1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM HUYỀN TRANG
1.2 Năng lực tư duy lý luận đối với hoạt động của cán bộ Đoàn 29
1.2.1 Thực chất hoạt động của đội ngũ cán bộ Đoàn 29
1.2.2 Vai trò của năng lực tư duy lý luận đối với cán bộ Đoàn trong
hoạt động Đoàn 40
Chương 2: NĂNG LỰC TƯ DUY LÝ LUẬN CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
ĐOÀN TỈNH NINH BÌNH HIỆN NAY: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 49
2.1 Thực trạng năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ Đoàn tỉnh Ninh
Bình và nguyên nhân của những hạn chế 49
2.1.1 Thực trạng năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ Đoàn tỉnh
Ninh Bình 49
2.1.2 Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế trong năng lực tư duy lý
luận của đội ngũ cán bộ Đoàn tỉnh Ninh Bình 63
2.2 Những yêu cầu và vấn đề đặt ra trong việc nâng cao năng lực tư duy lý
luận cho đội ngũ cán bộ Đoàn tỉnh Ninh Bình hiện nay 68
2.2.1 Tất yếu phải nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ
Đoàn tỉnh Ninh Bình hiện nay 68
5
2.2.2 Những yêu cầu cơ bản của việc nâng cao năng lực tư duy lý luận
cho đội ngũ cán bộ Đoàn tỉnh Ninh Bình 76
2.2.3 Vấn đề đặt ra trong việc nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội
ngũ cán bộ Đoàn tỉnh Ninh Bình hiện nay 81
2.3 Một số nguyên tắc và giải pháp chủ yếu để nâng cao năng lực tư duy lý
luận cho đội ngũ cán bộ Đoàn tỉnh Ninh Bình hiện nay 89
2.3.1 Một số nguyên tắc chủ yếu trong quá trình nâng cao năng lực tư
duy lý luận cho đội ngũ cán bộ Đoàn tỉnh Ninh Bình 89
2.3.2 Một số giải pháp chủ yếu để nâng cao năng lực tư duy lý luận cho
đội ngũ cán bộ Đoàn tỉnh Ninh Bình hiện nay 95
KẾT LUẬN 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
Đoàn nói riêng đã góp phần không nhỏ trong việc vận động, tập hợp và nuôi
dưỡng lý tưởng Cách mạng cho thanh niên Việt Nam, là cánh tay phải đắc lực
của Đảng, đào tạo và giới thiệu các thanh niên - đoàn viên ưu tú vào hàng ngũ
7
của Đảng. Với vị trí, vai trò quan trọng như trên, đội ngũ các cán bộ Đoàn
thanh niên đòi hỏi phải có một trình độ tư duy nhất định. Việc nâng cao năng
lực tư duy lý luận cho họ là điều cần thiết, mang ý nghĩa lâu dài. Bởi lẽ năng
lực tư duy lý luận là một trong những cơ sở quan trọng nhất để người cán bộ
Đoàn đưa ra được những quyết định đúng đắn trong hoạt động thực tiễn từ đó
giúp công tác Đoàn mang lại được hiệu quả cao.
Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và của Đoàn
Thanh niên là đường lối chung, khái quát ở tầm vĩ mô. Khi được triển khai ở
các tỉnh, các địa phương đòi hỏi sự năng động, linh hoạt và sáng tạo của đội
ngũ cán bộ Đoàn các cấp thì mới đưa được những đường lối, chủ trương đó
vào cuộc sống, mới thúc đẩy được phong trào thanh niên ở địa phương phát
triển đi lên. Muốn vậy, đội ngũ cán bộ Đoàn cấp tỉnh đến cấp cơ sở cần phải
có năng lực tư duy lý luận mới đáp ứng được những yêu cầu đặt ra hiện nay.
Nếu năng lực trí tuệ của họ còn nhiều yếu kém sẽ làm cho công tác thanh niên
ở nhiều địa phương bị hạn chế, làm cho hoạt động của Đoàn Thanh niên
không phát huy được tối đa sức mạnh của mình.
