ĐAI HOC Qllốc GIA IIẢ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN ĐỨC QUYỂN
NÂNG CAO NANG Lực Tư DUY LÝ LUẬN CHO ĐỘI NGŨ
CÁN Bộ CHỦ CHỐT CẤP HUYỆN ở TỈNH LẠNG SƠN
HIỆN NAY
C h u y ê n n g à n h : C H Ủ N G H ĨA DU Y V Ậ T B IỆ N C H Ú N G
VẢ C H Ủ N G IIĨA 1HIY V Ậ T L Ị C H s ử
M ã SỐ: 5.01.02
LUẬN VĂN th ạc sỹ kho a họ c t r iế t h ọ c
• ■ ■ ■
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trịnh Trí Thức
Ilà Nội- 2004
MỤC LỤC
Mở đíìu 2
Chương 1: Năng lực tư duy lý luận và vai trò của nó dối với hoạt động
lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở
nước ta hiện nay
1.1- Năng lực tư duy lý luân và nhưng yêu tố ảnh hương đến nó 8
1.2 - Năng lực lư duy lý luận với hoạt dộng lãnh đạo, quản lý
của dội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện 24
Chương 2: Năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ chủ chốt
cấp huyện ở Lạng Sơn hiện nay: thực trạng và giải pháp
2.1. Thực trạng và nguyên nhân hạn chế năng lực tư duy lý luận
của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở tỉnh Lạng Sơn 40
2.2. Một số nguyên tắc cơ bản nhằm nâng cao năng lực tư duy lý luận
cho đội ngũ cán hộ chủ chốt cấp huyôn 68
2.3. Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực tư duy lý luận
cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyôn ở lỉnh Lạng Sơn 77
Kết luận 91
Danh mục tài liệu tham khảo 96
hóa với nhiều cư hội và thách thức hiện nay, đòi hỏi đội ngũ cán bộ chù chốt
cấp huyện cần phải không ngừng nâng cao trình độ và năng lực tư duy lý luận
đổ ngang tầm với nhiệm vụ của mình.
Thực tố hiện nay, giữa lý luận và thực tiễn có một khoảng cách khá xa,
tình trạng giáo điều, sách vở, xa rời quần chúng, nói một đằng làm một nẻo
vẫn còn khá phổ biến. Do vậy, một số Nghị quvểt, chủ trương của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước khó đi vào đời sống, lhậm chí, không ít người, ít
nơi còn làm sai lệch dẫn đến hậu quả nghiêm trọng. Tinh trạng suy nghĩ và
hành động theo thói quen, kinh nghiệm chủ nghĩa và lối suy nghĩ thô thiển,
trực quan, cảm tính vẫn đang là lực cản trong bản thân đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp huyện, nhất là ử miền núi. Tư tưửng Ihụ động trông chờ, ỷ lại sự chỉ
đạo, hướng dẫn của cấp trên, chưa dám mạnh dạn đề xuất những biên pháp
tích cực phù hựp với địa phương vẫn phổ biến, vì thế, nhiều vấn đề thực tiễn
nảy sinh chưa dược giải quyết kịp thời. Điều này chứng tỏ, năng lực tư duy lý
luận của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện chưa đáp ứng được yôu cầu của
thực tiễn đổi mới. Đây là một vấn dề hết sức quan trọng đối với chiến lược cán
hộ của Đảng ta trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiôn đại hoá dất nước. Nhận
thức như thế và với mong muốn góp một tiêng nói từ thực tiễn đối với công tác
cán bộ của Đảng trong giai đoạn hiộn nay, tồi chọn vấn đồ : "Nâng cao năng
tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở tỉnh Lạng Sơn
hiện nay" làm đồ tài luân văn Thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đê tài
Vấn đề tư duy lý luận từ lâu dã dược nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và
đã có nhiều cồng trình đưực công bố, trong đó, có những công trình liên quan
trực tiếp đến dề tài này như: "Yêu cầu mới vê nùng lực, trí tuệ của Đảng ta
4
trong íỊÌai đoạn hiện nay' của GS.TS Phạm Ngọc Ụuang (Tri ốt học, sổ 2-
1994); "Nâng cao năng lực tư duy của đội /lịỊŨ cán bộ chủ cliốt cấp xã hiện
nay”, của Hổ Bá Thâm, Nxb Cliínli trị Quốc gia, Hà Nội, 1995; "Nâng cao
năng lực tư du \ lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện ở
quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện và Ihực trạng năng lực tư duy
lý luận của đội ngũ cán bộ này ử tỉnh Lạng Sơn, đề xuất một số nguyên tắc và
giải pháp chủ yếu "nhằm góp phần nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội
ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở Tỉnh đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự
nghiộp đổi mới đất nước
+ Nhiệm vụ :
- Làm rõ bản chất, đặc trưng của lư duy lý luân và vai trò của nó đối với
hoạt động lãnh đạo, quản lý của dội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện; những
yêu cầu nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ này hiện nay.
