thì Ngân hàng bảo lãnh phải có trách nhiệm trả thay cho khách hàng
của mình (bên đợc bảo lãnh).
Đây là loại bảo lãnh đợc sử dụng phổ biến nhất và có thể không phải yêu
cầu một loại bảo lãnh nào khác ngoài nó trong quá trình mua bán hàng hoá
hoặc dự thầu xây dựng. Nó cung cấp một bảo đảm cho ngời thụ hởng bảo lãnh
về việc thực hiện hợp đồng của ngời đợc bảo lãnh.
Giá trị của bảo lãnh tuỳ theo giá trị của hợp đồng và tuỳ theo tính chất của
mỗi thơng vụ. Tuy nhiên, giá trị của bảo lãnh thực hiện hợp đồng thờng từ 5%
- 15% giá trị hợp đồng cơ sở. Trờng hợp đặc biệt trong bảo lãnh thực hiện hợp
đồng xây lắp số tiền có thể lớn hơn 15% nhng phải đợc ngời có thẩm quyền
quyết định đầu t chấp nhận. Số tiền bảo lãnh có thể giảm dần theo tiến độ hợp
đồng nhng thời hạn trong th bảo lãnh đợc kéo dài đến khi hoàn thành hợp
đồng.
Loại bảo lãnh này thông thờng đợc phát hành kèm theo với các phơng thức
thanh toán khác (nh thanh toán th tín dụng, hoàn trả tiền ứng trớc ) để bổ
sung hỗ trợ cho nhau. Nếu ngời thụ hởng là bên bán (hoặc nhà thầu) thì bảo
lãnh sẽ bù đắp đợc rủi ro khi hàng hoá đã đặt hoặc sản xuất xong, công trình
đã khởi công mà bên đối tác vì một lý do nào đó lại không muốn tiếp tục
thực hiện hợp đồng bảo lãnh.
Nếu ngời thụ hởng là bên mua (hoặc chủ đầu t) thì bảo lãnh này sẽ bù đắp
một phần rủi ro khi ngời bán không có khả năng sản xuất hay cung cấp hàng hoá
hoặc khi nhà thầu phá vỡ hợp đồng. Số tiền bồi thờng này sẽ giúp ngời thụ hởng
bù đắp những phí tổn do hợp đồng bị bỏ dở và tìm đối tác khác.
Các loại bảo lãnh thực hiện hợp đồng:

Bảo lãnh tiền ứng trớc chỉ có hiệu lực khi bên đợc bảo lãnh đã nhận đợc
tiền ứng trớc, bởi vì nếu bảo lãnh có hiệu lực ngay lúc phát hành và bên đợc
bảo lãnh cha nhận đợc tiền ứng trớc thì có khả năng ngời thụ hởng sẽ đòi
thanh toán bảo lãnh trong khi họ cha ứng tiền cho bên đợc bảo lãnh. Th bảo
lãnh sẽ tự động hết hiệu lực khi hợp đồng cơ sở đã đợc hoàn tất.
Bảo lãnh tiền ứng trớc có 2 loại sau:
- Bảo lãnh tiền ứng trớc thi công công trình.
- Bảo lãnh tiền ứng trớc sản xuất máy móc, thiết bị, hàng hoá.
Bảo lãnh bảo hành (maintainance guarantee)
Bảo lãnh bảo hành là loại bảo lãnh Ngân hàng cam kết với chủ thầu, nhà
nhập khẩu trong trờng hợp nhà thầu, nhà xuất khẩu vi phạm hợp đồng về chất
lợng sản phẩm mà không bồi thờng hoặc bồi thờng không đủ thì Ngân hàng sẽ
phải trả thay trong phạm vi và thời hạn bảo lãnh.