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh Ninh Bình đã có bề dày
truyền thống lịch sử, lịch sử Đoàn là một bộ phận khăng khít của lịch sử Đảng
bộ tỉnh, của lịch sử Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và phong trào
thanh niên cả nước. Trong giai đoạn hiện nay, trình độ học vấn, năng lực tư
duy của đội ngũ cán bộ Đoàn của tỉnh đã có nhiều thay đổi, được nâng cao
hơn trước. Tuy nhiên, trong hoạt động thực tế, nghiêm túc nhìn nhận và đánh
giá, thì bên cạnh một số mặt mạnh, những điểm tích cực, năng lực tư duy của
đội ngũ cán bộ Đoàn của tỉnh vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém, chưa đáp ứng
được những yêu cầu của phong trào thanh niên cũng như sự phát triển đời
9
Hữu Nghĩa (“Một số căn bệnh trong phương pháp tư duy của cán bộ ta”, Tạp
chí Triết học số 2 năm 1988)
Gần đây cũng đã có một số công trình đề cập trực tiếp đến vấn đề nâng
cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ như: Tác giả Nguyễn Đình
Trãi “Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ giảng dạy lý luận Mác -
Lênin ở các trường chính trị tỉnh”, luận án Tiến sĩ Triết học năm 2001; tác giả
Nguyễn Đức Quyền “Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ
chủ chốt cấp huyện ở tỉnh Lạng Sơn hiện nay”, luận văn Thạc sĩ Triết học
năm 2004; tác giả Nguyễn Thế Thắng “Đổi mới tư duy về phương pháp giảng
dạy ở Học viện chính trị - Hành chính khu vực I”, Tạp chí Giáo dục lý luận số
1 năm 2009; tác giả Vũ Trà Giang với luận văn Thạc sĩ “Rèn luyện và nâng
cao năng lực tư duy lý luận cho sinh viên các trường đại học trên địa bàn Hà
Nội hiện nay”…
Về công tác thanh niên và hoạt động của đội ngũ cán bộ Đoàn, đồng
chí Phạm Văn Đồng viết cuốn “Về thanh niên và và công tác thanh niên”; tác
giả Văn Tùng trong cuốn “Một số vấn đề về công tác thanh niên trong thời kì
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”đã phân tích một số vấn đề về các
hoạt động cũng như công tác của thanh niên trong thời kì công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước, về xây dựng và củng cố Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ
Chí Minh thời kì cách mạng mới. Cuốn “Những giải pháp của Đoàn thanh
niên Cộng sản Hồ Chí Minh phòng chống “Diễn biến hòa bình trong thanh
niên” do tác giả Lê Mạnh Hùng chủ biên đã đưa ra những vấn đề lý luận và
thực tiễn về phòng, chống “diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch đối với
giới trẻ nói chung và Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh nói riêng. Tác
giả Thái Doãn Thời trong cuốn “Thế nào là người cán bộ Đoàn” trên cơ sở
phân tích các chức năng của Đoàn thanh niên, đưa ra quan niệm về người cán
bộ Đoàn, đã đặt ra những yêu cầu đối với người cán bộ Đoàn thanh niên,
10
4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu việc nâng cao năng lực
tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ Đoàn.
- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung phân tích phạm trù năng lực tư duy lý
luận, nhất là năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ Đoàn tỉnh Ninh Bình,
từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội
ngũ này.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên nền tảng các quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng về lý luận, về
tư duy, sử dụng kết quả các công trình nghiên cứu của các tác giả có liên quan
đến đề tài luận văn.
- Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử như: Phương pháp lôgic -
lịch sử, phương pháp lịch sử cụ thể, phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát
hóa, phương pháp điều tra
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa khoa học
Góp phần làm sáng tỏ yêu cầu, những biểu hiện trong thực trạng năng
lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ Đoàn tỉnh Ninh Bình.
Góp phần gợi mở những vấn đề đặt ra trong năng lực tư duy lý luận của
đội ngũ cán bộ Đoàn tỉnh Ninh Bình.
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực tư duy lý luận cho
đội ngũ cán bộ Đoàn tỉnh Ninh Bình.
Ý nghĩa thực tiễn
Những vấn đề mà luận văn đề cập và giải quyết sẽ góp phần vào việc
đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ Đoàn
12
nói chung, cán bộ Đoàn tỉnh Ninh Bình nói riêng nhằm thúc đẩy sự đi lên của
DUY LÝ LUẬN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ ĐOÀN
1.1 Năng lực tư duy lý luận và những yếu tố ảnh hưởng đến năng
lực tư duy lý luận
1.1.1 Tư duy và tư duy lý luận
Từ thời xa xưa đến nay, tư duy luôn là vấn đề cơ bản nhất của nhận
thức luận. Chính vì vậy, tư duy đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên
cứu từ nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau. Tâm lý học nghiên cứu tư duy với
tư cách là hoạt động của não bộ, của hệ thần kinh cao cấp trong tương tác với
môi trường xung quanh. Sinh lý học nghiên cứu tư duy với tư cách là hoạt
động thuần túy của hệ thần kinh. Nhận thức luận nghiên cứu tư duy trong quá
trình nhận thức với các mối quan hệ giữa tri thức và hiện thực, giữa chủ thể
và khách thể. Lôgic học nghiên cứu các quy luật cũng như nghiên cứu các
hình thức, thao tác của tư duy
Trong lịch sử triết học đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về tư duy.
