Trường Đại học khoa học Xã hội và Nhân văn
KHOA TRIẾT HỌC
ĐẶNG ĐÌNH THÁI
CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO Ở VIỆT NAM ĐẦU
THẾ KỈ XX, MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRIẾT HỌC VÀ Ý
NGHĨA CỦA NÓ
LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC
Hà Nội - 2003
HÀ NỘI - 2003 MỤC LỤC
A.Mởđầu
1
1.
Tính cấp thiết của đề tài 1
2.Tình hình nghiên cứu 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu 5
5. Đóng góp mới của luận văn 6
6. ý nghĩa thực tiễn của luận văn 6
7. Kết cấu của luận văn 6
B. Nội Dung 7
Chương I : Phong trào chấn hưng phật giáo ở
Việt nam đầu thế kỉ XX, Nguyên nhân và diễn
biếncủa nó
7
1.1. Những nguyên nhân của phong trào chấn hưng phật
giáo ở Việt Nam 7
1.1.1.Khái quát tình hình chính trị, xã hội và phật giáo
Việt Nam thế kỉ XIX,đầu thế kỷ XX 7
1.1.2. Những nguyên nhân dẫn tới phong trào 15
1.2. Diễn biến của phong trào 20
Chương II
:
Một số vấn đề Triết học trong
phong trào chấn hưng phật giáo 33
dân tộc. Lịch sử phật giáo Việt nam luôn gắn liền với lịch sử dân tộc
Việt Nam. Với lịch sử hơn 2000 năm, Phật giáo Việt Nam đã để lại cho
dân tộc ta nhiều dấu ấn, từ tín ngưỡng đến Văn hoá, từ phong tục tập
quán đến thế giới quan, nhân sinh quan, từ tư tưởng đến tình cảm. Nhiều
vấn đề trong lịch sử tư tưởng dân tộc sẽ khó được làm sáng tỏ nếu không
hiểu được Phật giáo dân tộc. Nghiên cứu Phật giáo trong lịch sử dân tộc
Việt Nam, không những để tìm hiểu về một tín ngưỡng, một hệ tư tưởng
của quá khứ mà còn để biết và hiểu được đời sống tinh thần của con
người Việt Nam, của dân tộc Việt Nam, Phật giáo Việt Nam hiện nay.
Bởi vậy, nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung và lịch sử phật
giáo Việt Nam nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng. Trong phạm vi
nghiên cứu của luận văn này chúng tôi không đặt vấn đề tìm hiểu, nghiên
cứu toàn bộ lịch sử phật giáo Việt Nam mà chỉ giới hạn trong một giai
đoạn, với đề tài : “Chấn hưng phật giáo ở Việt Nam đầu thế kỉ XX, một
số vấn đề Triết học và ý nghĩa của nó”.
Chấn hưng Phật giáo Việt Nam là một phong trào Tôn giáo, tuy
thời gian tồn tại của nó rất ngắn ngủi so với chiều dài của lịch sử tư
tưởng dân tộc, nhưng nó có sức lan toả rộng lớn, có ảnh hưởng không
nhỏ tới mọi mặt của đời sống xã hội. Đặc biệt là ảnh hưởng của nó tới sự
phát triển lịch sử tư tưởng Việt Nam. Cuộc tranh luận về những vấn đề
tư tưởng mang tính chất Triết học trong phong trào diễn ra công khai
trên báo chí hoặc trực tiếp giữa cá nhân với cá nhân, kéo dài hàng chục 2
năm. Đây không chỉ là những cuộc tranh luận diễn ra lần đầu tiên trong
lịch sử tư tưởng Việt Nam, mà còn là cuộc tranh luận đề cập đến rất
nhiều những vấn đề tư tưởng, lí luận. Những cuộc tranh luận này đã thu
hút nhiều người tham ra, kể cả người dân và giới phật tử, để lại rất nhiều
giá trị nhận thức.
