1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp
tỉnh là vấn đề có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, vừa cấp bách vừa lâu dài. Bởi
lẽ, năng lực tư duy lý luận là cơ sở quan trọng để cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh
hoạch định đường lối, chủ trương, chỉ đạo hoạt động thực tiễn.
Đường lối, chủ trương của Đảng là đường lối chung, khái quát ở
tầm vĩ mô, khi triển khai ở các địa phương đặc biệt là ở cấp tỉnh đòi hỏi
một sự năng động, sáng tạo thì kết quả mới cao. Để đáp ứng được yêu cầu
đó, những cán bộ lãnh đạo chủ cốt của tỉnh phải có trình độ tư duy lý luận
mới đáp ứng được đòi hỏi của nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay.
Sẽ là sai lầm khi cho rằng, ở địa phương chỉ là nơi triển khai nghị
quyết của Trung ương, nên yêu cầu về năng lực tư duy lý luận không cao.
Thực ra, việc triển khai nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước ở địa phương đòi hỏi một sự năng động sáng tạo lớn ở đội ngũ
cán bộ lãnh đạo chủ chốt. Hơn nữa, công cuộc đổi mới của Đảng ta đã thu
được những thành tựu quan trọng nhưng đồng thời đã và đang đặt ra nhiều
vấn đề gay gắt. Chính ở các địa phương là nơi nảy sinh những mâu thuẫn,
những vấn đề mới rất cần được giải quyết và khái quát cho nên năng lực tư
duy lý luận có ý nghĩa hết sức to lớn đối với cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp
tỉnh.
Theo chúng tôi, cấp tỉnh là cấp có đủ các điều kiện kinh tế, chính
trị, xã hội, an ninh, quốc phòng, văn hóa, giáo dục... để chúng ta nghiên
cứu, thể nghiệm, đề xuất những vấn đề thuộc về đường lối chủ trương của
Đảng, chính sách của Nhà nước.
2
5
Luận văn sử dụng các phương pháp lịch sử và lôgíc, trừu tượng và
cụ thể, phân tích và tổng hợp, điều tra, thống kê...
Luận văn còn sử dụng những tài liệu của các cấp ủy Đảng và chính
quyền ở tỉnh Bắc Giang...
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn bước đầu xác định được những phẩm chất tối thiểu thuộc
về năng lực tư duy lý luận - một năng lực cơ bản trong năng lực của người
cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh; làm rõ vai trò của năng lực tư duy lý
luận đối với hoạt động của người cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh.
Đồng thời, luận văn cũng đã vạch ra được thực trạng năng lực tư
duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh (qua thực tế Bắc
Giang), trên cơ sở đó, luận văn đề xuất một số phương hướng và giải pháp
chủ yếu để phát huy và từng bước nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội
ngũ cán bộ này.
7. Ý nghĩa của luận văn
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc xây dựng, hoạch
định chiến lược, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực tư duy lý
luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh Bắc Giang.
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo để giảng dạy, học tập triết
học nói chung và phần lý luận nhận thức nói riêng.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,
luận văn gồm 2 chương, 5 tiết.
6
7
tr. 43]. Sự ra đời, tồn tại của ý thức gắn liền với hoạt động thực tiễn của
con người, chịu sự chi phối không chỉ của các quy luật sinh học mà chủ yếu
của các quy luật xã hội, do nhu cầu giao tiếp xã hội và các điều kiện sinh
hoạt hiện thực của con người quy định. Ý thức có kết cấu phức tạp, bao
gồm nhiều yếu tố như tri thức, tình cảm, niềm tin, ý chí... trong đó, tri thức
là thành tố quan trọng nhất. Quá trình hình thành và phát triển ý thức cũng
chính là quá trình con người tìm hiểu, tích lũy tri thức về thế giới xung
quanh. Hiểu biết về sự vật càng nhiều thì ý thức của con người về sự vật đó
càng sâu sắc.
Tóm lại, ý thức là hình thức phản ánh riêng có ở con người, khác về
chất so với phản ánh tâm lý ở động vật. Ý thức là toàn bộ các quá trình tâm
lý tích cực tham gia vào sự hiểu biết của con người đối với thế giới khách
quan... [63, tr. 711].