Sự khác nhau đó xuất phát từ các lập trường triết học khác nhau. Tuy nhiên,
dù là lập trường duy tâm hay duy vật, trong sự kế thừa lẫn nhau, các nhà triết
học trước Mác đã đạt được những thành quả nhất định trong việc phân định
các giai đoạn của nhận thức, khẳng định vai trò của cảm giác, kinh nghiệm
hoặc lý tính, tư duy. Song vẫn chưa có quan điểm nào giải quyết một cách
đúng đắn, khoa học về vai trò, tác dụng, cách thức hoạt động của cảm tính, tư
duy, về quan hệ biện chứng giữa cảm tính và lý tính theo lập trường duy vật.
Các nhà triết học trước Mác, mặc dù đã rất cố gắng nhưng vẫn chưa xây dựng
được một quan niệm đầy đủ về tư duy nói riêng và một phương pháp nhận
thức khoa học nói chung cho nhận thức và hoạt động của con người.
14
Triết học Mác - Lênin ra đời đã đưa ra được những quan điểm khoa
học, đúng đắn về tư duy. Quan điểm duy vật biện chứng cho rằng, tư duy là
sản phẩm cao nhất của một dạng vật chất được tổ chức một cách đặc biệt là
bộ não, là quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan trong các khái
vấn đề đó, không gì có thể thay thế ngoài sức mạnh của tư duy. Tư duy diễn
ra dưới hình thức khái niệm, phán đoán, suy lý, giả thuyết, lý luận… Kết quả
của quá trình tư duy bao giờ cũng là sự phản ánh các thuộc tính, các mối quan
hệ cơ bản, phổ biến không chỉ có ở một sự vật riêng lẻ, mà ở một nhóm sự vật
nhất định và kết quả cuối cùng phần nào được ghi lại trong ngôn ngữ.
Tư duy là sự phản ánh khái quát và gián tiếp hiện thực khách quan.
Nói cách khác, tư duy là sự phản ánh thế giới khách quan vào đầu óc con
người một cách khách quan và gián tiếp. Tư duy xuất hiện trong quá trình
hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới của con người. Ở giai đoạn nhận thức
bằng tư duy, sự vật chủ yếu được phản ánh một cách gián tiếp và khái quát
nhờ các khái niệm, phán đoán, suy lý. Sức mạnh trừu tượng hóa của tư duy là
hướng vào việc tìm tòi chân lý, nắm bắt những mối liên hệ khách quan có tính
bản chất, phát hiện những tính quy luật chi phối các sự vật hiện tượng. Chính
sự xuất hiện những khái niệm chung, các phạm trù cho thấy khả năng phản
ánh thực tại mang tính khái quát cao của tư duy con người. Từ việc xây dựng
các khái niệm và phạm trù qua quá trình suy lý và phán đoán - những thao tác
của tư duy mà con người đã phát hiện ra các quy luật. Tính chất khái quát và
gián tiếp của tư duy biểu hiện ở chỗ, nó đi từ “một hình thức liên hệ và phụ
thuộc lẫn nhau này đến một hình thức khác sâu sắc hơn, chung hơn” [31, tr.
240]; từ sự hiểu biết có tính chất hiện tượng đến hiểu biết có tính bản chất, từ
ngẫu nhiên, bề ngoài đến quan hệ có tính tất nhiên, mang tính quy luật. Điều
này đã được khoa học chứng minh.