Mục đích của bảo lãnh bảo hành là bảo đảm cho chất lợng sản phẩm trong
suốt thời hạn bảo hành của thiết bị. Nó thờng đợc áp dụng trong nhập khẩu
thiết bị hay lắp ráp v.vNh vậy bảo lãnh này có thời hạn hiệu lực bắt đầu ngay
SV: Phạm Kim Oanh Lớp TC5-K7
Luận văn tốt nghiệp
từ lúc tiến hành lắp ráp, sử dụng cho đến hết thời hạn bảo lãnh của thiết bị
cộng thêm khoảng thời gian hợp lý để ngời thụ hởng lập thêm chứng từ yêu
cầu thanh toán.
Trong suốt thời gian bảo hành, nếu có bất cứ sự cố gì xảy ra trong phạm vi
bảo lãnh của sản phẩm thì ngời thụ hởng có quyền lập chứng từ yêu cầu thanh
toán bảo lãnh nh một khoản tiền bồi thờng. Giá trị của th bảo lãnh này thờng
rất thấp so với th bảo lãnh thực hiện hợp đồng, nó chỉ chiếm khoảng từ 2% -
5% giá tri hợp đồng.
Bảo lãnh chất lợng sản phẩm gồm có 2 loại:
- Bảo lãnh bảo đảm chất lợng công trình.
- Bảo lãnh bảo đảm chất lợng máy móc, thiết bị, hàng hoá.
Bảo lãnh thanh toán (payment guarantee).

or Accessory guarantee).
Là loại bảo lãnh mà khi yêu cầu Ngân hàng bảo lãnh trả tiền thì ngời thụ
hởng phải xuất trình kèm theo một số chứng từ hoặc chứng nhận của một bên
thứ ba phát hành xác nhận sự vi phạm của ngời đợc bảo lãnh. Chứng từ của
một bên thứ ba có thể là một chứng nhận thẩm định của một công ty kiểm
định độc lập, một phán quyết của toà án
Đặc điểm nổi bật của loại bảo lãnh này là ngời hởng nếu muốn đợc trả tiền
(bồi thờng thiệt hại) phát hành phải xuất trình chứng từ của phía thứ ba hoặc
của toà án chứng minh sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng của đối tác. Do những
điều kiện xác lập chứng cứ nh vậy nên bảo lãnh có điều kiện về bản chất rất t-
ơng đồng với nghiệp vụ bảo hiểm. Theo đó ngời đợc bảo hiểm (the insured)
phát hành phải xuất trình các chứng cứ chứng minh sự tổn thất mới đợc bồi th-
ờng. Mặc dù các điều kiện này không làm vừa lòng đối với ngời hởng do việc
bồi thờng không đợc thực hiện ngay (on demand) mà phát hành phải qua các
thủ tục phát hành pháp lý khác, nhng phía đợc bảo lãnh và ng ời phát hành lại
hài lòng vì nó đảm bảo tính khách quan, nhng quan trọng và có ý nghĩa hơn
là ngăn ngừa tối đa sự gian lận, lừa đảo của phía nhận bảo lãnh, điều này có
thể xảy ra và đã xảy ra rất nhiều trên thế giới và ngay tại Việt Nam. Nhng
cũng do tính chất kém linh hoạt này nên loại bảo lãnh này không đợc sử dụng
phổ biến, đặc biệt là trong thanh toán quốc tế.
Bảo lãnh theo yêu cầu hay bảo lãnh vô điều kiện (unconditional guarantee).
Là loại bảo lãnh mà việc thanh toán sẽ đợc thực hiện ngay khi Ngân hàng
bảo lãnh nhận đợc yêu cầu đầu tiên bằng văn bản của ngời thụ hởng và xem
đây nh là một mệnh lệnh thanh toán đơn giản, không đòi hỏi phải có một
chứng từ nào kèm theo.