Nhận thức - theo lý luận nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện
chứng - là quá trình phản ánh tích cực và sáng tạo hiện thực khách quan bởi
con người trên cơ sở của thực tiễn lịch sử - xã hội. Nhận thức cũng là sự
phản ánh hiện thực khách quan bởi bộ óc của con người. Nhưng sự phản
ánh đó không phải là một hành động nhất thời, máy móc giản đơn, thụ
động mà là một quá trình phức tạp của hàng loạt hoạt động trí tuệ tích cực
và sáng tạo. Bởi vì, "... con người không chỉ phản ánh thế giới khách quan
mà còn tạo ra thế giới khách quan" [28, tr. 228].
Nhận thức, tuy cũng là sự phản ánh hiện thực khách quan bởi bộ óc
con người nhưng khác với ý thức và hoàn toàn khác với hành vi phản ánh ở
động vật về chất.
Nhận thức của con người là quá trình phản ánh hiện thực khách
quan một cách tích cực và sáng tạo là nhờ có hoạt động thực tiễn.
Theo Lênin, nhận thức là một quá trình "từ trực quan sinh động đến
tư duy, tư duy phải được biểu đạt thành ngôn ngữ, nhờ đó mà con người có
thể sáng tạo ra những khái niệm và những phạm trù khoa học, nêu lên
9
những quy luật của các khoa học và do đó hiểu sâu sắc hơn bản chất của
các sự vật. Nếu không có ngôn ngữ sẽ không có phương tiện để tư duy và
tư tưởng của loài người không thể lưu giữ kế thừa và phát triển được.
Chủ nghĩa duy tâm cho rằng, tư duy là sản vật của bản nguyên siêu
tự nhiên, độc lập, không phụ thuộc vào vật chất, đó là "ý niệm tuyệt đối",
"ý niệm siêu nhiên"... song, sự phát triển của khoa học đã bác bỏ những
quan điểm đó và đã chứng minh được rằng tư duy là thuộc tính của một
dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người. Hoạt động của bộ óc người
phản ánh hiện thực khách quan bằng các hình thức khái niệm, phán đoán,
suy lý... thông qua các phương pháp như so sánh, phân tích, tổng hợp, trừu
tượng hóa, khái quát hóa. Như vậy, xét về thực chất, tư duy là sự hoạt động
đặc biệt của quá trình con người phản ánh thế giới, là quá trình phản ánh
dựa trên sự hoạt động của bộ não nhằm nhận thức bản chất, quy luật vận
động của thực tại khách quan và định hướng quan hệ đối với thực tại khách
quan đó. Những quy luật của tư duy là sự phản ánh các quy luật của thực
tại khách quan. Những hình ảnh của sự vật trong thế giới, từ những hình
ảnh trực tiếp, nguyên vẹn của cảm giác được tư duy chắt lọc loại bỏ những
mặt, những yếu tố bề ngoài ngẫu nhiên trên cơ sở sáng tạo mà tìm ra những
mặt cơ bản, tất yếu, những quan hệ bản chất, bền vững. Từ đó hình thành
nên những khái niệm, phạm trù tương ứng với các mặt, các quan hệ tất yếu
của chúng; dựa vào đó mà xây dựng nên hình ảnh mới, những quy luật khái
quát xu hướng vận động và phát triển của các sự vật. Với ý nghĩa đó, tư
duy chỉ có ở con người và là trình độ cao nhất của nhận thức con người
trong quá trình phản ánh thế giới khách quan. Nhưng đó không phải là sự
cũng là tiêu chuẩn để kiểm tra, điều chỉnh quá trình tư duy, xác nhận cho
tính đúng đắn của tư duy, loại bỏ những sai lầm, tạo sự phát triển liên tục
của tư duy con người.
Tư duy của con người luôn mang tính sáng tạo, hoạt động của tư
duy luôn vươn tới những nhận thức mới thông qua hoạt động thực tiễn và
nhận thức. Hoạt động thực tiễn là cơ sở, động lực của tư duy. Do vậy, khi
hoạt động thực tiễn còn ở một trình độ thấp thì ứng với nó là cấp độ tư duy
11
ở trình độ thấp. Khi hoạt động thực tiễn đạt đến trình độ cao hơn thì
phương pháp tư duy, trình độ tư duy cũng được nâng lên.