phát huy bản sắc Văn hoá dân tộc, truyền thống và tinh thần của cha ông
ta là một nhiệm vụ quan trọng, có đóng góp không nhỏ đến sự nghiệp
xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ và Văn minh. Thực tế này đòi hỏi chúng ta cần tiến hành nghiên cứu
nhiều vấn đề. Đây cũng là lí do mà chúng tôi chọn Phong trào chấn hưng
phật giáo ở Việt nam đầu thế kỉ XX, một số vấn đề Triết học và ý nghĩa
của nó” làm đề tài nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu.
cho tới nay ở nước ta đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về lịch
sử phật giáo Việt nam, mà điển hình là một số công trình sau đây :“ Lịch
sử phật giáo Việt nam” của nhiều tác giả, do GS. TS Nguyễn Tài Thư
làm chủ biên. “ Lược sử phật giáo Việt nam” của Thượng toạ Thích
minh Tuệ.“ Việt nam phật giáo sử lược” của Thích mật Thể. “Phật giáo
Việt Nam từ nguyên thủy đến thế kỉ XIII” của Thích Mật Thể, “ Việt
Nam Phật giáo sử lược” (2 tập ) của Nguyễn Lang. Ngoài ra còn một số
bài viết đăng trên “ tạp chí Triết học” đề cập tới vai trò của Phật giáo
trong lịch sử tư tưởng Việt Nam. Chẳng hạn bài “ Thử tìm hiểu vị trí của
ba đạo : Nho, Phật, Lão trong lịch sử tư tưởng Việt Nam” của tác giả
Nguyễn Tài Thư đăng trên tạp chí Triết học, số1/ 1982, hoặc bài “ Thử
bàn về một vài tư tưởng Phật giáo” của tác giả Nguyễn Hùng Hậu, đăng
trên tạp chí Triết học số 1/ 3 – 1989. v.v. 4
Trong các công trình này, các tác giả đều có những nhận định,
đánh giá nhất định về vai trò của phật giáo trong lịch sử tư tưởng Việt
Nam trên một số phương diện khác nhau.
Gần đây là cuốn “ Đại cương triết học phật giáo Việt Nam – Từ
khởi nguyên đến thế kỷ XIV ” của PGS.TS Nguyễn Hùng Hậu.Trong
công trình này tác giả khẳng định : Triết học Việt Nam trong giai đoạn
cập đến rất nhiều vấn đề. Khi trình bày về phong trào chấn hưng phật
giáo, tác giả đã đề cập đến tình hình xã hội và phật giáo trước khi phong
trào xuất hiện và người đương thời phê bình phật giáo, phê bình phong
trào chấn hưng phật giáo. Tác giả cũng đã đề cập tới những vấn đề tư
tưởng mà cuộc vận động chấn hưng Phật giáo đặt ra. Song phân tích trên
bình diện triết học cũng chưa thật đi sâu. Cho nên có thể nói, từ trước tới
nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện về phong trào
này dưới góc độ triết học. Nguồn tài liệu về phong trào chấn hưng phật
giáo chưa được khai thác và sử dụng triệt để.
Điểm qua tình hình nghiên cứu về lịch sử tư tưỏng Việt nam, cho
thấy: 1/ phong trào chấn hưng phật giáo ở Việt nam đầu thế kỷ XX, đã
có một số công trình nghiên cứu, đề cập đến nhưng vẫn chưa đạt tới
khảo cứu một cách toàn diện. 2/ trong các công trình đó do mục đích và
yêu cầu cụ thể của mỗi đề tài, mà mỗi tác giả lại có những cách tiếp cận
rất khác nhau.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn.
Mục đích của luận văn là phân tích những vấn đề Triết học được
đưa ra tranh luận rất sôi nổi trong phong trào chấn hưng Phật giáo ở Việt
Nam đầu thế kỷ XX. Để từ đó thấy được vai trò và ý nghĩa của nó trong
lịch sử tư tưởng Việt Nam.
Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ: 6
+ Khái quát tình hình chính trị - xã hội và phật giáo Việt nam thế kỷ
XIX và những thập niên đầu của thế kỷ XX, trên cơ sở đó đi sâu phân
tích sự ra đời và diễn biến của phong trào chấn hưng Phật giáo ở nước ta.