16
Tư duy phản ánh hiện thực khách quan vào đầu óc con người nhưng
không phản ánh một cách thụ động, máy móc rập khuôn mà mang tính tích
cực, sáng tạo. Tính tích cực của tư duy được thể hiện ở chỗ nó vượt lên trên
nhận thức cảm tính, nó xây dựng nên hệ thống tri thức mới về thế giới khách
quan trong tính toàn vẹn và vì thế, phản ánh được bản chất của sự vật. Tính
sáng tạo của tư duy thể hiện ở quá trình tư duy khám phá, sáng tạo ra những
lại ở trừu tượng, mà nó còn quay lại thực tiễn để kiểm tra các tri thức mới thu
được. Và bằng cách đó, con người chứng minh được tính đúng đắn, chân thực
của tư duy, nghĩa là chứng minh tính hiện thực, tính trần tục và sức mạnh của
tư duy con người.
Tư duy ngay từ khi xuất hiện đã gắn liền với ngôn ngữ - vỏ vật chất của
tư duy, chúng luôn thống nhất với nhau. Tư duy không thể tồn tại thiếu ngôn
ngữ, ngôn ngữ là phương tiện tồn tại của tư duy. Nếu như tư duy có chức năng
khái quát, tổng hợp, sáng tạo thông tin mới thì ngôn ngữ là phương tiện chuyển
tải thông tin. Với ý nghĩa này, ngôn ngữ mới mang chức năng nhận thức.
Nói tóm lại, sự phản ánh của tư duy đối với hiện thực khách quan là
hình thức cao nhất; đó là sự phản ánh khái quát, tích cực, sáng tạo về các
thuộc tính, các mối liên hệ, quan hệ phổ biến không chỉ có ở một sự vật riêng
lẻ mà ở một nhóm sự vật nhất định. Nếu tư duy phản ánh đúng đắn sự vật
khách quan thì nó sẽ tác động tích cực đến hoạt động nhận thức và thực tiễn,
cải tạo tự nhiên và xã hội vì lợi ích của con người. Ngược lại, nếu tư duy phản
ánh sai lệch hiện thực khách quan, nó sẽ tác động xấu đến hoạt động nhận
thức và thực tiễn, gây nên sự trì trệ đối với sự phát triển của khoa học và kĩ
thuật, kinh tế và xã hội.
Tư duy là “thế giới” tinh thần vô cùng phong phú, phức tạp, tùy theo
từng lĩnh vực thực tiễn lịch sử - xã hội; từng phương diện cấp độ phản ánh mà
18
tư duy được nhìn nhận ở các góc độ khác nhau. Về phương pháp tư duy, có tư
duy biện chứng và tư duy siêu hình; theo loại hình tư duy, có tư duy lôgic và
tư duy hình tượng, tư duy khoa học và tiền khoa học; theo lĩnh vực tư duy có
tư duy triết học, tư duy toán học, tư duy chính trị, tư duy kinh tế, tư duy văn
hóa…; về cấp độ tư duy, có tư duy kinh nghiệm và tư duy lý luận;…
Mỗi cấp độ, mỗi loại hình tư duy có chức năng, đối tượng, phương
pháp, vị trí và vai trò khác nhau. Tư duy kinh nghiệm có chức năng, đối tượng
và phương pháp khác với tư duy lý luận. Đối tượng của tư duy kinh nghiệm là
đường trừu tượng hóa, khái quát hóa, đi sâu vào nhận thức những mối quan
hệ nội tại, bản chất, quy luật của sự vật và hiện tượng. Vì vậy, tư duy lý luận
có khả năng dự báo khoa học về xu hướng vận động, phát triển của sự vật,
hiện tượng. Cũng chính vì thế, tư duy lý luận đóng vai trò rất quan trọng trong
sự phát triển của khoa học cũng như trong chỉ đạo hoạt động thực tiễn xã hội
của con người.
Được hình thành trong giai đoạn nhận thức lý tính, tư duy lý luận khác
hẳn về chất so với tư duy kinh nghiệm. Tư duy lý luận của con người đã mở
rộng đối tượng nhận thức của mình từ cái hữu hạn, mảnh đoạn, riêng lẻ lên
thế giới các đối tượng vô hạn, phổ quát, chỉnh thể. Do mọi hoạt động của tư
duy lý luận mang tính bản chất, tất yếu nên mối quan hệ tương tác, chuyển
hóa giữa các tri thức lý luận cũng mang tính tất yếu theo một lôgic nội tại nhất
định. Tri thức lý luận có giá trị đích thực nếu nó làm nảy sinh tri thức lý luận
tiếp theo cũng là một sự tất yếu, phổ quát. Điều đó có nghĩa là tri thức lý luận
phải trở thành công cụ, phương pháp tư duy, để tư duy vận hành, sản sinh ra
tri thức lý luận mới.