Như vậy, tư duy là trình độ cao của quá trình nhận thức nảy sinh
trên cơ sở nhận thức cảm tính. Đó là trình độ phản ánh khái quát hóa, trừu
tượng hóa, mang tính tích cực sáng tạo, hướng sâu vào nhận thức bản chất,
quy luật vận động và phát triển của thế giới khách quan.
Tư duy là quá trình suy nghĩ, tìm tòi, vận dụng kết hợp các khái
niệm, phạm trù theo các nguyên tắc, quy luật lôgíc hình thức và lôgíc biện
chứng nhằm đạt đến chân lý.
Tư duy là quá trình sáng tạo lại hiện thực dưới dạng tinh thần, là sự
tìm tòi đề xuất những nhận thức mới và không ngừng bổ sung phát triển
các nhận thức đó trên cơ sở hoạt động thực tiễn của con người.
Ở trình độ tư duy, sự vật được phản ánh khái quát trong các hình
thức khái niệm, phán đoán, suy lý. Tư duy luôn gắn liền với ngôn ngữ,
ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy, tư duy phải được diễn đạt thành
ngôn ngữ bởi vì đó là hiện thực trực tiếp của tư tưởng, là phương tiện để diễn
đạt kết quả của sự nhận thức, để lưu giữ và tiếp tục phát triển kết quả của
nhận thức đó.
Tư duy xuất hiện, biến đổi và phát triển trong quá trình hoạt động
là những khách thể trừu tượng, những hình ảnh, khái niệm phạm trù. Bởi
thế, tư duy lý luận mang tính chất tác động gián tiếp đối với khách thể hiện
thực, nặng về sự định hướng. Ở trình độ phản ánh thì tư duy lý luận phản ánh
sâu sắc hơn bản chất của sự vật, hiện tượng. Nếu tư duy kinh nghiệm chỉ
mới dừng lại ở việc mô tả những đặc điểm, những mối liên hệ bên ngoài
của các sự vật hiện tượng thì tư duy lý luận đi sâu phản ánh các thuộc tính,
mối liên hệ có tính bản chất, tất yếu, tính quy luật của chúng. Khác với tư duy
kinh nghiệm, tư duy lý luận có khả năng phê phán rất sâu sắc và triệt để. Tư
duy lý luận cũng có khả năng dự báo khoa học về xu hướng vận động, phát
triển của sự vật, hiện tượng. Vì vậy, nó đóng vai trò rất quan trọng trong sự
13
phát triển của khoa học cũng như thực tiễn xã hội. Tư duy lý luận cũng
chính là biểu hiện trình độ phát triển cao của năng lực tư duy lý luận.
Từ những điều trình bày trên đây, chúng ta thấy: Ý thức, nhận thức,
tư duy là những khái niệm có sự thống nhất hữu cơ với nhau; chúng đều là
sự phản ánh hiện thực khách quan bởi bộ óc người, cùng bị chi phối bởi
những quy luật sinh học và xã hội trong đó các quy luật xã hội giữ vai trò
quyết định. Nhưng chúng không phải là những khái niệm đồng nhất.
Trong mối quan hệ nội tại giữa ý thức, nhận thức và tư duy, cần
thấy rằng, ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc người, nó
là phạm trù đối lập với vật chất. Nhận thức là quá trình phản ánh đó. Tư
duy là trình độ cao của nhận thức. Như thế, nhận thức, tư duy đều là quá
trình hoạt động để mang lại tri thức về sự vật. Tư duy cũng thuộc hoạt động
nhận thức nhưng là giai đoạn cao của quá trình nhận thức. Nhận thức là quá
trình phản ánh hiện thực khách quan bởi con người trên cơ sở hoạt động
thực tiễn. Nói đến tư duy lý luận là nói đến tư duy ở trình độ khái quát hóa,
trừu tượng hóa, phản ánh gián tiếp nhưng sâu sắc về mối liên hệ bản chất,
trò quan trọng trong tư duy khoa học. Chính vì thế, năng lực tư duy còn thể
hiện ở năng lực lựa chọn các vấn đề có liên quan để liên kết các hình thức
tư duy mà tìm ra các kết luận nhất định. Chẳng hạn, năng lực lựa chọn các
khái niệm để hình thành một phán đoán đúng và liên kết các phán đoán để
có suy lý đúng nhằm phát hiện khái niệm mới. Như vậy, năng lực tư duy
bao gồm cả năng lực lựa chọn, sắp xếp, kết hợp các phương pháp, hình
thức tư duy và khả năng sử dụng thành thạo, nhuần nhuyễn mỗi phương
pháp, mỗi hình thức tư duy theo những cách thức, tác dụng riêng của nó
cho phù hợp với tính quy định khách quan của các đối tượng nhận thức.
