Nâng cao năng lực tổng kết thực tiễn cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện đồng bằng song Cửu Long. - Pdf 13

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghóa, vấn đề cán bộ luôn giữ vai
trò quan trọng hàng đầu, quyết đònh sự thành công hay thất bại của các phong
trào cách mạng. Trên cơ sở kế thừa và phát triển những quan điểm của chủ
nghóa Mác- Lênin về công tác cán bộ, Chủ tòch Hồ Chí Minh trong quá trình
lãnh đạo cách mạng Việt Nam đã luôn quan tâm tới việc giáo dục, bồi dưỡng
đội ngũ cán bộ nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng. Người nói:
“cán bộ là cái gốc của mọi cộng việc. Vì vậy, huấn luyện cán bộ là công việc
gốc của Đảng” [47, tr.269]. Trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước hiện
nay đòi hỏi người cán bộ phải có đạo đức cách mạng, có năng lực và trí tuệ.
Trong đó năng lực tổng kết thực tiễn là một trong những phẩm chất cần có của
người cán bộ lãnh đạo, quản lý. Năng lực đó có vai trò vô cùng to lớn trong quá
trình tổ chức, xây dựng và phát triển kinh tế, chính trò, văn hóa - xã hội, an ninh
- quốc phòng
Tổng kết thực tiễn có vai trò to lớn đối với lý luận, góp phần khắc phục
bệnh kinh nghiệm, giáo điều, chủ quan, duy ý chí Không có tổng kết thực tiễn
thì lý luận không thể phát triển được, chỉ trên cơ sở tổng kết thực tiễn thì lý luận
mới được kiểm nghiệm, hoàn chỉnh và bổ sung. Đối với người cán bộ lãnh đạo,
quản lý thì năng lực tổng kết thực tiễn là một yêu cầu rất quan trọng, đặc biệt là
đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp huyện, bởi cấp huyện là nơi trực
tiếp triển khai mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước đến cấp cơ sở, đồng thời kiểm tra việc thực hiện chủ trương, đường
lối, chính sách đó.
Để việc kiểm tra, tổng kết, rút kinh nghiệm trong quá trình cụ thể hóa chủ
trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước xuống cấp cơ
sở có hiệu quả đòi hòi đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý phải có năng lực tổng
1
kết thực tiễn. Muốn vậy, người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải có năng lực tư duy
lý luận, có tri thức, có tầm nhìn xa, trông rộng, Hơn nữa, thực tiễn luôn vận
động và biến đổi không ngừng, đòi hỏi năng lực tổng kết thực tiễn của cán bộ

quản lý cấp tỉnh”, Trần Văn Phòng, Tạp chí Lý luận chính trò, số 3-1997.
- “Nâng cao năng lực tổng kết thực tiễn cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp
huyện ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn thạc só Triết học của Nguyễn Xuân
Phương, 1998.
Các tác giả đã đề cập nhiều tới những vấn đề về năng lực tổ chức thực
tiễn và năng lực tổng kết thực tiễn cũng như vai trò của chúng đối với cán bộ
lãnh đạo, quản lý. Tuy nhiên các công trình này đề cập chủ yếu đến năng lực tổ
chức thực tiễn của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện nói chung hoặc là cán bộ
chủ chốt cấp huyện miền núi của tỉnh Lâm Đồng.
Vấn đề “Nâng cao năng lực tổng kết thực tiễn cho đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp huyện Đồng bằng sông Cửu Long” vẫn còn là mảng đề tài cần tiếp
tục được nghiên cứu sâu hơn. Vì vậy, tác giả chọn đề tài này để nghiên cứu với
mong muốn được góp sức mình vào sự nghiệp xây dựng, phát triển kinh tế - xã
hội ở Bạc Liêu.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích của luận văn
Trên cơ sở phân tích thực trạng năng lực tổng kết thực tiễn cho đội ngũ
cán bộ chủ chốt cấp huyện đồng bằng sông Cửu Long (qua thực tế Bạc Liêu),
3
đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm từng bước nâng cao năng lực tổng kết
thực tiễn của đội ngũ cán bộ này.
- Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn là:
+ Phân tích, làm rõ năng lực tổng kết thực tiễn, vai trò của nó trong công
tác lãnh đạo, quản lý ở cấp huyện.
+ Tìm hiểu thực trạng, nguyên nhân những yếu kém về năng lực tổng kết
thực tiễn của cán bộ chủ chốt cấp huyện đồng bằng sông Cửu Long, qua thực tế
tỉnh Bạc Liêu hiện nay.
+ Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hơn nữa năng lực
tổng kết thực tiễn cho đội ngũ cán bộ này.

nói riêng.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham
khảo trong nghiên cứu và giảng dạy ở hệ thống các trường chính trò tỉnh, trung
tâm bồi dưỡng chính trò huyện, thò và các đề tài nghiên cứu có liên quan sau
này.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn được chia làm 2 chương, 4 tiết.
5
chương 1
NĂNG LỰC TỔNG KẾT THỰC TIỄN
VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI CÔNG TÁC LÃNH ĐẠO,
QUẢN LÝ CỦA CÁN BỘ CHỦ CHỐT Ở CẤP HUYỆN
1.1. NĂNG LỰC TỔNG KẾT THỰC TIỄN VÀ NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
TỚI NĂNG LỰC TỔNG KẾT THỰC TIỄN
1.1.1. Thực chất của năng lực tổng kết thực tiễn
Thực tiễn bắt nguồn từ tiếng Hylạp (Pratica) có nghóa là hoạt động tích
cực, chủ động. Trong lòch sử triết học có rất nhiều quan điểm khác nhau về thực
tiễn, có thể phân các quan điểm khác nhau về thực tiễn đó thành hai trào lưu
như sau.
Quan điểm của các trào lưu triết học trước Mác với những đại biểu như:
Điđơrô (nhà triết học Pháp thế kỷ XVIII) đã đề cập đến phạm trù thực tiễn
nhưng hiểu nó chưa đầy đủ. Thực tiễn được hiểu là hoạt động thực nghiệm khoa
học trong phòng thí nghiệm. Phoiơbắc nhà triết học duy vật siêu hình (người
Đức) quan niệm thực tiễn chỉ là những hành động bẩn thỉu có tính chất con
buôn. Hêghen nhà triết học duy tâm khách quan (người Đức) cho thực tiễn chỉ
là khái niệm, tư tưởng thực tiễn chứ không phải bản thân thực tiễn với tư cách là
hoạt động vật chất.
Một số nhà triết học duy tâm, tuy đã thấy được mặt năng động, sáng tạo
trong hoạt động của con người, nhưng cũng chỉ hiểu thực tiễn như là hoạt động

thế giới khách quan đó để làm biến đổi, cải tạo nó theo nhu cầu và mục đích
của mình. Để tác động vào thế giới khách quan đó một cách tích cực, sáng tạo
đòi hỏi con người phải có sự nhận thức. Bởi nhận thức là hoạt động đặc trưng
của con người, nó được biểu hiện ra trong mối quan hệ với thực tiễn. Hay nói
khác đi, nhận thức nảy sinh, tác động và phát triển từ thực tiễn và vì thực tiễn
của con người. V. I. Lênin nhận xét: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải
là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức” [39, tr. 167]. Theo
triết học Mác thì thực tiễn là một phạm trù triết học dùng để chỉ toàn bộ những
hoạt động vật chất cảm tính, có mục đích, mang tính lòch sử – xã hội của con
người nhằm cải tạo thế giới tự nhiên và xã hội phục vụ con người.