Đây là dạng bảo lãnh có tính chất độc lập với các giao dịch khác, kể cả
hợp đồng mà theo đó bảo lãnh đợc phát hành, do vậy nó đợc gọi theo thuật
ngữ chung là independent guarantee. Ngời phát hành bảo lãnh phải đợc thực
hiện nghĩa vụ của mình ghi trong bảo lãnh ngay khi nhận đợc yêu cầu (first
demand on demand). Ngời thụ hởng không cần đa ra những chứng cứ mô tả

một trong các bên phải có một th bảo lãnh Ngân hàng cho bên kia thụ hởng để
bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng. Sự thoả thuận
phải rõ ràng, chi tiết, chính xác về các điều khoản, điều kiện kể cả về câu chữ
của th bảo lãnh. Việc này thể hiện qua bớc (1) trên sơ đồ.
Bớc (2) thể hiện quan hệ giữa Ngân hàng phát hành và ngời đợc bảo lãnh.
Ngời đợc bảo lãnh chỉ dẫn cho Ngân hàng phục vụ mình phát hành th bảo lãnh
với các điều khoản và điều kiện nh đã thoả thuận với ngời thụ hởng. Trong tr-
ờng hợp Ngân hàng đã phải thanh toán bảo lãnh theo các điều khoản và điều
SV: Phạm Kim Oanh Lớp TC5-K7
Ngân hàng phát hành
Ngân hàng phát hành
Ngân hàng thông báo
Ngân hàng thông báo
Ng ời đ ợc bảo lãnh
Ng ời đ ợc bảo lãnh
Ng ời thụ h ởng
Ng ời thụ h ởng
(2)
(4)
(1)
(3)
(4)
Luận văn tốt nghiệp
kiện của th bảo lãnh thì sau đó ngời đợc bảo lãnh phải có nghĩa vụ bồi hoàn lại
cho Ngân hàng. Mối quan hệ này đợc gọi là sự uỷ nhiệm.
Bảo lãnh trực tiếp thờng đợc Ngân hàng phục vụ ngời đợc bảo lãnh phát
hành. Ngân hàng phát hành th bảo lãnh cho ngời thụ hởng và sẽ thanh toán
bảo lãnh cho họ khi các điều khoản và điều kiện của th bảo lãnh đợc thoả
mãn. Quan hệ này thể hiện ở bớc (3) trên sơ đồ.
Đối với ngời thụ hởng là ngời nớc ngoài, Ngân hàng phát hành sẽ thông

SV: Phạm Kim Oanh Lớp TC5-K7
Luận văn tốt nghiệp
việc thanh toán bảo lãnh đối ứng. Sau khi đã thanh toán bảo lãnh đối ứng,
Ngân hàng chỉ dẫn sẽ đòi hoàn từ ngời đợc bảo lãnh.
Thời hạn và số tiền của th bảo lãnh chính là thời hạn và số tiền theo thoả
thuận trên hợp đồng cơ sở. Thời hạn của bảo lãnh đối ứng là thời hạn mà Ngân
hàng phát hành xuất trình yêu cầu thanh toán đến Ngân hàng chỉ dẫn. Thông
thờng thời hạn này dài hơn thời hạn của bảo lãnh chính từ 3 - 30 ngày nhằm
cho phép Ngân hàng phát hành có thời gian để lập yêu cầu thanh toán sau khi
đã hoàn thành nghĩa vụ bồi hoàn theo th bảo lãnh chính. Số tiền trên bảo lãnh
đối ứng cũng tơng ứng với số tiền trên bảo lãnh chính.
Vai trò của Ngân hàng thông báo trong loại hình bảo lãnh này hoàn toàn t-
ơng tự nh trong bảo lãnh trực tiếp, nghĩa là nó chỉ hành động nh một đại lý của
Ngân hàng phát hành.
Đồng bảo lãnh (syndicated guarantee)
Đối với những hợp đồng có giá trị lớn, khả năng rủi ro cao, một Ngân
hàng riêng lẻ không có khả năng thực hiện hay vì những quy định hạn chế và
phân tán rủi ro của Chính phủ một nớc mà một Ngân hàng riêng lẻ không thể
đứng ra phát hành bảo lãnh đợc. Trong trờng hợp đó, Ngân hàng vẫn có thể
thực hiện đợc nghiệp vụ bảo lãnh thông qua việc tham gia vào nghiệp vụ đồng
bảo lãnh.