Năng lực tư duy là khả năng sử dụng một cách thành thạo, nhuần
nhuyễn cả nội dung và phương pháp của tư duy để phát hiện vấn đề và xây
dựng được những phương án tối ưu để giải quyết vấn đề đó.
Năng lực tư duy thường được tiếp cận ở các kiểu: Năng lực tư duy
thực hành, năng lực tư duy hình tượng và năng lực tư duy lý luận... Xét
theo cấp độ phát triển của năng lực tư duy có thể phân ra thành năng lực tư
duy kinh nghiệm và năng lực tư duy lý luận. Năng lực tư duy lý luận khác
với năng lực tư duy kinh nghiệm. Năng lực tư duy lý luận là khả năng tư
16
duy về những vấn đề chung, tổng thể, toàn vẹn, nắm bắt đối tượng trong
tính chỉnh thể của sự tồn tại, vận động và phát triển. Đó là khả năng tư duy
khoa học, sáng tạo trong sử dụng các khái niệm phạm trù để phân tích, so
sánh, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa đem lại những tri thức mang
tính chính xác, sâu sắc, chặt chẽ, lôgíc và hệ thống, phù hợp với tính quy
luật khách quan của hiện thực. Hơn nữa, năng lực tư duy lý luận còn có sức
mạnh đưa lý luận vào cuộc sống, cụ thể hóa lý luận thành mục tiêu, phương
hướng, giải pháp cụ thể để giải quyết các vấn đề của cuộc sống có hiệu quả
cao. Như vậy, năng lực tư duy lý luận còn được thể hiện ở khả năng xác lập
nhau đó. Chính vì thế, năng lực tư duy lý luận không chỉ bị ảnh hưởng bởi
các điều kiện chung mà còn do các yếu tố chủ quan của mỗi người chi phối.
Trước hết, năng lực tư duy lý luận phụ thuộc vào yếu tố bẩm sinh,
di truyền của từng người. Đó là những yếu tố sinh ra đã có và do thế hệ
trước di truyền lại như cấu tạo của hệ thần kinh, gen... Những yếu tố này
đóng vai trò chính trong việc tạo ra năng khiếu thông minh, trí nhớ, khả năng
trực giác, nhạy cảm. Đó là cơ sở, tiền đề, là điều kiện của năng lực trí tuệ
nói chung và năng lực tư duy lý luận nói riêng. Như thế, tố chất bẩm sinh di
truyền mới chỉ là những khả năng tiềm tàng nó cần phải được khơi dậy phát
triển, rèn luyện thường xuyên, nếu không sẽ dẫn đến mai một. Như Ph.
Ăngghen đã viết: "Tư duy lý luận chỉ là một đặc tính bẩm sinh dưới dạng
năng lực của người ta mà có thôi" [40, tr. 487].
Thứ hai, quá trình giáo dục, đào tạo, quá trình học tập rèn luyện
một cách tự giác để nâng cao trình độ tri thức, trí tuệ có ảnh hưởng trực
tiếp, đóng vai trò quyết định đến năng lực tư duy lý luận. Trình độ tri thức,
trí tuệ là điều kiện tiên quyết để con người phát triển năng lực của mình về
mọi mặt. Để đạt được một trình độ tri thức, trí tuệ nhất định, không có con
đường nào khác ngoài việc phải thông qua quá trình giáo dục, đào tạo và tự
đào tạo. Quá trình này mang lại cho con người không chỉ nội dung các tri
thức mà còn là những phương pháp tư duy khoa học ngày một hoàn thiện
hơn. Đó chính là nền tảng, là cơ sở để con người mài dũa khả năng tư duy,
18
rèn luyện năng lực tư duy nhạy bén sáng tạo. Nếu bị hạn chế về tri thức, trí
tuệ thì không thể nâng cao được năng lực tư duy lý luận.