- Đánh giá thực trạng năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp liuyôn ử tỉnh Lạng Sơn hiện nay và chỉ ra những nguyên nhân hạn
chế năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ này.
- Đề xuất một số nguyên lắc, giải pháp chủ yếu để từng bước nâng cao
năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyộn tỉnh Lạng Sơn
hiện nay.
6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận vàn:
Luận văn tập trung nghiên cứu về năng lực tư duy lý luận và vai trò của
nó dối với hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán hộ chủ chốt cấp huyện
ở lỉnh Lạng Sơn hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phương plĩáp nghiên cứu
Luận văn dược thực hiện trên cơ sử những quan điểm cơ bản của Chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hổ CỈ1Í Minh, quan diểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam về công tác cán bộ, về vai trò của tư duy lý luận trong việc nâng cao
hiệu quả hoạt động của cán bộ lãnh dạo, quản lý nói chung, cán bộ chủ chốt
cấp huyện nói riông.
Luận văn kế thừa kết quả của những công trình khoa học đã đưực công
bố những năm gần dây ở nước ta có liên quan trực tiếp đến đổ tài, sử dụng các
lài liệu của cấp uỷ Đảng, chính quyồn các huyên ử tỉnh Lạng Sơn qua thống
kô, tổng kết hàng năm.
1.1. Năng lực tư duy lý luận và những yếu tỏ ảnh hưởng đến nó
1.1.1. 1'ưduv và tư du V /v luận
Tư duy là một thuộc tính đặc biệt của con người, nó thể hiện trình độ
nhận thức và năng lực hoạt động thực tiễn của chủ thể. Tư duy bao giờ cũng là
vấn đề cư bản nhất cùa nhân thức luận. Chính vì vậy, từ xa xưa, tư duy dã thu
hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu. Tư duy đưực tiếp cận nghiên cứu từ
nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau. Tâm lý học nghiôn cứu tư duy với tư cách
là hoạt động của não bộ, của hệ thần kinh cao cấp trong lương tác với môi
trường xung quanh. Sinh lý học nghiên cứu tư duy với tư cách là hoạt động
thuần túy của hệ thần kinh. Nhận thức luận nghiôn cứu tư duy trong quá trình
nhận thức với các mối quan họ giữa tri thức và hiện thực, giữa chù thổ và
khách thể. Lổgích học nghiôn cứu các quy luật cũng như các hình thức, thao
tác của tư duy.v.v
Trong lịch sử triết học, khi dổ cập đốn lý luận nhận thức, các nhà triết
học hao giờ cũng trình bày quan điểm của mình vổ vấn đổ tư duy. Tuy nhiôn,
do xuất phát từ các lập trường triết học khác nhau nên cũng có rất nhiều quan
niộm khác nhau về tư duy. Song, dù theo lập trường duy tâm hay duy vật,
trong sự kế thừa lẫn nhau, các nhà triết học trước Mác đã đạt được những
thành quả nhất dịnh trong phân dịnh các giai đoạn của nhân thức, khẳng định
vai trò của cảm giác, kinh nghiệm hoặc lý tính, tư duy. Nhưng vẫn chưa có
quan điểm nào giải quyết một cách đúng đắn, khoa học về vai trò, tác dụng,
cách thức hoạt động của cảm tính, tư duy; vồ quan hệ biện chứng giữa cảm
l)
tính và lý tính theo lập trường duy vật. Mặc dù đã có nhiều cô gắng nhưng
nhận thức triết học đốn trước khi chù nghĩa Mác ra đời vẫn chưa xây dựng
dược một quan niôm đầy đủ vồ tư duy nói riông và một phương pháp nhận
thức khoa học nói chung cho nhận thức và hoạt dộng của con người.