Cơ chế này đợc thể hiện qua sơ đồ sau:
Các bớc (1), (2), (3) đợc thực hiện tuần tự nh trong bảo lãnh trực tiếp. Tuy
nhiên, trong nghiệp vụ đồng bảo lãnh, khi có một yêu cầu phát hành th bảo
lãnh của ngời đợc bảo lãnh thì một Ngân hàng sẽ kêu gọi sự tham gia bảo lãnh
của các Ngân hàng khác. Nhóm các Ngân hàng này sẽ chọn ra một Ngân hàng
bảo lãnh chính để đứng ra phát hành bảo lãnh cho toàn bộ số tiền bảo lãnh,
giữ các chứng từ thế chấp cầm cố, thu phí bảo lãnh từ ngời đợc bảo lãnh và
sau đó sẽ phân chia lại cho các Ngân hàng thành viên theo một tỷ lệ nhất định.
Các Ngân hàng này sẽ cam kết chịu trách nhiệm theo từng phần đóng góp của

quốc tế. Ngời nhập khẩu thờng phải cung cấp tín dụng cho ngời xuất khẩu dới
dạng tiền đặt cọc, ký quỹ, ứng trớc, mở L/C Các khoản này chiếm tới 10-15%
tổng giá trị đơn đặt hàng. Vì vậy cần phải có bảo lãnh bảo đảm trả lại số tiền đó
nếu bên xuất khẩu không thực hiện đúng nghĩa vụ giao hàng.
Th tín dụng dự phòng đợc áp dụng trong những trờng hợp sau:
- Mua bán máy móc và thiết bị toàn bộ.
- Mua bán nguyên vật liệu với khối lợng lớn, thời hạn dài.
- Mua bán đổi hàng, mua bán đối ứng, mua bán lại.
Bảo lãnh vận đơn.
Mục đích của bảo lãnh vận đơn nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng trớc sự
lợi dụng vận. Số tiền bảo lãnh từ 100-150% trị giá hàng hoá để có thể bù đắp
những thiệt hại có thể phát sinh, thờng cho tới khi chủ hàng có hàng mới.
Có hai loại bảo lãnh vận đơn:
- Bảo lãnh vận đơn ngời xuất khẩu là ngời đề nghị phát hành: trong trờng
hợp này Ngân hàng cam kết với ngời nhập khẩu bồi thờng mọi thiệt hại có thể
phát sinh đối với họ nếu vận đơn gốc không đợc xuất trình hoặc xuất trình
không kịp thời.
- Bảo lãnh vận đơn ngời nhập khẩu là ngời đề nghị phát hành: Ngân hàng
cam kết với ngời chủ vận tải sẽ bồi thờng mọi khoản thiệt hại nếu hàng hoá đ-
ợc giao cho một ngời không có quyền nhận hàng, do chứng từ thất lạc, đến
chậm hơn tàu hoặc chủ hàng vận tải đợc ủy nhiệm nhận hàng không có chứng
từ để sử dụng.
Số tiền bảo lãnh có thể 100% - 150% thậm chí 200% giá trị hàng hoá nhằm
bù đắp thiệt hại phát sinh cho bên thụ hởng cho đến khi có hàng hoá mới thay
thế.
Bảo lãnh thuế quan.
SV: Phạm Kim Oanh Lớp TC5-K7
Luận văn tốt nghiệp
Mục đích của bảo lãnh này là đảm bảo cho ngời có trách nhiệm nộp thuế
trớc những đòi hỏi của cơ quan thuế quan do cha thực hiện nghĩa vụ nộp thuế

nhận bảo lãnh. Trong trờng hợp khách hàng bị phạt tiền do không thực hiện
đúng các thoả thuận trong hợp đồng về chất lợng sản phẩm với bên nhận bảo
lãnh mà không nộp hoặc nộp không đủ tiền phạt cho bên nhận bảo lãnh, Ngân
hàng sẽ thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đã cam kết.