Thứ ba, môi trường kinh tế - xã hội, nền tảng văn hóa, khoa học của
xã hội có ảnh hưởng quan trọng đến năng lực tư duy lý luận của con người.
Sự phát triển về năng lực tư duy lý luận phụ thuộc vào môi trường kinh tế xã hội mà trong đó chủ thể tư duy sống và hoạt động. Đó là toàn bộ những
nâng cao năng lực tư duy lý luận trước hết phải nâng cao trình độ tri thức
khoa học, phương pháp tư duy khoa học, đặc biệt là phương pháp tư duy
biện chứng.
Thứ tư, hoạt động thực tiễn là yếu tố cơ bản ảnh hưởng trực tiếp đến
năng lực tư duy lý luận của con người. Ăngghen đã chỉ rõ, "chính việc
người ta biến đổi tự nhiên, chứ không phải một mình giới tự nhiên với tính
cách giới tự nhiên, là cơ sở trực tiếp nhất, chủ yếu nhất của tư duy con
người, và trí tuệ con người đã phát triển song song với việc người ta đã học
cải biến tự nhiên" [40, tr. 720]. Như vậy, con người quan hệ với thế giới bắt
đầu không phải bằng lý luận mà bằng thực tiễn. Chính thông qua hoạt động
thực tiễn mà con người có được những hiểu biết, những tri thức về hiện
thực khách quan và phát triển những năng lực của mình. Mọi tri thức, năng
lực của con người, nhất là năng lực tư duy lý luận, xét đến cùng đều bắt
nguồn từ thực tiễn. Hơn nữa, sự phát triển liên tục, không ngừng của thực
tiễn luôn luôn đặt ra những yêu cầu mới đòi hỏi con người phải luôn suy
nghĩ, tìm tòi, phát hiện quy luật vận động, phát triển của sự vật, hình thành
những phương thức, nội dung mới trong năng lực tư duy hướng về việc
phát hiện và giải quyết các vấn đề theo yêu cầu của thực tiễn. Như thế,
trong hoạt động thực tiễn, năng lực trí tuệ con người nói chung, năng lực tư
duy lý luận nói riêng được phát triển. Thông qua hoạt động thực tiễn năng
lực tư duy lý luận, đặc biệt là khả năng xác lập tri thức và đối tượng hóa tri
thức của con người mới được hình thành và cũng thông qua đó mà những
năng lực ấy mới được trau dồi, phát triển.
Thứ năm, nhu cầu và lợi ích là những yếu tố hình thành thái độ,
động cơ cho mọi hoạt động của con người. Trong đó, có hoạt động rèn luyện
để hình thành và phát triển năng lực tư duy lý luận. Xét cho cùng, mọi hoạt
20
tổ chức phong trào theo một hướng đi cụ thể; là người điều hành, chỉ đạo
22
bằng quyền hành qua các mệnh lệnh. Cán bộ lãnh đạo còn là người điều
chỉnh những quyết định cho phù hợp với sự thay đổi của điều kiện, hoàn
cảnh khách quan.
Hoạt động lãnh đạo có bản chất là sự tác động định hướng, sự điều
hành, điều chỉnh hoạt động của con người nhằm vươn tới những mục đích
nhất định. Điều đó đòi hỏi chủ thể lãnh đạo, phải đạt được một trình độ
nhất định về năng lực tư duy lý luận. Bởi trình độ đó có tác dụng rất quan
trọng trong việc nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả của công tác lãnh
đạo.
Hoạt động lãnh đạo là hoạt động tác động điều khiển mang tính
chất định hướng của chủ thể lãnh đạo đến đối tượng bằng các phương pháp
động viên, giáo dục, thuyết phục... nhằm đạt mục đích nhất định. Trong Từ
điển tiếng Việt ghi: "Lãnh đạo bằng đề ra đường lối, chủ trương và tổ chức,
động viên thực hiện" [62, tr. 720].