Có nhiều cách hiểu khác nhau về tư duy lý luận:
20
Nếu hiểu tư duy lý luận với tư cách là một động từ thì nó được xem
như là quá trình đang vận động được khám phá, nắm bắt, tái tạo hiện thực.
Đây là một quá trình khép kín bao gồm bốn quy trình nhỏ. Đó là quá trình tư
duy tiếp cận, nắm bắt hiện thực (thu thập thông tin); quá trình xử lý thông tin
để tìm ra mối liên hệ bản chất, quy luật của sự vật; quá trình liên kết các quy
luật để tìm hiểu bản chất của nó (tái tạo sự vật ở cấp độ bản chất) và quá trình
tư duy trở về với hiện thực để chỉ đạo, cải tạo hiện thực.
Với tư cách là một danh từ thì tư duy lý luận được hiểu như là một kết
quả đã có, đã hình thành, như là sản phẩm của trí tuệ cao có được nhờ sự tích
lũy tri thức trong hoạt động hằng ngày của con người và ở đây tư duy lý luận
được khái quát lên, được hình thành nên từ tư duy kinh nghiệm.
tác giả Nguyễn Ngọc Long đã đề cập một cách trực tiếp đến khái niệm năng
lực tư duy. Theo tác giả, “năng lực tư duy là tổng hợp những phẩm chất trí
tuệ, đáp ứng yêu cầu nhận thức thế giới và bản thân con người, đảm bảo cho
hoạt động sáng tạo của mình” [36, tr. 48], năng lực đó được biểu hiện ở
khuynh hướng nhận thức và hành động, ở kết quả xử lý thông tin và nhất là
kết quả hoạt động. Phương pháp tiếp cận vấn đề khác nhau chính là biểu hiện
trình độ khác nhau của năng lực tư duy.
Có tác giả cho rằng, năng lực tư duy là một phẩm chất, một sức mạnh
thực sự của con người, năng lực tư duy là sức mạnh để sáng tạo tinh thần,
phát triển và vận dụng tri thức vào cuộc sống. Tác giả còn chỉ rõ ba yếu tố cơ
bản cấu thành năng lực tư duy là: Năng lực ghi nhớ, tái hiện bằng ngôn ngữ,
hình ảnh do nhận thức cảm tính đưa lại; năng lực trừu tượng hóa, khái quát
hóa thông qua phân tích, tổng hợp; năng lực tưởng tượng, suy luận, liên
22
tưởng, để phân biệt, phát hiện, lựa chọn, xử lý trong việc nhận thức và hành
động [55, tr. 8].
Qua các ý kiến trên đây chúng ta thấy, tuy còn có các cách hiểu khác
nhau nhưng nhìn chung, các tác giả đều thống nhất rằng năng lực tư duy là tổng
hợp những phẩm chất trí tuệ của con người và có vai trò hết sức quan trọng.
Như chúng ta đã biết, tư duy là sự suy nghĩ của con người trên cơ sở
các quá trình sinh lý - thần kinh diễn ra trong bộ não. Năng lực tư duy là đặc
trưng riêng có ở con người. Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự
nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó với một chất lượng cao [43,
tr. 656] và [74, tr. 117]. Vì vậy, để có được một quan niệm đầy đủ và đúng
đắn về năng lực tư duy lý luận, chúng ta cần nhận rõ những dấu hiệu đặc
trưng của nó, đó là:
- Năng lực tư duy lý luận là một khả năng, một phẩm chất tâm sinh lý
của con người. Đó là sự thống nhất giữa mặt tự nhiên và mặt xã hội tạo nên
sức mạnh trí tuệ ở con người. Nói cách khác, năng lực tư duy lý luận vừa
những thao tác khác nhằm đạt tới mục đích chung. Đồng thời, mỗi thao tác tư
duy lại được đặc trưng bởi một cách tiến hành nhất định. Cách thức này được
con người khái quát thành phương pháp tư duy như là công cụ không thể
thiếu được trong nhận thức và hành động.
- Năng lực tư duy lý luận là khả năng tích lũy vốn tri thức và nhận
thức sử dụng tri thức, xử lý thông tin và phương pháp một cách khoa học,
hiệu quả. Đó là “Nghệ thuật vận dụng các khái niệm” (Ph. Ăngghen). Năng
lực tư duy lý luận chủ yếu không phải là vốn có mà là sản phẩm của lịch sử xã
hội. Do đó, nó phải được rèn luyện, mài giũa thường xuyên; phải thông qua
hoạt động để biến tri thức và phương pháp tư duy thành phẩm chất và sức
24
mạnh vốn có của chủ thể tư duy, tạo ra một sự nhanh nhạy, chính xác như một
nghệ thuật trong suy nghĩ cũng như hành động.