Quan điổrn duy vật hiện chứng cùa Chủ nghĩa Mác -Lênin cho rằng, tư
duy là sản phẩm cao nhất của một dạng vất chất dưực tổ chức một cách đặc
biệt là bộ não, quá írình phàn ánh tích cục ihỗ giới khách quan trong các khái
cho phép con người có khả năng nhận thức đưực những đối tưựng một cách
gián tiếp mà không cần thông qua các giác quan cụ thể.
Tư duy là cấp độ cao của quá trình nhận thức, là sự phản ánh gián tiếp,
khái quát, tích cực và sáng tạo về thế giới khách quan. Sự phản ánh gián tiếp
của tư duy được biểu hiện ở khả năng suy lý, kết luân lôgíc, chứng minh của
con người. Đỏ là xuất phát từ chỗ phân tích những sự kiện có thể tri giác Irực
tiếp, nó cho phép nhân thức được những gì không thể tri giác trực tiếp bởi các
giác quan cụ thổ. Khả năng phản ánh thực tại một cách khái quát của tư duy
được biổu hiện ử khả nâng con người có ihể xây dựng những khái niệm chung
gắn liền với sự trình bày những quy luât tương ứng. Tính tính tích cực của tư
duy thể hiện ở chỗ nó vưựt lẽn nhận thức cảm tính, trôn cơ sở vật liệu của
nhận thức cảm tính, nó xAy dựng nên hệ thống tri thức mới về thố giới khách
quan trong tính toàn vẹn và vì thố mà phản ánh dưực bản chất của sự vật.
Ngoài ra, tư duy còn mang tính sáng tạo sâu sắc. Khả năng xây dựng các khái
niệm, phạm trù, liên kết chúng lại với nhau, hệ thống hóa tri thức, vạch ra
những mối quan hệ, liên Ỉ1Ộ giữa chúng, khái quát được các quy luật chi phối
tư nhiên xã hội và bản thân chính là quá trình tư duy khám phá, sáng tạo ra
những tri thức mới. Mặc dù năng lực sáng tạo của tư duy ử mỗi con người là
hạn chê và phụ thuộc vào nhiều yêu lô clnì quan và khách quan nhưng năng
lực sáng tạo của tư duy nhân loại là vồ lận. Tư duy của con người như vây, rõ
ràng mang bản chất người, thuộc phạm trù trí tuệ người, giúp cho con người
khám phá các thuộc tính, các mặt, các mối liên hệ của sự vật, hiện iưựng, di
sâu vào bản chất, phát hiện ra những quy luật vận động và phát triển của thực
tại khách quan [82, tr. 634-6351.
Thực tế cho thấy, quá tiình tư duy cũng chính là quá irìnli vận dụng tri
thức vào đời sống hiện thực. Tu duy bị qui dịnh hởi hoạt động thực liễn lịch sử
cụ thể của con người. Đổng thời, với quá trình cải tạo giới lự nhiôn và cải tạo
xã hội, con người cũng cải tạo chính bản thân mình, biến đổi và phát triển tư
duy của bản thân, v ề điều này, Ph. Ăng-ghen khẳng định: " chính việc
người ta biến dổi tự nhiên, chứ không phải chỉ một mình giới tự nhiên, với tính
có thổ đưực diỗn đạt bằng ngôn ngữ, ngôn ngữ là phưưng tiện tổn tại của tư
tường, khổng cố) ngốn ngữ, tư duy của con người cũng khổng tổn tại dược. Tư
duy phản ánh siự vật khách quan còn ngổn ngữ thể hiộn, biổu đạt sự vât. Tư
duy có chức năng khái quát, tổng hợp, sáng tạo thông tin mới, còn ngôn ngữ là
cổng cụ chuyổn tải thông tin. Với ý nghĩa này, ngồn ngữ mới mang chức năng
nhân thức.