Như trên đã trình bày hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chất của con
người, chỉ thông qua thực tiễn thì con người mới nhận thức, cải tạo được thế giới
khách quan. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động thực tiễn đó đòi hỏi con người
phải biết tổng kết, rút kinh nghiệm để từ đó tìm ra phương án tối ưu nhất cho
hoạt động thực tiễn tiếp theo. Trong hoạt động lãnh đạo, quản lý cũng vậy đòi
hỏi người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải biết tổng kết thực tiễn để thấy những
mặt nào làm được, những mặt nào chưa làm được, từ đó mà rút ra những bài học
kinh nghiệm để chỉ đạo hoạt động thực tiễn tiếp theo tốt hơn. Vậy, tổng kết thực
tiễn là gì?
Để hiểu được tổng kết thực tiễn là gì, chúng ta phải xuất phát từ tổ chức
thực tiễn. Tổ chức thực tiễn là một hệ thống khép kín bao gồm trong đó các
khâu, các quy trình như: chuẩn bò và ra quyết đònh; tổ chức bộ máy và con người
để thực hiện quyết đònh; kiểm tra việc thực hiện quyết đònh; tổng kết rút kinh
nghiệm.
Như vậy, tổng kết thực tiễn là một mắt khâu trong hoạt động tổ chức thực
tiễn, đây là một quá trình bằng tư duy khoa học với phương pháp biện chứng
8
duy vật làm cơ sở để phân tích, đánh giá, khái quát thực tiễn, rút ra những bài
học kinh nghiệm cho chỉ đạo thực tiễn tiếp theo, cũng như kiểm tra, bổ sung,
hoàn thiện, phát triển lý luận và đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước.

nó cũng thực hiện một quy trình với đầy đủ các khâu từ việc chọn vấn đề tổng
kết; thu thập xử lý thông tin liên quan đến vấn đề tổng kết; rút ra kết luận; vận
dụng các kết luận vào quy trình tổ chức thực tiễn tiếp theo. Vì vậy, để việc tổng
kết thực tiễn đạt hiệu quả cao thì người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải có năng
lực tổng kết thực tiễn. Vậy năng lực tổng kết thực tiễn là gì ? Để hiểu nó trước
hết ta cần phải làm rõ khái niệm năng lực là gì ?
Với tư cách là một phạm trù, năng lực đã được nhiều ngành khoa học,
nhiều tác giả tiếp cận với những cấp độ và khía cạnh khác nhau, đem lại những
kết quả mang tính đặc trưng của mỗi ngành.
“Năng lực nói chung được hiểu là khả năng của chủ thể trong việc thực
hiện có kết quả cao một hoạt động hoặc một công việc nào đó trong điều kiện
nhất đònh, là những phẩm chất của con người tạo cho họ có khả năng hoàn thành
một hoạt động nhất đònh có hiệu quả nhất” [52, tr. 49]
Theo từ điển tiếng việt: “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc
tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó ở mức độ cao, hoặc năng lực
được hiểu là những phẩm chất của con người tạo cho con người đó khả năng
hoàn thành có kết quả một quá trình hoạt động nhất đònh” [64,tr.639].
Năng lực còn được hiểu là: “Tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá
nhân, phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất đònh nhằm
đảm bảo hoàn thành có kết quả tốt trong lónh vực hoạt động ấy” [27, tr. 174].
Như vậy, năng lực là khả năng thực tế mà con người có được thông qua
trau dồi học vấn, hoạt động thực tiễn, tích lũy kinh nghiệm, tự giáo dục và tự
đào tạo để đáp ứng một yêu cầu nào đó của công việc được giao phó nhằm giải
10
quyết những nhiệm vụ hay xử lý những tình huống đặt ra trong công tác, trong
đời sống hằng ngày. Năng lực là những khả năng của chủ thể hoạt động được sử
dụng để đáp ứng những đòi hỏi của công việc, của đối tượng và khách thể đặt
ra. Khi nói đến năng lực phải nói đến từng con người cụ thể, đó là người đã
trưởng thành về mặt xã hội, là một cá nhân, một chủ thể mang nhân cách. Tùy
thuộc vào nghề nghiệp, vò thế xã hội, chức trách của từng cá nhân mà biểu

lực tổng kết thực tiễn là một yêu cầu rất quan trọng đối với cán bộ lãnh đạo,
quản lý ở các cấp, đặc biệt là cán bộ chủ chốt cấp huyện. Tuy nhiên, trong thực
tế không phải ai cũng có năng lực tổng kết thực tiễn, bởi mỗi người sinh ra và
lớn lên trong một điều kiện, hoàn cảnh khác nhau, trường đời khác nhau, môi
trường học tập khác nhau, nên nhận thức của họ có sự khác nhau, có khi người
có trình độ học vấn rất cao nhưng không thể là người cán bộ lãnh đạo, quản lý
được, nói về vấn đề này Lênin đã chỉ rõ: “Bất kỳ công tác quản lý nào cũng
đều đòi hỏi phải có những đặc tính riêng biệt, có người có thể là một nhà cách
mạng và nhà cổ động cừ nhất nhưng làm một cán bộ quản lý thì hoàn toàn
không thích hợp” [37, tr. 250].
Trong tất cả các năng lực của con người, thì năng lực tổng kết thực tiễn là
một nhân tố đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động thực tiễn của con người.
Năng lực tổng kết thực tiễn được thể hiện ra: Sự nhạy cảm của chủ thể tổng kết
thực tiễn đối với những vấn đề thực tiễn cần tổng kết; khả năng xử lý thông tin
một cách nhanh nhạy, chính xác và kòp thời; khả năng khái quát hóa để rút ra
được những kết luận mang tính lý luận từ thực tiễn đã qua; khả năng vận dụng
được những bài học kinh nghiệm đã rút ra từ thực tiễn đã qua để tổ chức những
hoạt động thực tiễn tiếp theo.
12
1.1.2 Những yếu tố ảnh hưởng tới năng lực tổng kết thực tiễn của cán bộ
lãnh đạo chủ chốt cấp huyện
Có rất nhiều yếu tố khác nhau ảnh hưởng tới năng lực tổng kết thực tiễn
của người cán bộ lãnh đạo, quản lý, sự ảnh hưởng ấy có thể nhiều hay ít trực
tiếp hoặc gián tiếp.
Trước hết là những yếu tố sinh học có tính chất bẩm sinh của chủ thể
tổng kết thực tiễn. Có thể hiểu chủ thể ở đây là cá nhân người cán bộ lãnh đạo,
quản lý, mà cá nhân là con người đã hoàn chỉnh với tính cách là sản phẩm đầy
đủ của xã hội, là chủ thể của lao động, của quan hệ xã hội và của nhận thức. Cá
nhân là một con người hoàn chỉnh ở chỗ họ là sự thống nhất giữa khả năng riêng
có của người đó với chức năng xã hội mà con người đó thực hiện. Cá nhân là

theo truyền thống mà ít chòu nghiên cứu, chòu học hỏi. Người công nhân thì họ
gắn với nhà máy, với xí nghiệp nên họ luôn có tính tổ chức, tính kỹ luật cao,
luôn tìm tòi, suy nghó để làm sao tạo ra được sản phẩm có mẫu mã đẹp, chất
lượng cao, luôn suy nghó để tìm cách cải tiến máy móc … Hay theo một số nhà
nghiên cứu cho rằng, con người ở đồng bằng sông Cửu Long nói riêng, ở Nam
bộ nói chung vẫn mang cốt cách của người Việt Nam. Nhưng do nhiều biến đổi
của lòch sử và đặc điểm làm ăn sinh sống nên lòng yêu nước, sống có thủy
chung, có tình có nghóa, tự lực tự cường … của con người Việt Nam đã có những
biểu hiện đặc thù. Con người vùng đồng bằng sông Cửu Long yêu thích sự tự do
tự tại, hòa đồng giữa các thế hệ người, với thiên nhiên bao la, với bầu bạn gần
xa nên rất mến khách, chi tiêu phóng khoáng, đối xử dễ dãi với con người, với
công việc, tính khí ngang tàng với cách sống chòu chơi và đã chơi là chơi hết
mình, chơi tới nơi làm tới chốn nên trọng nghóa mà khinh tài, trọng thực chất mà
không chuộng khoa trương, tính tình mộc mạc, thẳng thắn, bộc trực, ham làm ít
14
nói mà đã nói thì phải làm, ít lễ nghi rườm rà, không thích khách sáo hay khoe
khoang … Những nét tính cách này với cả mặt tích cực và hạn chế đã thấm vào
nếp nghó, tâm hồn, tình cảm, phong cách của con người vùng đồng bằng sông
Cửu Long nói riêng, con người Nam bộ nói chung. Điều này cũng ảnh hưởng tới
năng lực tổng kết thực tiễn của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện đồng bằng
sông Cửu Long nói chung, tỉnh Bạc Liêu nói riêng.
Như chúng ta đã biết ý thức xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội, có nghóa
là điều kiện sống, điều kiện lao động sản xuất, môi trường làm việc … như thế
nào thì sẽ hình thành nên những quan điểm, tư tưởng, nhận thức, tình cảm, thói
quen, phong tục tập quán như thế ấy. Chính điều này đã cho chúng ta thấy cơ
chế tập trung quan liêu bao cấp ở Việt Nam trước đây đã tạo ra những con người
thụ động, chỉ biết trông chờ, ỷ lại. Sau khi đất nước đổi mới, chuyển sang nền
kinh tế thò trường đònh hướng XHCN với xu hướng toàn cầu hóa, quốc tế hóa
nền kinh tế đã tạo ra những con người năng động, sáng tạo, luôn tự học hỏi, trau
dồi, tìm tòi, rèn luyện để không ngừng nâng cao tri thức cho mình, trong đó có

làm việc, trang thiết bò, máy móc, phương tiện … Nếu nơi làm việc thoáng mát,
bố trí hợp lý sẽ tạo ra bầu không khí thoải mái, hưng phấn cho người làm việc.
Các trang thiết bò, máy móc, phương tiện đi lại, nếu được trang bò đầy đủ thì sẽ
phát huy hết mọi khả năng của con người, nó giúp cho người cán bộ lãnh đạo,
quản lý nắm bắt, xử lý thông tin một cách kòp thời, nhanh chóng và chính xác.
Nhu cầu và lợi ích là một yếu tố ảnh hưởng quan trọng và trực tiếp đến
năng lực tổng kết thực tiễn. Nhu cầu và lợi ích là động lực bên trong của mọi
hoạt động của con người, nó là nguyên nhân, là nguồn gốc dẫn đến suy nghó của
16
con người đúng hay sai, công bằng hay không công bằng, là động lực để thôi
thúc con người vươn lên trong cuộc sống, trong công việc hoặc nó kìm hãm ý chí
phấn đấu của con người. Xét đến cùng mọi hoạt động của con người, trong đó
có hoạt động tổng kết thực tiễn, đều nhằm đạt được những lợi ích nhất đònh nào
đó để thỏa mãn nhu cầu của mình. Trong tác phẩm “Gia đình thần thánh”, C.
Mác – Ph. Ăngghen đã từng đưa ra luận điểm: Lòch sử chẳng qua chỉ là những
hoạt động của những con người đang đeo đuổi những mục đích của mình. Mà
cái chi phối mục đích hoạt động của con người lại chính là lợi ích.
Thật vậy, nhu cầu và lợi ích là cái luôn chi phối trong suy nghó và hành
động của con người. Bởi con người luôn có nhu cầu, khi nhu cầu này được thỏa
mãn thì nhu cầu khác tiếp tục được nảy sinh.Để thỏa mãn nhu cầu đó thì phải có
lợi ích kèm theo, dù lợi ích đó nhiều hay ít, có thỏa mãn hay không thỏa mãn thì
cũng đáp ứng được phần nào nhu cầu của họ. Chúng ta sống và làm việc theo
đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước thì phải đặt lợi ích của
tập thể, của nhân dân, của tổ chức lên trước rồi mới tới lợi ích của cá nhân, của
gia đình, nhưng xét đến cùng phải đảm bảo được lợi ích của từng cá nhân, gia
đình thì mới đảm bảo được các lợi ích khác. Bởi mỗi cá nhân nếu không đảm
bảo được nhu cầu tối thiểu là ăn, ở, mặc, đi lại … thì khó có thể có sự hưng phấn
để làm những công việc khác, hay đối với người cán bộ chủ chốt cấp huyện thì
họ cũng ít đầu tư suy nghó để nâng cao năng lực của mình. Thực tế cho thấy có
những cán bộ do bò lợi ích cá nhân chi phối nên mất phẩm chất, nói một đường,

được tri thức, trí tuệ. Tri thức, trí tuệ giúp người cán bộ thích nghi với điều kiện
mới, thích nghi với những thành tựu của khoa học kỹ thuật mới, từ đó mới có
điều kiện nâng cao năng lực của mình về mọi mặt trong đó có năng lực tổng kết
thực tiễn.
18
Đối với người cán bộ chủ chốt cấp huyện thì trình độ lý luận chính trò là
rất cần thiết. Nếu họ không có một trình độ lý luận chính trò nhất đònh hoặc
không được học tập, bồi dưỡng, giáo dục về lý luận chính trò thì họ sẽ gặp rất
nhiều khó khăn trong công tác, đặc biệt là trong tổng kết thực tiễn họ sẽ không
có được tư duy biện chứng, khoa học trong việc lựa chọn, phân tích, xử lý vấn
đề để tổng kết, họ sẽ rơi vào chủ nghóa kinh nghiệm, giáo điều, chủ quan, duy ý
chí. Nếu người cán bộ lãnh đạo, quản lý mà trình độ lý luận yếu kém thì trong
tổng kết thực tiễn chắc chắn họ sẽ dừng lại ở trình độ kinh nghiệm, nghóa là khi
đánh giá, phân tích một vấn đề nào đó họ chỉ nhìn thấy bề ngoài mà không tìm
hiểu một cách cặn kẽ bản chất bên trong của vấn đề, xem mọi vấn đề là như
nhau, không thấy được vấn đề nào là cơ bản, không cơ bản. Trong công việc thì
thiếu tính kế hoạch hoặc có kế hoạch thì không chặt chẽ, thiếu tính khoa học.
Trong xử lý những vấn đề nảy sinh thì không sâu sắc, lúng túng, làm cho qua
loa, cho có làm. Tuy nhiên trình độ kinh nghiệm cũng giúp người cán bộ giải
quyết thành công một số công việc, một số tình huống cá biệt nhưng hiệu quả
chắc chắn sẽ không cao.
Trình độ lý luận của người cán bộ được hình thành thông qua môi trường
giáo dục, qua cuộc sống, qua kinh nghiệm công tác, sự tự học hỏi, tự rèn luyện…
Nếu người cán bộ không được giáo dục về lý luận chính trò thì sẽ gặp rất nhiều
khó khăn trong công tác cũng như trong tổng kết thực tiễn. Người chưa được học
về lý luận chính trò, chưa thấm nhuần lý luận, chưa nắm và hiểu sâu về đường
lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước thì trong tổng kết thực tiễn tất
yếu dễ rơi vào kinh nghiệm, giáo điều. Tuy nhiên có nhiều cán bộ lãnh đạo,
quản lý được học tập về lý luận chính trò một cách nghiêm túc, họ được trang bò
thế giới quan duy vật biện chứng, phương pháp nghiên cứu khoa học, nhưng

Đảng và Nhà nước. Thực trạng đó, một phần là do cơ chế điều động, bố trí, sắp
20
xếp cán bộ của ta còn chưa hợp lý. Điều động, bố trí không đúng người, đúng
việc, có người có chuyên môn này nhưng được bố trí ở bộ phận khác trái với
chuyên môn của mình nên hiệu quả công việc là không cao.
Năng lực tổng kết thực tiễn cũng phụ thuộc vào phẩm chất đạo đức của
chủ thể tiến hành tổng kết thực tiễn. Người cán bộ nếu chỉ có trình độ học vấn,
trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trò… cũng chưa đủ mà đòi hỏi họ cần
phải có đạo đức cách mạng, phải có tâm, có tầm, trung thực, chí công vô tư.
Không được phai nhạt lý tưởng và mất lòng tin vào sự nghiệp xây dựng chủ
nghóa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng. Không được tham nhũng, hối lộ, tiêu
xài phung phí, chạy theo cám dỗ của đồng tiền, lối sống vò kỷ, thái độ gia
trưởng trong lãnh đạo và quản lý, không nên có tư tưởng cục bộ, bè phái, đố kỵ,
nói một đường làm một nẻo, bằng mặt không bằng lòng…
Nếu người cán có khả năng tổng kết thực tiễn một cách có lý luận nhưng
bò chủ nghóa cá nhân, chủ nghóa thành tích, lợi ích vật chất … chi phối thì những
kết luận được rút ra khó mà đảm bảo tính khách quan, tính khoa học.
Người cán bộ lãnh đạo, quản lý là người phải luôn gương mẫu, đi đầu
trong mọi công việc, trong quan hệ với cấp dưới phải nguyên tắc, đúng mực,
phải thoải mái, vui vẻ, phải làm cho cấp dưới tôn trọng, kính nể một cách tự
giác và vì vậy cấp dưới sẽ rất nhiệt tình, thoải mái cung cấp thông tin một cách
kòp thời, chính xác, giúp cho người cán bộ lãnh đạo tổng kết thực tiễn một cách
có hiệu quả. Trong quan hệ với dân phải coi mình như người đầy tớ của dân,
phải vui vẻ ân cần, cái gì dân không biết không hiểu phải chỉ đến nơi đến chốn,
không được bắt nạt dân, đứng trên dân, xa rời dân, có như vậy dân sẽ tin tưởng,
sẽ nhiệt tình cung cấp những thông tin mà có thể người cán bộ lãnh đạo đó chưa
được hoặc nắm được mà chưa đầy đủ, chính xác.
Năng lực nói chung, năng lực tổng kết thực tiễn nói riêng phụ thuộc vào
rất nhiều yếu tố, các yếu tố đó có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua
21

chủ yếu thể hiện sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện sự quản lý của Nhà nước đối
với dân. Cho nên, sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đều phải
hướng về cơ sở. Điều này được thực hiện trực tiếp và chủ yếu thông qua cấp
huyện. Nếu cấp tỉnh được coi là một đòa bàn vó mô trong sự phát triển kinh tế -
xã hội của quốc gia, còn cấp cơ sở là từng đơn vò vi mô nền tảng của vó mô đó
thì cấp huyện là cầu nối không thể thiếu giữa cấp vó mô và cấp vi mô.
Tuy nhiên, không nên quan niệm cấp huyện chỉ là cấp trung gian chuyển
tiếp giữa tỉnh và cơ sở; tức xem cấp huyện chỉ làm nhiệm vụ truyền đạt mệnh
lệnh từ tỉnh xuống cơ sở, đôn đốc việc thực hiện và phản hồi thông tin về những
kết quả cho tỉnh. Thực tế cho thấy, cấp huyện có vai trò độc lập của mình trong
tổ chức, điều hành và quản lý toàn bộ sự vận động của nền kinh tế - xã hội trên
đòa bàn huyện. Cho nên, cấp huyện phải là một cấp kế hoạch, cấp ngân sách,
chiến lược kinh tế - xã hội của quốc gia được thể hiện qua cấp tỉnh; kế hoạch
cấp tỉnh được thể hiện qua cấp huyện; kế hoạch cấp huyện thể hiện qua cấp cơ
sở. Cấp huyện không chỉ là cấp trên trực tiếp của cơ sở để chuyển tải những tư
tưởng chỉ đạo của tỉnh xuống cơ sở mà cấp huyện còn là một cấp có vai trò đặc
biệt quan trọng trong việc tổ chức thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp và nông thôn, cũng là cấp trực tiếp lãnh đạo và tổ chức
việc thực hiện Nghò quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước, các chương
trình kinh tế - xã hội của quốc gia, của tỉnh, của huyện và ở từng cơ sở.
Có nhiều quan điểm khác nhau bàn về vấn đề cán bộ chủ chốt cấp
huyện. Có quan điểm cho: “Người cán bộ lãnh đạo trước hết phải là người tiêu
biểu cho lý tưởng cách mạng, cho lẽ sống; là người có tri thức toàn diện uyên
thâm của thời đại mình” [55, tr. 13]. Một quan điểm khác cho: “cán bộ lãnh đạo
chủ chốt là những người cán bộ lãnh đạo nhưng lãnh đạo toàn diện, có trọng
23
trách nặng nề nhất, có quyền thay mặt tập thể lãnh đạo giải quyết các vấn đề
và chòu trách nhiệm trước tập thể” [55, tr. 139]. Qua hai quan điểm vừa nêu
trên, ta thấy rằng chỉ đề cập đến những vấn đề chung nhất, cơ bản nhất của
người cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt chứ chưa thật sự đầy đủ, chưa chỉ ra

Huyện ủy, Chủ tòch và Phó chủ tòch Hội đồng nhân dân – Ủy ban nhân dân
huyện, Trưởng các Ban đảng của huyện, Chủ tòch Mặt trận Tổ quốc, Trưởng
Quân sự và Trưởng công an huyện.
Tuy có nhiều cách xem xét khác nhau về chức danh cán bộ chủ chốt cấp
huyện, nhưng mỗi cách xem xét như vậy đều có thế mạnh riêng của mình.
Qua tìm hiểu vò trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của người cán bộ chủ
chốt cấp huyện ta thấy rằng cán bộ chủ chốt cấp huyện là một bộ phận rất quan
trọng, là những người làm công tác lãnh đạo một cách toàn diện trên tất cả các
lónh vực của đời sống xã hội. Với vò trí như vậy, họ là những người có tầm hoạt
động trên đòa bàn huyện và có ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ huyện mà họ phụ
trách. Kinh tế, chính trò, văn hóa – xã hội, an ninh quốc phòng của tỉnh có ổn
đònh và phát triển hay không phần lớn là ở đội ngũ này, vì vậy mà họ đã gắn
trên vai mình một trách nhiệm rất nặng nề, đồng thời là những người trước tiên
phải chòu trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước và nhân dân về những việc mình
đã làm.
Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về cán bộ chủ chốt cấp huyện, tuy
nhiên việc xác đònh cán bộ chủ chốt hay không chủ chốt là phải căn cứ vào chức
trách, nhiệm vụ của từng cán bộ và đặt nó trong mối quan hệ với toàn bộ hệ
thống tổ chức, bởi trong thực tế có cán bộ ở cương vò này, tổ chức này là cán bộ
chủ chốt nhưng trong mối quan hệ khác, tổ chức khác lại không phải là cán bộ
chủ chốt. Với ý nghóa như vậy, có thể khái quát rằng: cán bộ chủ chốt cấp huyện
là những người đứng đầu, có chức vụ quan trọng nhất thuộc ban lãnh đạo của
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status