+ Phân tích một số vấn đề Triết học được đem ra tranh luận trong
phong trào chấn hưng phật giáo ở Việt Nam đầu thế kỉ XX. Từ đó thấy
được vai trò và ý nghĩa của nó trong lịch sử tư tưởng Việt Nam.
8
B. NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
PHONG TRÀO CHẤN HƢNG
PHẬT GIÁO Ở VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX:
NGUYÊN NHÂN VÀ DIỄN BIẾN CỦA NÓ1.1. Những nguyên nhân của phong trào chấn hƣng phật giáo ở Việt
Nam.
1.1.1. Khái quát tình hình chính trị, xã hội và phật giáo Viêt
Nam thế kỉ XIX, đầu thế kỷ XX
Nghiên cứu bất kỳ một hiện tượng xã hội nào, chúng ta không thể
tách nó một cách siêu hình với những điều kiện Kinh tế, chính trị, xã hội
và tư tưởng nảy sinh ra nó. Chỉ có đặt nó trong những điều kiện đó,
xem xét đánh giá nó trong mối liên hệ, quan hệ tác động qua lại giữa
chúng thì chúng ta mới thấy được tính khách quan, thấy được giá trị và ý
nghĩa của nó.
Vì vậy khi đặt vấn đề nghiên cứu phong trào Chấn hưng Phật giáo ở
Việt Nam đầu thế kỷ XX. Chúng ta không thể không phân tích tình hình
chính trị - xã hội, đặc biệt là tình hình Phật giáo ở Việt Nam thế kỷ XIX
và những thập niên đầu thế kỷ XX.
Triều Nguyễn, bắt đầu là triều đại của vua Gia Long, cuối Triều
Nguyễn là triều đại của vua Tự Đức, nhìn chung chính sách của Nhà
Nguyễn ở hai thời kỳ này là hạn chế Phật giáo. Nhưng ở vào khoảng
giữa của Triều Nguyễn, đó là Triều đại của vua Minh Mạng và Thiệu
Trị, Phật giáo lại được quan tâm, phát triển.
Như trên đã nói Triều Nguyễn bắt đầu từ năm 1802, năm thứ 2 của
Nhìn một cách tổng thể thì chính sách của Gia Long nói chung là
hạn chế sự phát triển của Phật giáo. Triều đình tăng cường chính sách 10
quản lí số tăng ni, phật tử, bắt họ tham gia nhiều vào công việc xã hội.
Chủ trương của Nhà Nguyễn thời kỳ này là thu hẹp nhà chùa. Họ đặt ra
những quy định ngặt nghèo nhằm giảm bớt việc xây chùa, tô tượng, đúc
chuông, hạn chế tối đa số người dân thao đạo Phật. Vua Gia Long còn
cấm đoán việc xây chùa mới, cấm tô tượng đúc chuông, làm đàn chay.
Trong sách “ Đại nam Thực lục chính biên” có viết: “Gần đây có kẻ
sùng đạo Phật xây chùa triền quá cao, lầu gác rất tráng lệ, đúc chuông, tô
tượng rất đỗi đàng hoàng, làm đàn chay, mở hội hè, nuôi sư, cúng Phật
phí tổn… không sách nào có thể chép hết, cầu phúc báo viển vông đến
nỗi tiêu hao máu mỡ của dân. vậy từ nay về sau chùa quán có đổ nát mới
được tu bổ, còn làm chùa mới, tô tượng, đúc chuông, tổ chức hội chùa
hết thảy đều cấm. Sư sãi chân tu thì Lí trưởng sở tại phải nắm và khai rõ
tính danh, quán chỉ, đem nộp ở quan chấn để biết rõ số lượng”[7,Tr.367].
Song song với việc ban hành các chính sách hạn chế Phật giáo. Nhà
Nguyễn còn tiến hành phê phán gay gắt giáo lí Phật giáo, nhằm đánh đổ
tôn giáo này. Cả vua, quan, đình thần và nhiều nho sĩ tất thảy đều tham
gia vào việc này. Họ nhằm vào Thuyết "Nhân duyên báo ứng" của nhà
Phật, mà cho rằng thuyết này là vô ích, là không thể thực hiện được.