- Năng lực tư duy lý luận là khả năng vận dụng lý luận đã có để nhận
thức, giải quyết những vấn đề thực tiễn mới; đồng thời, có những dự báo khoa
học cho tương lai.
- Năng lực tư duy lý luận không tách rời trình độ tri thức, văn hóa của
mỗi người. Trình độ cũng như vốn tri thức, văn hóa chung là một thành tố quan
trọng, tạo nên nền tảng của năng lực tư duy. Không có trình độ tri thức, văn hóa
nhất định thì khó mà có được năng lực tư duy lý luận thực sự. Tất nhiên là có
trình độ tri thức, văn hóa cao chưa hẳn đã có năng lực tư duy phát triển. Nhưng
rõ ràng là, sự tích lũy vốn tri thức, văn hóa chung càng nhiều, càng cao thì điều
đó chứng tỏ một năng lực tư duy nhất định của chủ thể [48, tr. 17].
Có thể nói, năng lực tư duy lý luận là tổng hợp các phẩm chất trí tuệ
của chủ thể đáp ứng yêu cầu phát hiện, nhận thức (ở trình độ lý luận) nhanh,
nhạy, đúng đắn và sáng tạo đối với hiện thực; đồng thời có khả năng tiên đoán
sự vận động tiếp theo của hiện thực, từ đó đề xuất các giải pháp khả thi nhằm
giải quyết và góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động thực tiễn của con người.
Về các yếu tố cấu thành nên năng lực tư duy lý luận, đã có nhiều quan
và vận dụng chúng vào hoạt động sáng tạo của chủ thể tư duy. Nếu không có
các khả năng đó thì tư duy không tồn tại với tư cách là tư duy.
Năng lực tư duy lý luận có tác dụng hết sức to lớn. Một mặt, tư duy huy
động sức mạnh trí lực (cả nội dung và phương pháp tư duy) và sử dụng nó
một cách hiệu quả để nhận thức bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng, quá
trình. Mặt khác, cụ thể hóa sự nhận thức đó để chỉ đạo hành động cụ thể của
chủ thể tư duy. Chính vì vậy mà năng lực tư duy lý luận là cơ sở của “năng
lực lao động trí tuệ”[61, tr. 164].
26
b. Những yếu tố ảnh hưởng tới năng lực tư duy lý luận
Như đã nói ở phần trên, tư duy con người được hình thành và phát triển
dựa trên sự thống nhất biện chứng của hai mặt tự nhiên và xã hội, vì vậy, năng
lực tư duy lý luận của chủ thể ra sao, được phát triển như thế nào phụ thuộc vào
nhiều điều kiện, yếu tố phức tạp trong não người và trong đời sống xã hội.
Trước hết, năng lực tư duy có tính bẩm sinh, phụ thuộc vào cấu tạo hệ
thần kinh trung ương từng người, từng thế hệ. Khoa sinh vật học, di truyền
học ngày nay đã xác định mức độ thông minh của từng người phụ thuộc vào
máu, vào đặc điểm của hệ thần kinh và gen di truyền [28, tr. 52]. Trước đây,
khi bàn đến năng lực tư duy, Ph. Ăngghen đã cho rằng năng lực tư duy lý luận
là một “đặc tính bẩm sinh do năng lực của con người” mà có [2, tr. 52], nhưng
nó chỉ ở dạng khả năng, nghĩa là như một khả năng khách quan vốn có bắt
nguồn từ năng lực phản ánh của óc người.
Mặt tự nhiên, yếu tố bẩm sinh là yếu tố đầu tiên có ảnh hưởng trực tiếp
đến năng lực tư duy lý luận của chủ thể tư duy. Nhưng con người tồn tại gắn
liền với những hoạt động thực tiễn trong những môi trường xã hội nhất định,
chính trong đời sống thực tiễn, năng lực tư duy lý luận của con người mới
được thể hiện và phát huy. Bởi thế, năng lực tư duy lý luận còn phụ thuộc vào
các yếu tố xã hội. Các yếu tố này có mối quan hệ biện chứng với nhau. Đó là
các yếu tố cơ bản sau: