quy hoạch đội ngũ cán bộ chủ chốt thuộc diện ban thường vụ tỉnh uỷ bắc giang quản lý trong giai đoạn hiện nay - những vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 10

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hơn 77 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dân
tộc Việt Nam đã liên tiếp giành được những thắng lợi vẻ vang, từ một nước
thuộc địa nửa phong kiến, Việt Nam đã trở thành một quốc gia hoàn toàn độc
lập, thống nhất, cả nước cùng đi lên CNXH. Công cuộc đổi mới đất nước đã
và đang giành được những thành tựu to lớn, được bạn bè trên thế giới hết sức
khâm phục, vị thế nước ta trên trường quốc tế ngày càng được nâng lên.
Những thắng lợi trên trước hết bắt nguồn từ đường lối chính trị đúng đắn và
từ việc dày công xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ của Đảng.
Vấn đề cán bộ và công tác cán bộ là một vấn đề hệ trọng, từ lâu đã
được các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác-Lênin đề cập tới trong các tác
phẩm của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Cán bộ là cái gốc
của mọi công việc” [45, tr.269] và “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do
cán bộ tốt hay kém”[45, tr.240]. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 BCHTW (khoá
VII) đã chỉ rõ: “cán bộ có vai trò cực kỳ quan trọng hoặc kìm hãm hoặc thúc
đẩy tiến trình đổi mới” [13], Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 BCHTW (khoá
VIII) về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước khẳng định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng,
gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ ” [13].
Để làm tốt công tác cán bộ, đòi hỏi chúng ta phải thực hiện đồng bộ
nhiều nội dung, nhiều khâu, nhưng một trong những nội dung trọng yếu là
công tác QHCB, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 BCHTW (khoá VIII) nêu rõ:
“Công tác QHCB là một nội dung trọng yếu của công tác cán bộ, bảo đảm
cho công tác cán bộ đi vào nền nếp, chủ động có tầm nhìn xa, đáp ứng cả
nhiệm vụ trước mắt và lâu dài” [13]. Có làm tốt QHCB mới từng bước nâng
cao được chất lượng, đảm bảo số lượng, cơ cấu đội ngũ cán bộ; đảm bảo tính
liên tục, kế thừa và phát triển, tránh tình trạng hẫng hụt, bị động, chắp vá và
không đồng bộ trong công tác cán bộ. Làm tốt công tác QHCB sẽ tạo cơ sở,
1
điều kiện, tiền đề để làm tốt các khâu khác trong công tác cán bộ như: ĐTBD,

Bắc Giang đã quan tâm đến công tác QHCB, tích cực, tập trung lãnh đạo công
tác QHCB ở tỉnh, do đó công tác QHCB đã bước đầu đi vào nền nếp, đạt
được kết quả nhất định, góp phần làm tốt công tác cán bộ của tỉnh. Tuy vậy
công tác QHCB trong thời gian qua cũng bộc lộ không ít những thiếu sót,
khuyết điểm cần sớm được khắc phục.
Là một tỉnh miền núi, mới được tái lập từ ngày 01/01/1997, với diện
tích 3.882, 6 km
2
, dân số trên 1,5 triệu người, địa hình phức tạp, mặc dù tình
hình chính trị-an ninh, trật tự, xã hội tương đối ổn định, kinh tế tăng trưởng
với tốc độ cao, song nhìn chung nền kinh tế của tỉnh chủ yếu vẫn là nông
nghiệp, công nghiệp nhỏ bé, nguồn thu ngân sách hạn hẹp, GDP bình quân
đầu người còn thấp hơn nhiều so với bình quân chung của cả nước. Nhiệm vụ
phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với đội ngũ
CBCC nói chung, trước hết là đội ngũ cán bộ thuộc diện BTV Tỉnh uỷ quản lý,
bởi lẽ đây là ĐNCBCC của hệ thống chính trị ở tỉnh và cấp huyện, là lực lượng
chủ yếu, lãnh đạo, tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết, quyết định của
Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước ở địa bàn tỉnh. Muốn có đội ngũ cán
bộ ngang tầm, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trước mắt và lâu dài thì trước hết phải
thực hiện tốt quy hoạch đội ngũ cán bộ thuộc diện BTV Tỉnh uỷ quản lý.
Xuất phát từ yêu cầu khách quan của công cuộc đổi mới đất nước, yêu
cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị nơi mình đang công tác, tôi
mạnh dạn chọn đề tài “Quy hoạch đội ngũ cán bộ chủ chốt thuộc diện Ban
Thường vụ Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý trong giai đoạn hiện nay” làm luận
văn tốt nghiệp khoá học thạc sỹ chuyên ngành xây dựng Đảng tại Học Viện
Chính trị -Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của công tác QHCB, mà nhiều cơ
quan, nhà khoa học, nhiều cán bộ, đã tập trung nghiên cứu vấn đề này, đã có
không ít đề tài, báo cáo, bài viết và công trình nghiên cứu về công tác QHCB

- “Quy hoạch ĐNCBCC thuộc diện Quận uỷ Ba Đình, Thành phố Hà
Nội quản lý trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ của Lưu Tiến Định,
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2006.
Tuy nhiên, những đề tài nghiên cứu, những công trình, bài viết đó mới
chỉ đề cập vấn đề QHCB nói chung hoặc là QHCB riêng của một số địa
phương, đơn vị. Cho đến nay chưa có tác giả nào công bố đề tài về quy hoạch
ĐNCBCC thuộc diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý trong giai đoạn hiện
nay. Luận văn này sẽ kế thừa, tiếp thu một cách có chọn lọc các công trình
nghiên cứu của các nhà khoa học, các tác giả có liên quan về công tác QHCB,
để tập trung nghiên cứu sâu vấn đề trên, góp phần làm tốt công tác QHCB của
tỉnh trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích nghiên cứu:
Mục đích của luận văn chủ yếu là đi sâu làm rõ những cơ sở khoa học
và đề xuất những giải pháp chủ yếu, góp phần nâng cao chất lượng quy hoạch
ĐNCBCC thuộc diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý trong giai đoạn hiện nay.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác quy hoạch ĐNCBCC
thuộc diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý trong giai đoạn hiện nay.
- Đánh giá đúng thực trạng ĐNCBCC và quy hoạch ĐNCBCC thuộc
diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý từ khi tái lập tỉnh (01/01/1997) đến nay;
chỉ ra nguyên nhân những ưu điểm, tồn tại, thiếu sót, rút ra những kinh
nghiệm trong quy hoạch ĐNCBCC thuộc diện BTV Tỉnh uỷ quản lý hiện nay.
- Đề xuất phương hướng và những giải pháp chủ yếu có tính khả thi,
nhằm nâng cao chất lượng quy hoạch ĐNCBCC thuộc diện BTV Tỉnh uỷ Bắc
Giang quản lý trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu cụ thể là ĐNCBCC thuộc diện BTV Tỉnh uỷ
quản lý (theo quyết định về phân cấp quản lý cán bộ) bao gồm các chức danh:
5

trong giai on hin nay, gúp phn i mi cụng tỏc cỏn b ca tnh, ỏp ng
yờu cu nhim v trong thi k cụng nghip hoỏ, hin i hoỏ t nc.
7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Kt qu nghiờn cu ca lun vn gúp phn cung cp lun c khoa hc
cho vic hoch nh, iu chnh, b sung, c th hoỏ ch trng, chớnh sỏch
ca ng v Nh nc v quy hoch NCBCC thuc din BTV Tnh u
qun lý.
- Lun vn cú th s dng lm ti liu nghiờn cu, phc v cho vic
s, tng kt v cụng tỏc cỏn b núi chung v cụng tỏc quy hch cỏn b ca
tnh v lm c s xõy dng mt s k hoch, ỏnv quy hoch, TBD,
luõn chuyn, b nhim, b trớ, sp xp v thc hin chớnh sỏch i vi i ng
cỏn b lónh o, qun lý cỏc c quan, s, ban, ngnh, on th tnh v cp
huyn trong giai on t nay n nm 2010 v nhng nm tip theo.
- Lun vn cng cú th s dng lm t liu tham kho trong ging dy
cho i ng cỏn b Trng Chớnh tr tnh v trung tõm bi dng chớnh tr
cp huyn.
8. Kt cu ca lun vn
Ngoi phn m u, kt lun, ph lc v ti liu tham kho, ni dung
ca lun vn chia lm 2 chng, 4 tit.
7
Chương 1
QUY HOẠCH ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT
THUỘC DIỆN BAN THƯỜNG VỤ TỈNH UỶ BẮC GIANG QUẢN LÝ
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN
1.1. ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT, QUY HOẠCH ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
CHỦ CHỐT THUỘC DIỆN BAN THƯỜNG VỤ TỈNH UỶ BẮC GIANG QUẢN LÝ
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
1.1.1. Quan niệm, vai trò và đặc điểm đội ngũ cán bộ chủ chốt
thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý hiện nay

được tuyển dụng, bổ nhiệm làm nhiệm vụ thường xuyên trong biên chế, được
hưởng lương từ ngân sách nhà nước, theo ngạch, bậc lương được pháp luật quy
định” [52] Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, năm 2002, ghi công chức là:
"Người được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong cơ
quan nhà nước, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp" [65, tr.207]. Tuy
vậy trong thời gian dài từ công chức ít được sử dụng, từ cán bộ gần như được
dùng thay thế cho từ công chức, vì hình ảnh công chức trong xã hội cũ thường
bị coi là xấu "sáng vác ô đi, tối vác ô về". Từ những năm 90 của thế kỷ XX,
trở lại đây đã có người ta thường gọi những người công tác trong các cơ quan
nhà nước là công chức, những người đang công tác trong các cơ quan Đảng,
đoàn thể là cán bộ. Song tiêu thức phân biệt giữa khái niệm cán bộ và khái
niệm công chức chưa thực sự rõ ràng.
Trong Đại từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý chủ biên, xuất bản
năm 1999, từ cán bộ được định nghĩa là:
1. Người làm việc trong cơ quan nhà nước.
2. Người giữ chức vụ, phân biệt với người bình thường không giữ chức
vụ trong các cơ quan tổ chức nhà nước [19, tr.249].
Trong cuốn "Từ điển tiếng Việt", Nxb Đà Nẵng, năm 2002, nêu cán bộ
có hai nghĩa:
9
1. Người làm công tác có nghiệp vụ, chuyên môn trong cơ quan nhà
nước. Cán bộ nhà nước. Cán bộ khoa học. Cán bộ chính trị.
2. Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức
phân biệt với người thường không có chức vụ. Đoàn kết giữa cán
bộ và chiến sĩ. Họp cán bộ và công nhân nhà máy. Làm cán bộ
Đoàn thanh niên [65, tr.109].
Ở đây hàm nghĩa thứ nhất, cán bộ được xem như là người làm hành
chính công trong các cơ quan Nhà nước, bao gồm cả những người có chức vụ
hành chính cao nhất đến những người không có chức vụ hành chính nào, tất
cả đều nằm trong bộ máy, có nghĩa vụ, trách nhiệm trong bộ máy Nhà nước

của giai cấp cầm quyền. Người cán bộ cách mạng phải là người trung thành,
tận tuỵ vì lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân
tộc. Chính vì vậy Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, viết từ năm 1947,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra khái niệm: “Cán bộ là những người đem
chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi
hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính
phủ rõ, để đặt chính sách cho đúng” [45, tr.269].
Trước đây, trong chiến tranh cách mạng, cán bộ được coi là tất cả
những người thoát ly, làm việc trong bộ máy chính quyền, đảng, đoàn thể,
quân đội. Hiện nay, mặc dù hoàn cảnh thực tế khác đi và trong nhận thức của
con người cũng có nhiều thay đổi, nhưng trong cách hiểu thông thường nhất,
từ cán bộ trước hết vẫn đề phân biệt những người làm việc trong các cơ quan,
đơn vị của Đảng, Nhà nước, đoàn thể nằm trong biên chế, với những người
dân không nằm trong các tổ chức trên.
Trong cuốn "Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ
cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước", từ cán bộ được dùng
với rất nhiều nghĩa khác nhau:
- Trong các tổ chức Đảng, đoàn thể, từ cán bộ được dùng với hai nghĩa:
11
Một là, chỉ những người được bầu vào các cấp lãnh đạo, chỉ huy từ cơ
sở đến TW (cán bộ lãnh đạo) để phân biệt với đảng viên thường, đoàn viên,
hội viên; hai là, người làm công tác chuyên trách có hưởng lương trong các tổ
chức này.
- Trong quân đội là những chỉ huy từ tiểu đội trưởng trở lên (cán bộ tiểu
đội, cán bộ đại đội, cán bộ tiểu đoàn ) và thường là sĩ quan từ cấp uý trở lên.
- Trong hệ thống Nhà nước, từ cán bộ được hiểu cơ bản trùng với từ
công chức, chỉ những người làm việc trong các cơ quan hành chính, cơ quan
tư pháp. Đồng thời cán bộ cũng được hiểu là những người có chức vụ chỉ huy,
phụ trách, lãnh đạo (trưởng, phó phòng ).
Dù cách dùng, cách hiểu trong các trường hợp, các lĩnh vực cụ thể có

(được quy định tại quyết định phân cấp quản lý cán bộ): Cán bộ thuộc diện
TW quản lý (Bộ Chính trị, Ban Bí thư TW), cán bộ thuộc diện BTV tỉnh uỷ
(thành uỷ) quản lý, cán bộ thuộc diện BTV huyện uỷ (quận uỷ) quản lý Trên
cơ sở phân loại cán bộ như trên chúng ta thấy cần làm rõ khái niệm vị trí, vai
trò, đặc điểm của từng loại cán bộ, từ đó mới có cơ sở vững chắc để xây
dựng, hoạch định các chủ trương, chính sách về công tác cán bộ. Trong khuôn
khổ giới hạn của đề tài, ở đây chúng ta đi sâu vào khái niệm sau:
- Khái niệm cán bộ chủ chốt:
Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nằng, năm 2002, định nghĩa: "Chủ chốt
quan trọng nhất, có tác dụng làm nòng cốt. Cán bộ chủ chốt của phong trào"
[65, tr.174].
Trong mỗi tổ chức có những người lãnh đạo, nhiều tổ chức có tập thể
lãnh đạo. Những người đó là cán bộ chủ chốt. Vậy cán bộ chủ chốt là những
người đứng đầu quan trọng nhất, có tác dụng chi phối toàn bộ hoạt động của
một tổ chức nhất định.
Khi nghiên cứu cán bộ chủ chốt cần phân biệt cán bộ chủ chốt với cán
bộ lãnh đạo chủ chốt. Cán bộ lãnh đạo chủ chốt là người đứng đầu trong một
tổ chức, cán bộ chủ chốt là những người lãnh đạo của một tổ chức nhất định.
Chúng ta đã biết rằng:
13
Trong các tổ chức thuộc hệ thống chính trị của nước ta hiện nay
được phân thành nhiều cấp và nhiều bộ phận khác nhau. Nếu như ở
mỗi cấp, mỗi bộ phận trong các hệ thống tổ chức đều có một tập thể
lãnh đạo quản lý, thì những người đứng đầu quan trọng nhất, có
chức vụ cao nhất trong các tập thể ấy được gọi là cán bộ lãnh đạo
chủ chốt [57, tr.35].
Việc xác định cán bộ lãnh đạo chủ chốt không những phải gắn với một
hệ thống tổ chức nhất định mà còn phải căn cứ vào chức danh cụ thể của từng
người, bởi vì trong thực tế một người cán bộ "ở cương vị này, trong tổ chức
này là chủ chốt, nhưng trong mối quan hệ khác, vị trí khác, thì lại không phải

thời kỳ mà có những quy định cụ thể về phân cấp quản lý cán bộ. Khi nói
đến ĐNCBCC thuộc diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý hiện nay, tức
là nói đến những người giữ các chức vụ cao nhất trong hệ thống chính trị
của tỉnh và cấp huyện. Số cán bộ này do BTV Tỉnh uỷ quy định tiêu
chuẩn, xem xét quyết định đề bạt, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, giới
thiệu ứng cử, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện các chính sách cán bộ,
trên cơ sở Điều lệ Đảng, điều lệ của các đoàn thể và những quy định của
Pháp luật. BTV Tỉnh uỷ thông qua các cơ quan tham mưu của Tỉnh uỷ để
thực hiện chức năng quản lý: Nhận xét, đánh giá, quy hoạch, ĐTBD, bố
trí sử dụng cán bộ, theo dõi, kiểm tra, giám sát, quản lý hồ sơ lý lịch cán
bộ nhằm không ngừng nâng cao phẩm chất, trình độ và năng lực cán bộ
thuộc diện quản lý của mình.
Có thể hiểu khái niệm cán bộ chủ chốt thuộc diện BTV Tỉnh uỷ Bắc
Giang quản lý là những người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu các cơ
quan trong hệ thống bộ máy tổ chức: Đảng, chính quyền, MTTQ và các đoàn
thể chính trị - xã hội ở cấp tỉnh; những người đứng đầu, cấp phó của người
đứng đầu cấp uỷ đảng, chính quyền cấp huyện, chịu trách nhiệm tổ chức thực
hiện đường lối, nhiệm vụ chính trị, điều hành công tác, chỉ đạo CBCC thuộc
15
quyền quản lý của mình thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, kinh tế -
xã hội, an ninh quốc phòng của địa phương.
Thực hiện Quyết định số 49-QĐ/ TW ngày 03/5/1999 của Bộ Chính
trị, BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang đã ban hành Quy định số 135-QĐ/TU ngày
03/12/1999 về phân cấp quản lý cán bộ của tỉnh, trong đó, tại Điều 8, quy
định cụ thể đối tượng cán bộ thuộc diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý là:
- Ở cấp tỉnh: Các đ/c uỷ viên BTV, uỷ viên BCH Đảng bộ tỉnh, uỷ viên
UBND tỉnh, uỷ viên UBKT Tỉnh uỷ; các bí thư ban cán sự đảng, đảng đoàn;
phó chủ tịch HĐND tỉnh, phó chủ tịch UBND tỉnh; trưởng ban, phó trưởng
ban của Tỉnh uỷ; chánh văn phòng, phó văn phòng Tỉnh uỷ; hiệu trưởng,
Phó hiệu trưởng Trường Chính trị tỉnh; tổng biên tập, phó tổng biên tập Báo

kinh nghiệm lịch sử của xã hội loài người và từ chính quá trình nghiên cứu,
truyền bá lý luận khoa học vào phong trào công nhân C. Mác đã khẳng định:
"Tư tưởng căn bản không thể thực hiện được gì hết, muốn thực hiện tư tưởng
thì cần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn" [42, tr 181].
V.I.Lênin là người kế thừa và phát triển sáng tạo tư tưởng của C.Mác
và Ph.Ăngghen, xây dựng một đảng cách mạng của giai cấp công nhân. Bản
thân V.I. Lênin vừa là lãnh tụ của Đảng, đồng thời cũng là một lãnh tụ của
nhà nước XHCN đầu tiên trên thế giới. Trong di sản lý luận của người về
đảng kiểu mới, những quan điểm về cán bộ, vai trò của cán bộ có ý nghĩa thực
tiễn sâu sắc. Ngay từ những ngày đầu chuẩn bị cho việc thành lập một Đảng
cách mạng của giai cấp công nhân Nga, trong bài "Những nhiệm vụ bức thiết
của phong trào chúng ta" đăng trên tờ báo "Tia lửa" số 1 (tháng chạp năm
1900) V.I. Lênin đã chỉ rõ: "Trong lịch sử chưa hề có một giai cấp nào được
quyền thống trị, nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những
lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo
phong trào" [32, tr.473]. Theo Người, với lôgíc đó, giai cấp công nhân Nga chỉ
có thể lật đổ chế độ Nga Hoàng, giành chính quyền khi xây dựng cho mình được
17
một đội ngũ những nhà cách mạng chuyên nghiệp cho phong trào vô sản. Đó là
đội ngũ cán bộ nòng cốt đầu tiên của Đảng Cộng sản Bônsêvích Nga, những
người giúp Đảng "đảo ngược nước Nga lên" [33, tr.162], "những nhà chính trị
của giai cấp thực sự của mình, những nhà chính trị vô sản và không thua kém
những nhà chính trị tư sản" [37, tr.80-81]. Sau khi đã giành được chính
quyền, Người khẳng định: "nghiên cứu con người tìm những cán bộ có năng
lực, biết làm việc, thực chất vấn đề hiện nay chính là ở những chỗ đó, nếu
thiếu những điểm này thì tất cả mọi mệnh lệnh, mọi quy định sẽ chỉ là mớ
giấy lộn" [32, tr.449]. Trong hoạt động thực tiễn, Người đã trực tiếp tiến hành
nhìn nhận đánh giá, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ lãnh đạo, tổ chức ĐTBD cán
bộ để lãnh đạo giai cấp công nhân, nhân dân lao động Nga hoàn thành cuộc
Cách mạng Tháng Mười vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh những luận điểm của
C.Mác, V.I. Lênin, của Hồ Chí Minh và của Đảng ta về vai trò của đội ngũ
cán bộ là hoàn toàn đúng đắn.
Trong đội ngũ cán bộ công chức của tỉnh nói chung thì ĐNCBCC thuộc
diện BTV Tỉnh uỷ quản lý là những người đứng đầu, cấp phó của người đứng
đầu một ngành, một địa phương, một đơn vị trong hệ thống chính trị ở tỉnh và
cấp huyện, có vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp cách mạng, xây
dựng, bảo vệ đất nước nói chung và quê hương Bắc Giang nói riêng, vai trò
đó thể hiện ở những điểm chủ yếu sau:
Một là, ĐNCBCC thuộc diện BTV Tỉnh uỷ quản lý là lực lượng đi đầu,
nòng cốt trong việc tổ chức nghiên cứu, quán triệt, cụ thể hoá đường lối, chủ
trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước,
thông qua quá trình hoạch định, xây dựng các nghị quyết, quyết định, kế
hoạch, chương trình hành động, chính sách cụ thể trên tất cả các lĩnh vực của
đời sống xã hội ở địa phương, đơn vị. Do những chủ trương, chính sách của
Đảng và Nhà nước, phần lớn là ở tầm vĩ mô, mang tính bao quát, đòi hỏi phải
quán triệt sâu sắc, vận dụng một cách sáng tạo, linh hoạt, phù hợp với điều
19
kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương, đơn vị thì mới đi vào cuộc sống,
đem lại hiệu quả thiết thực.
ĐNCBCC thuộc diện BTV Tỉnh uỷ quản lý còn thể hiện vai trò to lớn
có tính quyết định của mình trong việc tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối,
chủ trương của TW Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cũng như các
nghị quyết, quyết định, kế hoạch, đề án, chương trình hành động của tỉnh. Vì
họ là những người lãnh đạo, trung tâm định hướng, điều khiển toàn bộ hoạt
động của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh; các cơ quan, sở, ban, ngành, đoàn thể
tỉnh; cấp uỷ, HĐND, UBND các huyện, thành phố, đảng uỷ trực thuộc Tỉnh
uỷ. Thông qua quá trình chỉ đạo hoạt động thực tiễn họ tổng kết được những
kinh nghiệm, bài học, góp phần bổ sung, hoàn thiện các chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước.

vai trò quan trọng nhất trong việc quan tâm chăm lo, bảo vệ lợi ích chính
đáng về tinh thần và vật chất của cán bộ đảng viên và mọi người dân, phát
huy dân chủ trong Đảng, động viên và phát huy tinh thần làm chủ của nhân
dân tích cực tham gia các phong trào hoạt động, nhằm xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc, phát triển kinh tế- xã hội ở địa phương.
Năm là, ĐNCBCC thuộc diện BTV Tỉnh uỷ quản lý còn là nguồn bổ
sung cán bộ cho các cơ quan, bộ, ban, ngành, đoàn thể TW. Bởi vì hầu hết cán
bộ trong đó đã trưởng thành từ các phong trào cách mạng ở địa phương, được
đào tạo cơ bản về các mặt, thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo
đức, trải qua quá trình công tác ở địa phương đã tích luỹ được nhiều kinh
nghiệm thực tiễn, nhiều đ/c độ tuổi còn trẻ, có nhiều triển vọng, có thể đảm
đương được chức vụ cao hơn.
1.1.1.3. Đặc điểm chủ yếu của đội ngũ cán bộ thuộc diện Ban
Thường vụ Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý hiện nay
- ĐNCBCC thuộc diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý là đội ngũ cán
bộ giữ các chức vụ quan trọng nhất trong hệ thống chính trị ở tỉnh và cấp
huyện, đại đa số các đ/c đều kiêm nhiệm một hoặc một số chức vụ khác trong
21
công tác Đảng, chính quyền, đoàn thể. Do vậy có ảnh hưởng lớn đối với đội
ngũ cán bộ của tỉnh. Đây là đội ngũ cán bộ có số lượng không nhiều, thường
từ 300 đến 350 người, chiếm khoảng 1% tổng số CBCC, viên chức toàn tỉnh.
Song lại có vị trí rất quan trọng trong việc xây dựng các nghị quyết, quyết
định, lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế- xã hội của địa
phương trong từng thời kỳ.
- Đây là đội ngũ cán bộ hiểu biết sâu, rộng về đường lối, chủ trương,
chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, am hiểu
tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng ở trong nước
và ở địa phương; có kiến thức, kinh nghiệm hoạt động trong công tác xây
dựng đảng, đoàn thể, vận động quần chúng, QLKT, QLNN; có năng lực tổ
chức, quản lý, chỉ đạo tổng kết kinh nghiệm thực tiễn; có khả năng nghiên

việc, có tinh thần tương thân, tương ái, đoàn kết gắn bó với cộng đồng, gần gũi
với quần chúng nhân dân, được quần chúng nhân dân tín nhiệm.
- ĐNCBCC thuộc diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý đều do tập thể
BTV Tỉnh uỷ xem xét ra nghị quyết, quyết định luân chuyển, bổ nhiệm, bổ
nhiệm lại hoặc giới thiệu ứng cử. Do vậy đều là đối tượng điều chỉnh của quy
chế bổ nhiệm, quy chế bầu cử hiện hành, được thực hiện theo một quy trình
chặt chẽ có xem xét đánh giá phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, năng lực
trình độ, kết quả hoàn thành nhiệm vụ, quan hệ với quần chúng Trong quá
trình đó họ một mặt chịu sự chi phối trực tiếp hoặc gián tiếp của BTV Tỉnh
uỷ. Đồng thời họ phải chịu sự giám sát, kiểm tra, đánh giá của các cơ quan, tổ
chức có liên quan và quần chúng nhân dân nơi công tác và nơi cư trú.
- ĐNCBCC thuộc diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý có đặc điểm là
tuổi đời bình quân cao, phần lớn đều trên 50 tuổi, vì vậy phần nào ảnh hưởng
đến sức khoẻ, năng lực công tác. Là tỉnh miền núi nhiều dân tộc anh em cùng
chung sống, nhưng số cán bộ là người dân tộc thiểu số còn ít, tỷ lệ cán bộ nữ
không cao. Một số đ/c còn chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng phong kiến lạc hậu tư
23
tưởng tiểu nông, sản xuất nhỏ, biểu hiện ra thành những bệnh cá nhân chủ
nghĩa như: Hẹp hòi, ích kỷ, gia trưởng, trọng nam khinh nữ, kinh nghiệm, cục
bộ, địa phương
- Trong đội ngũ cán bộ thuộc diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý
nhiều đ/c đã trải qua thời gian công tác trong quân đội, thanh niên xung
phong, tham gia kháng chiến giải phóng dân tộc hoặc các cuộc chiến tranh
bảo vệ tổ quốc nên ít có điều kiện học tập chính quy có hệ thống tại các
trường đại học, trung học chuyên nghiệp, mà chủ yếu là học tập các hệ ĐTBD
không chính quy, trong thời gian tại chức sau này và tích luỹ kinh nghiệm
trong hoạt động thực tiễn; trình độ ngoại ngữ, tin học của đội ngũ cán bộ trên
cũng còn bất cập trước yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ hội nhập quốc tế về
kinh tế. Điều đó đòi hỏi trong những năm tới phải tăng cường công tác quy
hoạch, ĐTBD cán bộ, từng bước bố trí xắp xếp, đội ngũ cán bộ hợp lý hơn.

Hai là, quán triệt cơ cấu cán bộ trong quy hoạch: Trong quy hoạch phải
xác định cơ cấu, tỷ lệ 3 độ tuổi, đảm bảo tính đồng bộ, tính kế thừa và phát
triển, tránh tình trạng "hẫng hụt" cán bộ. Quy hoạch còn phải chú trọng cơ cấu
giai cấp, dân tộc, giới tính hợp lý.
Ba là, xác định rõ tiêu chuẩn từng chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý, lấy
đó làm cơ sở thực hiện việc đánh giá cán bộ, lựa chọn đúng cán bộ đưa vào quy
hoạch và ĐTBD cán bộ theo tiêu chuẩn.
Bốn là, xác định đúng nguồn cán bộ phạm vi và đối tượng quy hoạch.
Quan niệm về QHCB có nội dung thứ hai là dự kiến bố trí, sắp xếp
tổng thể đội ngũ cán bộ theo một ý đồ nhất định với một trình tự hợp lý, trong
một thời gian nhất định, đó là:
- Các chức danh trong quy hoạch phải được xác định rõ ràng, cụ thể
như: Cán bộ Đảng, chính quyền hay đoàn thể, cán bộ cấp trưởng hay cấp phó.
- Cần đặt QHCB trong mối quan hệ hữu cơ với các khâu khác của công
tác cán bộ, như khâu đánh giá cán bộ để làm cơ sở cho việc lựa chọn cán bộ
25

Trích đoạn Cụ thể hoá tiêu chuẩn hoá các chức danh cán bộ chủ chốt thuộc diện quy hoạch Ban Thường vụ Tỉnh uỷ quản lý Rà soát, đánh giá đội ngũ cán bộ chủ chốt (đương chức và dự nguồn quy hoạch) thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ quản lý; xác định Cụ thể hoá quy trình quyhoạch đội ngũ cán bộ chủ chốt diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ quản lý Quản lý, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng, luân chuyển cán bộ theo quy hoạch Định kỳ kiểm tra, đánh giá, bổ sung, hoàn chỉnh quyhoạch cán bộ chủ chốt thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ quản lý
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status