Chiếu của vua Gia Long về “định tiền lệ hương đảng cho dân xã Bắc hà”
nói: Người thờ Phật cốt để cầu phúc báo, sách nhà Phật nói: Người có
duyên được Phật độ, người không duyên Phật chẳng độ. Sách truyện
nói: Thờ cha mẹ chẳng ra gì, ăn chay niệm Phật cũng vô ích, chung với
Vua đến thế dẫu không cúng Phật cũng không sao. Nhờ thế người có
duyên được Phật độ, mà người không duyên Phật độ làm sao được.
Chuộng Phật giáo như Tiêu Diễn mà cũng không giữ được thân, huống
Thiệu Trị. Lúc này xã hội tương đối ổn định, để mở mang văn hoá, để
gần gũi trở lại nhân dân với Phật giáo. Minh Mạng và Thiệu Trị đã phải
vượt qua những trở ngại. Trước hết là những thành kiến tông tộc như cho 12
Phật giáo là “dị đoan”, là “không hợp lẽ”, “cho xây chùa triền là tiêu hao
máu mỡ của dân”, sau nữa là những băn khoăn về giáo lí nhà Phật như:
giáo lí nhà Phật không nói tới “trung hiếu”, không đề cao uy quyền của
Thiên tử. Để khắc phục được những trở ngại này là cả một thử thách lớn
đối với Họ. Trong giai đoạn lịch sử dân tộc dưới Triều đại Minh Mạng
và Thiệu Trị, chúng ta thấy có những thay đổi dần trong lời lẽ của họ.
Nếu Minh Mạng đối với Phật giáo đôi lúc còn ngập ngừng, còn phải
thanh minh về việc làm của mình, đến Thiệu Trị, ông đã xem việc chu
cấp cho nhà chùa, tô tượng, đúc chuông, lập đàn chay là những việc làm
tất yếu. Hơn thế nữa Thiệu Trị còn làm thơ ca ngợi cảnh chùa. Ngoài
Vua ra, số Quan lại và Nho sĩ lúc này cũng tin tưởng vào Phật giáo ở
những góc độ khác nhau. Có những Đại thần cũng tự xưng mình là Bồ
tát, là người tu tại gia, Họ cũng chú ý tới việc xây dựng chùa triền, tạo
bia, khắc kinh. Có người thì lấy cảnh chùa làm nơi thăm viếng để thoả
lòng hoà nhập với thiên nhiên, chùa triền là nơi để tâm hồn thanh thoát.
Cũng có những người đồng cảm với giáo lí nhà Phật về cảnh ngộ con
người, về sự giải thoát. Trong số những người có sự đồng cảm với Phật
giáo. Họ đã thể hiện được suy tư của thời đại, tiêu biểu cho nhiều người
và để lại những dấu ấn sâu đậm trong quan niệm của họ về nhân sinh, về
tư duy của người đương thời.
Trong Triều Vua- Quan và các Nho sĩ thời kì Minh Mạng, Thiệu
Trị quan tâm đến Phật giáo như vậy, thì ngoài dân gian việc thay đổi
Triều Đại đã không làm thay đổi tín ngưỡng, niềm tin của họ vào đạo
Phật. Có khi những quy định khắt khe của Triều Đình về việc xây chùa,
của Pháp. Dưới ách cai trị của thực dân Pháp, Việt Nam có những thay
đổi quan trọng trong kết cấu kinh tế, xã hội và tư tưởng.
+ Về chính trị : Cùng với những biện pháp đàn áp rã man, tàn bạo
các phong trào yêu nước, phong trào cách mạng của nhân dân ta. Thực 14
dân Pháp còn thực hiện chính sách “chia để trị”, cụ thể chúng chia đất
nước ta thành 3 kỳ, với 3 hình thức cai trị khác nhau.