Từ sự trình bày trôn, ta có thổ nôu một số đặc trưng cơ bản của tư duy
sau:
Tư duy pliản ánh cái chung. Cái chung ử đây được hiểu là những dấu
hiệu, những thuộc tính chung của sự vật hiện tượng. Tư duy là trình dộ cao của
quá trình nhận thức. Đó là quá trình phản ánh khái quát hóa chỉ cổ ở trình dộ
nhận thức này mới phản ánh dược những thuộc tính chung mang tính phổ biến
13
và cơ bản của sự vật khách quan. Cái chung trong thê giới hiện thực kliông
bao giờ tổn tại một cách cụ thể, độc lạp mà cùng tồn tại ở nhiều sự vật, hiện
lưựng khác nhau, vì thê, nỏ không lách rời khỏi cái riêng, cái đặc ihù, nlurng
trong lư duy cái chung lại dược khu biệt ra một cách độc lập, được trừu tưựng
hỏa tách ra khỏi mọi cái riông cảm tính.
Trừu tượng hỏa. Khi tách cái chung ra khỏi mọi cái riêng trong tư duy là
một sự trừu tượng hóa. Trừu tượng hòa chính íà một đạc trưng CƯ bản của tư
duy. V.I. Lênin nói về sự ưu việt của sự trừu tượng hóa của tư duy là: những sự
trừu tượng về vất chất, về quy ỉuật lự nhiên, sự trừu lượng hóa về giá lrị,v.v
phản ánh giới tự nhiên sâu sắc hem, Irung thành hơn.
Tư duy phản ánh thê giới khách quan một cách gián tiếp. Tư duy phản
ánh sự vật không phải từ những cảm giác trong tiếp xúc trực tiếp với sự vật,
hiện tưựng mà là trôn CƯ sở các hình thức cùa nhân thức cảm tính như cảm
giác, tri giác và hiểu tượng - nghĩa là nó mang tính gián tiếp. Chính vì phản
ánh thế giới khách quan một cách gián tiếp mà tư duy có khả năng tách rời
nhất định với sự vật, không bị sự vật, hiện tượng chi phối nên nó có một sự
độc lập tưưng dối. Do sự độc lập này mà lư duy có một sức mạnh to lỏn trong
hiện thực, thiên về phản ánh mặt hiện iưựng, nặng vổ mồ tả các sự kiện. Khác
với tư duy kinh nghiệm, trên cơ sử hệ thống tri thức tích lũy được từ tư duy
kinh nghiệm, lư duy lý luận phản ánh thố giới khách quan ử trình độ khách
quát và trừu tượng với các khái niệm, phán đoán và suy luận. Tư duy lý luận
phản ánh gián tiếp hiện thực khách quan nhờ các phương pháp phân tích, tổng
hợp, khái quát hỏa, trừu tượng hóa. Chính nó tạo nên hình ảnh chủ quan của
thế giới khách quan. Do tính chất gián tiếp của sự phản ánh hiện thực nên, tư
IS
duy lý luận inang tính chất tác dộng gián liếp đôi với khách thổ hiện thực và
ihường nặng vổ sự định hướng, vổ trình độ phản ánh thì nếu tư duy kinh
nghiêm chỉ dừng lại ở sự mô tả các môi quan hệ bề ngoài, liệt kê các sự kiện,
hiện tượng rời rạc thì tư duy lý luận phán ánh sâu sắc các mối quan hệ nội tại
mang tính quy luật, các cấp đô bản chất của sự vật và hiện tượng của thế giới
khách quan.
Tư duy ỉý luận piiản ánh hiện thục khách quan bằng hệ thống khái niệm,
phạm trù, quy luặt vi thế nó dem lại những hiểu biết sâu sắc về bản chất,
những quy luật vận động và phát triển của sự vật và hiện tưựng khách quan.