Đối tượng của chủ thể lãnh đạo, quản lý là những con người cụ thể
có tri thức, năng lực, có ý chí, mục đích và những ước vọng riêng nhất
định. Vì thế, đòi hỏi chủ thể lãnh đạo một mặt phải hiểu biết công việc; mặt
khác phải có những hiểu biết nhất định về năng lực, về thể chất, về tâm tư
và ước vọng riêng của các đối tượng lãnh đạo. Từ đó mà tạo điều kiện
thuận lợi cho các đối tượng lãnh đạo làm việc đạt hiệu quả tối đa. Chính vì
thế, hoạt động lãnh đạo nếu được nâng lên trình độ nghệ thuật, khoa học
làm việc với con người, tác động đến con người để hình thành các quan hệ
tốt đẹp giữa họ với nhau và với công việc thì hiệu quả lãnh đạo sẽ cao hơn.
Hoạt động lãnh đạo có nhiều khâu, nhiều bước, có thể diễn đạt các
khâu đó ở hai trình độ; đó là, chủ thể lãnh đạo suy nghĩ, lựa chọn quyết
để đạt hiệu quả cao trong tổ chức thực hiện. Về phương pháp và phương
tiện tác động, hoạt động lãnh đạo dùng phương pháp động viên thuyết phục
là chính, bằng uy tín và nghệ thuật mà tập trung giáo dục xây dựng niềm
tin, tính tự giác của con người. Quản lý tác động đến đối tượng bằng mệnh
lệnh có tính chất bắt buộc. Song, tùy thuộc vào tính chất của quan hệ giữa
24
cơ quan lãnh đạo với cơ quan quản lý, tùy thuộc vào cơ cấu tổ chức và hoạt
động trong cơ quan lãnh đạo và cơ quan quản lý, chủ thể lãnh đạo đồng
thời phải thực hiện cả chức năng quản lý và chủ thể quản lý phải đảm nhận
cả chức năng lãnh đạo.
Như vậy, hoạt động lãnh đạo và hoạt động quản lý có đặc trưng
riêng của nó không nên xóa nhòa ranh giới giữa chúng dẫn đến chồng chéo
công việc. Mặt khác, không nên xem đây là hai hoạt động tách biệt hoàn
toàn. Trong một chừng mực nào đó, chúng đan xen hòa hợp vào nhau bổ
sung cho nhau. Trong đó, lãnh đạo là khâu quan trọng của quản lý, đồng
thời là cơ sở, tiền đề cho quản lý. Quản lý nhằm hiện thực hóa đường lối
lãnh đạo và giúp cho hoạt động lãnh đạo đạt hiệu quả hơn.
Từ đó có thể thấy rằng, người lãnh đạo phải là người có trình độ lý
luận và am hiểu thực tiễn. Họ là người góp phần xây dựng, đồng thời cũng
là người vận dụng đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào những
lĩnh vực cụ thể, biến chúng thành hiện thực trong cuộc sống. Do vậy, đối
với người lãnh đạo, năng lực tổ chức thực tiễn là rất quan trọng. Đồng thời
họ vẫn rất cần phải có năng lực tư duy lý luận, năng lực đó giúp họ nghiên
cứu thực tiễn, nắm bắt và vận dụng đường lối của Đảng để tổ chức thực
tiễn, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và vận dụng kinh nghiệm ấy vào hoạt
động thực tiễn.
Hoạt động của chủ thể lãnh đạo về bản chất là có sự giống nhau ở
huy động sức mạnh trí tuệ của tập thể, của quần chúng. Đó chính là những
điều kiện để người lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh xây dựng được các quyết
định, các chương trình, kế hoạch vừa phù hợp với thực tiễn địa phương vừa
là sự cụ thể hóa sinh động, sáng tạo chủ trương đường lối, chính sách của
Trung ương. Những quyết định, chương trình, kế hoạch hóa vừa mang tính
khái quát chung, phản ánh mọi mặt đời sống xã hội của toàn tỉnh, vừa mang
tính chất chỉ đạo cụ thể đối với mỗi lĩnh vực, mỗi địa bàn thuộc tỉnh.