Bảo lãnh đối ứng.
SV: Phạm Kim Oanh Lớp TC5-K7
Luận văn tốt nghiệp
Bảo lãnh đối ứng là một bảo lãnh Ngân hàng do Ngân hàng (Bên phát hành
bảo lãnh đối ứng) phát hành cho một tổ chức tín dụng khác (Bên bảo lãnh) về
việc đề nghị bên bảo lãnh thực hiện bảo lãnh cho các nghĩa vụ của khách hàng
của Ngân hàng với bên nhận bảo lãnh. Trờng hợp, khách hàng vi phạm các
cam kết với bên nhận bảo lãnh, bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh
thì Ngân hàng phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối ứng cho bên bảo lãnh.
1.2.2. Các yếu tố trong bảo lãnh Ngân hàng .
1.2.2.1. Các bên tham gia vào hoạt động bảo lãnh Ngân hàng .
- Ngời đợc bảo lãnh: Là ngời mà Ngân hàng chịu trách nhiệm thanh toán
thay cho khi bên này vi phạm hợp đồng ký kết với bên nhận bảo lãnh. Bên đợc
bảo lãnh là bên yêu cầu Ngân hàng phát hành th bảo lãnh và có trách nhiệm
hoàn trả cho Ngân hàng đã trả thay khi vi phạm. Nó đợc quy định cụ thể tại
Điều 4 công văn số 283/2000/QĐ-NHNN14
- Bên nhận bảo lãnh: Là ngời đợc hởng bồi thờng theo các điều khoản quy
định trong th bảo lãnh khi có sự vi phạm hợp đồng của ngời đợc bảo lãnh -
Ngời bảo lãnh (Ngân hàng bảo lãnh) có nghĩa vụ thanh toán cho ngời thụ h-
ởng khi ngời thụ hởng xuất trình yêu cầu và các chứng từ phù hợp với các điều
khoản và điều kiện của th bảo lãnh.
- Bên bảo lãnh: Là các Ngân hàng đứng ra bảo lãnh cho khách hàng của
mình bằng cách phát hành th bảo lãnh. Bên bảo lãnh có thể chỉ là một Ngân
hàng, song cũng có thể là nhiều Ngân hàng đứng ra cùng tham gia hoặc tái
bảo lãnh.
1.2.2.2. Nôị dung th và hợp đồng bảo lãnh của Ngân hàng .

- Quyền và nghĩa vụ của bên B
- Giải pháp tranh chấp phát sinh
- Hiệu lực của hợp đồng
1.2.2.3. Phí bảo lãnh.
Phí bảo lãnh là chi phí mà ngời đợc bảo lãnh phải trả cho Ngân hàng do đ-
ợc hởng dịch vụ này. Phí bảo lãnh phải đảm bảo bù đắp các chi phí bỏ ra của
Ngân hàng có tính đến rủi ro mà Ngân hàng có thể phải gánh chịu. Nếu xét
bảo lãnh dới góc độ một sản phẩm dịch vụ thì phí bảo lãnh chính là giá cả của
dịch vụ đó.
Phí bảo lãnh có thể đợc tính bằng số tuyệt đối hoặc trên cơ sở tỷ lệ phí. Phí
bảo lãnh theo tỷ lệ phí đợc tính theo công thức:
Phí bảo lãnh = Số tiền bảo lãnh * Tỷ lệ phí * Thời gian bảo lãnh
Phí bảo lãnh đợc tính vào chi phí dịch vụ nói chung của Ngân hàng và
đóng góp trực tiếp vào lợi nhuận của Ngân hàng.
1.3. Rủi ro trong hoạt động bảo lãnh Ngân hàng .
1.3.1. Đối với ngời thụ hởng
Trong một nghiệp vụ bảo lãnh Ngân hàng, ngời thụ hởng là ngời đợc bảo
đảm quyền lợi nhiều nhất và bảo lãnh Ngân hàng là một biện pháp hạn chế rủi
ro rất có hiệu quả. Tuy nhiên, ngời thụ hởng vẫn có nguy cơ gặp phải những
rủi ro. Đó là:
- Rủi ro do quốc gia của Ngân hàng phát hành: Khi có sự thay đổi thể
chế chính trị, luật pháp quốc gia, các quan hệ kinh tế đối ngoại, các chính
sách và quy định của các quốc gia về bảo lãnh có thể làm cho một th bảo
SV: Phạm Kim Oanh Lớp TC5-K7
Luận văn tốt nghiệp
lãnh trở thành không có hiệu lực thanh toán mặc dù có sự vi phạm hợp đồng
của ngời đợc bảo lãnh.
- Rủi ro bất khả kháng: Đó là các rủi ro xảy ra bởi một biến cố mà
không thể nào dự đoán hay kiểm soát đợc nh: đình công, chiến tranh, thiên
tai làm gián đoạn nghiệp vụ Ngân hàng và khi Ngân hàng hoạt động trở lại

trên tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh của bên thứ ba, giá trị thu hồi từ việc
thực hiện dự án, công trình và đôi khi chỉ dựa trên uy tín của doanh nghiệp
SV: Phạm Kim Oanh Lớp TC5-K7
Luận văn tốt nghiệp
làm đảm bảo. Việc đánh giá giá trị tài sản thế chấp cầm cố thờng là khó sát
với giá trị thực tế của chúng. Do vậy, giá trị vật bảo đảm có thể nhỏ hơn rất
nhiều so với số tiền Ngân hàng nhận bảo lãnh, đặc biệt là bảo lãnh vay vốn
của nớc ngoài, nhập máy móc thiết bị Và khi Ngân hàng đã thanh toán bảo
lãnh, ngời đợc bảo lãnh lại không có khả năng bồi hoàn lại cho Ngân hàng thì
khi đó Ngân hàng đã gặp phải rủi ro mất vốn, vì lúc này việc phát mại tài sản
thế chấp sẽ mất nhiều thời gian, chi phí và số tiền thu đợc thờng không đủ bù
đắp cho phần vốn bị mất hoặc khi dự án công trình không mang lại hiệu quả
mong muốn mà ngời đợc bảo lãnh lại mất khả năng thanh toán.
Do bên thứ ba đứng ra bảo lãnh mất khả năng thanh toán: Việc khách
hàng chậm bồi hoàn lại cho Ngân hàng tạo ra một số d nợ quá hạn bảo lãnh
đôi khi rất lớn, dẫn đến tình trạng vốn của Ngân hàng bị chiếm dụng nghiêm
trọng, ảnh hởng đến hoạt động Ngân hàng.
Ngoài ra, việc qui định biểu phí bảo lãnh không hợp lý cũng gây ra nhiều
tổn thất cho Ngân hàng. Nếu quá cao sẽ làm mất đi những khách hàng có uy
tín tốt vì họ sẽ tìm đến một Ngân hàng khác có mức phí thấp hơn. Còn nếu phí
quá thấp thì có thể thu từ nghiệp vụ bảo lãnh sẽ không bù đắp chi phí cho
nghiệp vụ, do vậy Ngân hàng sẽ bị thua lỗ.
1.4 - Kinh nghiệm ở một số nớc về bảo lãnh Ng ân hàng .
1.4.1.Kinh nghiệm về bảo lãnh Ngân hàng của các nớc ASEAN
Hệ thống Ngân hàng các nớc ASEAN (không kể Việt Nam, Lào và
Mianma) đợc coi là hệ thống Ngân hàng phát triển nhất khu vực Châu á -
Thái Bình Dơng, khu vực có nền kinh tế năng động nhất Thế giới. Tốc độ tăng
trởng hàng năm của các nớc trong khối ASEAN vào khoảng từ 7-8%/năm.
Đặc biệt, nền kinh tế của Malaysia và Singapore có tốc độ tăng trởng từ 10-
11%/năm. Hầu hết các nớc thuộc khối ASEAN xây dựng Ngân hàng của mình

nghiệp vụ bảo lãnh của các NHTM cho doanh nghiệp, luật pháp nớc này quy
định: doanh nghiệp muốn đợc Ngân hàng đứng ra bảo lãnh phải là doanh
nghiệp lớn mạnh, có uy tín đối với khách hàng và bạn hàng. Việc Ngân hàng
đứng ra bảo lãnh chỉ là giải quyết kịp thời khả năng thiếu vốn của doanh
nghiệp trong thời gian nhắn hạn. Đạo luật Ngân hàng Inđônêxia chỉ rõ các
NHTM không đợc phép bảo lãnh cho các doanh nghiệp có thời hạn bảo lãnh
quá 5 năm. Việc bảo lãnh với thời hạn trên 5 năm phải do Chính phủ xem xét
quyết định. Ngân hàng bảo lãnh cũng giống nh nghiệp vụ cho vay, thời gian bảo
lãnh càng dài hoặc thời gian cho vay càng dài thì rủi ro cho Ngân hàng càng lớn.
Hệ thống Ngân hàng Thái Lan có những Ngân hàng khá mạnh và làm ăn
có hiệu quả nh: Krung Thai Bank, Bangkok Bank, Thai Farmer Bank So với
các nớc trong khu vực thì nghiệp vụ bảo lãnh đợc dùng muộn hơn. Tuy vậy
nghiệp vụ này đợc các Ngân hàng Thái Lan thực hiện rất nghiêm ngặt và thu
đợc nhiều kết quả to lớn. ở đây các Ngân hàng chỉ thực hiện nghiệp vụ bảo
lãnh cho các doanh nghiệp truyền thống của mình và họ rất am hiểu doanh
nghiệp mà họ đứng ra bảo lãnh. Các Ngân hàng Thái Lan nói rằng họ làm nh
vậy là để tránh mức thấp nhất tình trạng thả gà ra đuổi. Điều đáng chú ý nữa
là các Ngân hàng muốn tham gia bảo lãnh phải là những Ngân hàng có uy tín
lớn trên thị trờng tài chính - tiền tệ trong nớc cũng nh quốc tế.
1.4.2. Kinh nghiệm về bảo lãnh Ngân hàng ở Trung Quốc.
SV: Phạm Kim Oanh Lớp TC5-K7
Luận văn tốt nghiệp
Về mặt lịch sử Trung Quốc có nhiều điểm giống Việt Nam. Trung Quốc
cũng là nớc XHCN chuyển sang nền kinh tế thị trờng trong thời gian gần đây
(bắt đầu từ năm 1978). Do đó trong bớc đi đầu vào nền kinh tế thị trờng thì
Việt Nam và Trung Quốc có nhiều điểm tơng đồng có thể học tập đợc. Tuy
nhiên Trung Quốc có nhiều điểm kinh tế xã hội khác với Việt Nam, vì vậy trong
chiến lợc phát triển kinh tế cũng khác. ở đây ta đề cập đến nghiệp vụ bảo lãnh
trong lĩnh vực Ngân hàng để xem xét, sàng lọc kinh nghiệm để áp dụng.
Trớc đây công cụ bảo lãnh của định chế tài chính ở Trung Quốc đợc áp

Trích đoạn Nghiệp vụ bảo lãnh trong hoạt động tín dụng Ngân hàng. Đánh giá chung về hoạt động bảo lãnh tại NHNo &PTNT Nam Hà Nội. Những tồn tại và nguyên nhân. Định hớng kế hoạch kinh doanh năm 2005 của NHNo &PTNT Nam Hà Nội.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status