Tư duy lý luận, xét về bản chất là quá trình sáng tạo lại hiện thực dưới dạng
tinh thần, theo con đường trừu tượng hỏa, khái quát hoá, đi sâu vào nhận thức
những mối quan hệ nội tại, bản chất, qui luật của sự vật và hiện tưựng. Vì vậy,
tư (Juy lý luận có khả năng dự báo khoa học về xu hướng vân động, phát triển
của sự vật, hiện tưựng. Cũng chính vì vây, lư duy lý luân đóng vai trò rất quan
trọng trong sự phát triển của khoa học cũng trong chỉ đạo hoạt động thực tiễn
xã hội của con người.
Tư duy lý luận giúp chủ thể nhận thức đạt được những kết quả nhận thức
về đối tượng khách quan mộl cách sâu sắc hơn, chính xác hem, hệ thống hơn
và mang tính phổ quát, vì thế, khả năng ứng dụng các tri thức có được từ tư
duy lý luận ihường mang tính chung, tính phổ biến. Dĩ nhiên, cũng cần lưu ý
rằng do tính gián tiếp và tính trừu tượng cao trong sự phản ánh hiện thực
khách quan nên các kết quả của tư duy lý luận cổ nhiổu khả năng xa rời thực
Tư duy, như chúng ta biết, không tồn tại một cách trừu tượng ở đâu đó
mà bao giờ cũng gắn với các chủ thể nhất định. Vì lõ đó, nói vồ tư duy, không
17
thể nói một cách chung chung, mơ hồ mà bao giờ cũng nói một cách cụ thổ về
năng lực và trình độ tư duy của các chủ thổ cụ thê.
Năng lực tư duy của chủ thổ, trước hết, gắn liền với yếu tô di truyền sinh
học. Tuy nhiôn, đó mới chỉ là cư sử ban đầu, chính nhân tô xã hội quyết định
tư <Juy của con người và tri thức là điều kiện đổ năng lực tư duy của chủ thể
phát triển. Năng lực tư duy là khả năng nhận thức và khái quát hóa của chủ thể
nhận thực. Cụ thể là, từ những sự vật, hiện tượng riêng lẻ, thuộc linh rời rạc
của sự vật, hiện tượng dược phản ánh trong đầu óc chủ thể và từ dó đã diễn ra
một quá trình với những thao tác tư duy nhằm trừu tượng hóa và khái quát hóa
để nắm được bản chất và các quy luật qui định sự tổn tại, vận động và phát
triển của sự vật. Năng lực tư duy còn bộc lộ ử khả năng nhận thức và vận dụng
lý luận cũng như lý thuyết vào thực tiễn. Năng lực tư duy của chủ thổ còn thể
hiện ở khả năng biết tổng kết, khái quát hỏa kinh nghiệm thực tiễn thành lý
luân và xây dựng mô hình mới hợp quy luật khách quan định hướng cho sự
vận đông và phát triển của thực tiễn.
Năng lực tư duy, mặc dù khống dồng nhất với trình độ tư duy nhưng
chúng khổng tách rời nhau. Với vốn hiểu biết mà con người tích luỹ được kết
hợp cùng năng lực tư duy cụ thổ sẽ tạo nên một trình độ tư duy nhất định của
chủ thổ nhân thức. . Khi nói vồ trình độ tư duy là nói vổ cấp độ, mức dộ hay
những khả năng xác định của tư duy. Đó là, trình độ tư duy thấp hay trình độ
tư duy cao, trình độ tư duy tiền khoa hục hay trình độ tư duy khoa học, trình
độ tư duy kinh nghiệm hay trình độ tư duy lý luận Trình độ tư duy ở mức độ
nào thường biểu hiện ra ở phương pháp tư duy tương ứng. Trình độ tư duy
thấp, tiền khoa học, kinh nghiệm ihường bộc lộ ra ử dạng lư duy kinh
nghiệm, phiến diện, chủ quan duy ý chí nghĩa là phương pháp lư duy siêu
hình. Trình độ tư duy cao, khoa học, tư duy lý luận được hiểu hiỌn ra là
phương pháp tư duy hiện chứng.
luyện.
Khi nói về năng lực tư duy cần phải thấy rằng nó còn thể hiện ở năng lực
lựa chọn các vấn dề có liên quan đổ liên kết các hình thức mà tìm ra các kết
luận nhãt định. Chẳng hạn như năng lực lựa chọn những khái niệm đổ hình
thành một phán đoán đúng và liôn kết các phán đoán để có suy lý - phát hiện
mới. Như vậy, nãng lực tư duy bai) gồm cả năng iực lụa chọn, sắp xếp, kết hợp
các phương pháp, hình thức tư duy và khả nàng sử dụng thành thạo, nhuần
nhuyễn mỗi phương pháp, mỗi hình thức tư duy theo những cách thức, tác
dụng riêng của nó cho phù hựp với qui định khách quan của các dối lượng
nghiôn cứu. Những-năng lực dó cũng là một trong những nội dung quan trọng
làm năng lực tư duy đạt đến cấp dộ cao hơn. Năng lực tư duy thường được tiếp
cận ử các kiểu như: năng lực tư duy thực hành, năng lực tư duy hình tượng và
năng lực tư duy lý luận. Xét theo cấp độ của năng lực tư duy có thể phân ra
thành năng lực tư duy kinh nghiệm và năng lực tư duy lý luận.
Năng lực tư duy lý luân khác với năng lực tư duy kinh nghiệm. Năng lực
tư duy lý luận là khả năng tư duy về những vấn đổ chung, tổng thổ, toàn vẹn,
nắm bắt đối tượng trong tính chỉnh thổ của sự tồn tại, vân động và phát triển;
dó là khả năng tư duy khoa học, sáng tạo trong sử dụng các khái niêm, phạm
trù dể phân tích, so sánh, tổng hợp, trừu tưựng hoá, khái quát hoá đcm lại
những tri thức mới mang tính chính xác, sâu sắc, chặt chẽ, lôgíc và có hẽ
thống phù hợp với qui luật khách quan của sự tổn lại và vận động của hiện
thực. Hơn nữa, năng lực tư duy lý luận còn có sức mạnh đưa lý luân vào cuộc
sống, cụ thể hoá lý luận thành mục tiêu, phương hướng, giải pháp khả thi dể
giải quyết các vấn đề của cuộc sống dạt hiệu quả cao. Như vậy, năng lực tư
duy lý luận còn được thể hiện ử khả năng xác lập tri thức mới, khả năng xác
lập quan hệ giữa các tri thức và khả năng đối tượng hoá tri thức. Hổ Chí Minh
20
khẳng định: "Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là sự
tổng hợp những tri thức về lự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch
sử” I 56, tr. 497],
khách quan liên quan đến đời sống, quá trình tích luỹ, ren luyện học tập và
diều kiện hoạt dộng và cồng tác của mỗi con người, c. Mác cho rằng, con
người là sản phẩm của hoàn cảnh, hoàn cảnh kinh tế - xã hội như thế nào thì
sẽ sinh ra con người hiện thực như thế ấy với một tư duy tưưng ứng. Cơ chế
tập trung quan liêu -bao cấp đã góp phần hình thành và sản sinh ra tâm lý ỉ lại,
trông chờ, dựa dẫm, thói lười suy nghĩ, tìm tòi mà ở dó hình thành lư tưởng
hình quân chủ nghĩa, lư tưởng mong ngóng, thụ động, sợ sệt làm thui chột tính
năng động và mất đi động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội. Cơ chế thị trường
tuy khắc nghiệt, nhiều bất trắc, rủi ro nhưng nó bắt buộc con người phải năng
dộng, trăn trở, tìm tòi, sáng tạo, phải nhậy cảm và có lòng kiôn trì, dám chấp
nhân phiêu lưu, mạo hiổm đổ vươn lên và chính điều kiện đỏ dã tôi luyện làm
hình ihành lôn tư duy năng dộng, óc sáng tạo của các chủ thổ hoạt động.
Năng lực tư duy lý luận của con người đặc biệt còn phụ thuộc vào nền
tảng văn hoá, trình độ sản xuất, nền tảng tri thức khoa học và cổng nghê mà
xã hội đạt được. Thật vây, năng lực tư duy lý luận chịu tác dộng và chi phối
mạnh mẽ bởi sự phát triển của bản thân khoa học và trình độ văn hoá-xã hội.
Nền tảng văn hoá là cội nguồn và sức mạnh, nó thể hiện và cuốn hút cái chân,
thiện, mỹ và tác động sâu sắc đến sự phát triển các tư chất đặc thù của con
người, mở rộng, khơi sâu thêm vào nền tảng tâm sinh lý, khơi dậy mọi tiềm
năng sáng tạo tiềm ẩn trong con người. Gắn liền với sự phát triổn của khoa
học, công nghệ, năng lực tư duy lý luận cũng có quá trình phát sinh, phát triển
22
cùa mình. Nó không phải là cái bất biến, cái vĩnh viễn sinh ra và mãi mãi như
vậy. Điều này có ý nghĩa là, ứng với mỗi giai đoạn khác nhau trong sự phát
triển của khoa học và công nghệ, năng lực tư duy lý luận của con người cũng
có những hình ihức thổ hiộn khác nhau. Thời dại ngày nay cùng với sự phát
triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, sự phát triển cao trình độ văn hoá,
văn học - nghệ thuật và sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin
hiện đại và sự bùng nổ thồng tin mang tính toàn cầu đã hàng ngày hàng giờ
tác động hết sức sâu sắc đến trình dồ và năng lực của tư duy lý luận của chủ
lộ, trau dồi và phát triển.
>
Thứ năm, nhu cầu và lợi ích là những yếu tố động lực góp phần hình
thành thái độ, động cơ cho mọi hoạt động của con người, trong đó, có hoạt
động nhằm thúc đẩy sự phát triển năng lực tư duy lý luân. Hoạt động của con
người bao giờ cũng nhằm theo đuổi những mục đích nhấl định và cái chi phối
mục đích hoạt động của con người là nhu cầu và lợi ích của họ. Nhu cầu, lợi
ích có ảnh hưởng thường xuyên và trực tiếp dến ý thức, dộng cơ hoạt dộng
thực tiỗn, học tập và rèn luyôn để nâng cao năng lực tư duy lý luận. Người có
động cư không trong sáng trong hục tập, rèn luyện, hoạt động chỉ vì lợi ích cá
nhân, cục bộ, trước mắt thì khó có thổ rèn luyôn được năng lực tư duy lý luận
sắc bén hoặc nếu có được năng lực tư duy lý luận ấy thì rấl dỗ trở thành mối
nguy hiểm, làm khuynh dảo xã hội. Hổ Giủ tịch từng nói rằng, có tài mà
khổng có đức là người vô dụng.
Như vậy, năng lực tư duy lý luận của chủ thổ hoạt động vừa phụ thuộc
vào những yếu tố của diều kiện khách quan vừa phụ thuộc vào các nhân tố chủ
quan. Các nhân yếu khách quan và nhân tố chủ quan này quan hệ với nhau hết
sức khăng khít, cùng tác động, hỗ trợ, bổ sung cho nhau tạo thành một hê
24
thống cùng tác dộng đốn năng lực lư duy lý luận cùa con người; trong (Jó, sự
phái triển của thực tiền xã hội và khoa học, quá trình đào tạo và ròn luyện của
chủ thể giữ vai trò quyết định. Vì thế, đổ nâng cao năng lực tư duy lý luân chủ
thể hoạt động phải tích cực tham gia hoạt dộng thực tiễn, không ngừng học tập
và rèn luyện nâng cao trình độ khoa học - công nghệ, trình độ lý luận.
1.2. Nâng lực tư duy lý luận với hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội
ngũ cán bộ chu chốt cáp huyện
1.2.1.Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện và hoạt động lãnh đạo, quản lý
của họ
Hệ ihống chĩnh trị ở nước ta hiện nay dược tổ chức thành bốn cấp: cấp
Trung ưưng, cấp tỉnh (và thành phố trực thuộc Trung ưưng), cấp huyện (quận,