Nam kỳ là chế độ trực trị, đứng đầu bộ máy công quyền là viên
Thống đốc.
Bắc kỳ là chế độ bảo hộ, đứng đầu là viên Thống sứ.
Trung Kỳ thực chất cũng do người pháp nắm, đứng đầu là viên
Khâm sứ. Nhìn chung quyền lực do người Pháp thâu tóm trong cả nước.
+ Về kinh tế : Tập đoàn tư bản Pháp ở Việt Nam hầu như không
chú ý đến việc mở mang, phát triển công nghiệp nói riêng, kinh tế nói
chung. Chúng triệt để khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú
của Việt Nam bằng nguồn nhân lực rẻ mạt người Việt. Chúng biến Việt
Nam thành thị trường tiêu thụ sản phẩm công nghiệp cho chính quốc.
Chúng duy trì hình thức bóc lột phong kiến, bằng nhiều thủ đoạn, bằng
nhiều loại sưu thuế, để tăng cường vơ vét bóc lột nhân dân Việt Nam.
+ Về Văn hóa : Chúng thực hiện chính sách “ngu dân” gây tâm lý
tự ti vong bản trong nhân dân, khuyến khích đồi phong bại tục, truyền bá
Văn hoá phương Tây.
Phật giáo Việt Nam lúc này ở vào hàng thứ yếu, thậm chí còn bị đả
kích, đạo và đời tách biệt nhau. Mỗi người từ đời đến đạo hay từ đạo trở
về đời là cả một chặng đường khó khăn, phải dũng cảm lắm mới vượt
qua được, nhất là những Phật tử tiến bộ, có tinh thần yêu nước. Người
Phật tử hoạt động cho đời vì đạo, lúc này là phải đứng lên chống lại kẻ
Ông kết luận là phải bỏ Hán tự, dùng chữ quốc ngữ. Phan Chu Trinh
không phải là nhà nho cố chấp, thấy sao ông nói vậy. Sự tin tưởng của
Ông vào Phật giáo không những bắt nguồn ở nhận thức về khả năng duy
tân ở một xã hội Phật giáo như quốc gia Nhật Bản, mà bắt nguồn ở sự
nhận thức về thời đại cực thịnh Lí - Trần. 16
Bên cạnh các phong trào Đông Du, Đông kinh nghĩa thục là phong
trào Duy tân đất nước. Những người khởi xướng và nhiệt thành nhất
trong phong trào Duy tân là các nhà nho tân tiến, tiêu biểu như: Phan Bội
Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Lương Văn Can, Đào
Nguyên Phố, Nguyễn Quyền Họ là những nhà Nho không chỉ có kiến
thức Hán học mà họ còn biết cả tiếng Pháp, đọc thông Văn bạch thoại,
có điều kiện đi khắp Trung- Nam- Bắc, có người sang cả Châu Âu tiếp
thu được những tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây. Phong trào yêu
nước diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng nội dung chủ yếu là
hô hào,vận động, đoàn kết dân tộc, tuyên truyền tư tưởng tự do bình
đẳng, dân chủ, bình quyền bài trừ những hủ tục lạc hậu. Phong trào vận
động duy tân đất nước đã đưa đến một kết quả có ý nghĩa quan trọng là
thức tỉnh tinh thần dân tộc, tập hợp lực lượng tạo nên một luồng sinh khí
mới.
Một phong trào rất được chú ý, quan tâm xuất hiện vào thời kì này
đó là phong trào truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê Nin vào Việt Nam dẫn tới
việc thànhlập tổ chức “Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội”
tháng 6 năm 1925, một tổ chức tiền thân cuả Đảng cộng sản Việt Nam
sau này. Đứng đầu phong trào này là nhà cách mạng nhiệt thành, giàu
kinh nghiệm, Lãnh tụ Nguyễn ái Quốc. Chủ nghĩa Mác – LêNin được
truyền bá vào Việt Nam một cách có tổ chức, có hệ thống, đã ảnh hưởng
tới mọi tầng lớp, giai cấp, đặc biệt là giai cấp công nhân, tầng lớp trí
tìm đến Phật giáo, coi Phật giáo như chỗ dựa tinh thần.
Một nguyên nhân nữa phải kể đến ở đây. Đó là vào cuối năm 1925
đầu năm 1926 đạo Cao Đài ra đời, hoạt động rầm rộ, thu hút được đông
đảo quần chúng nhân dân ở các tỉnh Nam bộ. Đạo Cao Đài là sự kết hợp
giữa Phật giáo với đạo Nho, đạo Lão, đạo Thiên chúa gọi tên là Đại đạo
tam kỳ phổ độ. Đạo Cao Đài ra đời làm cho ở nhiều địa phương, Phật
giáo mất tín đồ, mất cả chùa triền, các nhà sư đều phản ứng, các nhà Phật 18
học bất mãn dữ dội. Bên cạnh đó, đạo Cao Đài vừa như sự thách thức,
vừa với tư cách như một tôn giáo thay thế sự chi phối xã hội của đạo
Phật chính thống. Đạo Cao Đài còn lớn tiếng khẳng định rằng: Các tôn
giáo truyền thống (bao gồm cả đạo Phật) đều đã hư hỏng, nên “Đại đạo
tam kỳ phổ độ” mới nảy sinh. Theo đà này nếu đạo Phật không có sự
thay đổi (chấn hưng) thì mất hết quần chúng, mất hết tín đồ và có nguy
cơ mất chỗ đứng trong xã hội. Muốn đương đầu với đạo Cao Đài thì các
Phật tử phải làm sao đây? Điều chắc chắn là có nhiều cái lâu nay lưu tệ
trong cửa Phật không thể chối cãi được mà cần phải chỉnh đốn, cần phải
chấn hưng. Bên cạnh đó, nhiều tổ chức tôn giáo mới được tách ra từ đạo
Phật truyền thống. Có những tôn giáo mới ra đời trên cơ sở sử dụng một
số yếu tố của Phật giáo pha trộn với một số yếu tố của các tôn giáo khác
như: đạo Tin Lành, đạo Phật Đường, đạo Minh Sử, đạo Phật Thầy Đây
là những tôn giáo mới xuất hiện ở Nam bộ vào cuối thế kỷ XIX đầu thế
kỷ XX.
Đầu thế kỷ XX, Phật giáo Việt Nam đang trên đà suy đồi. Nhiều
nhà sư, cư sĩ lúc bấy giờ thấy được điều đó cũng phải kêu lên. Chẳng hạn
cư sĩ Thanh Quang viết : “Xứ ta, những hạng người xuất gia vào chùa
phần nhiều chỉ học đặng vài bộ kinh, lo luyện hơi cho hay, tập nhập tâm
cho già, nay lãnh đám này, mai lãnh đám khác, cũng tràng hạt, cũng cà
Ở miền Bắc có Thiền sư Thanh Hạnh, một vị tôn túc được quốc dân
sùng kính chủ trì đạo tràng Vĩnh Nghiêm. Năm nào Ngài cũng quy tụ
tăng sĩ về đây để giảng dạy Phật pháp. Chùa Bà Đá ( Linh Quang Tự)
cũng duy trì một đạo tràng lớn, mỗi năm đạo tràng này quy tụ hàng trăm
tăng sĩ về kết hạ và học tập giáo điển. Thiền sư Đỗ Văn Hưng chủ trương
khắc bản, in thêm kinh sách, kể cả những Kinh lớn như Đại Bảo Tích.
Còn nhiều cao tăng và những đạo tràng khác nữa chưa kể hết được, đã
tạo nên một nền tảng xã hội và giáo hội cần thiết cho một cuộc chấn
hưng Phật giáo. Những cao tăng ở những đạo tràng lớn, những bậc tôn 20
túc trong cả nước, cùng các Nho sĩ, các trí thức trẻ đều chung một chí
hướng, mong muốn canh tân Phật giáo nước nhà trước những yêu cầu
mới của đất nước.
Một nguyên nhân nữa: Phong trào chấn hưng Phật giáo là một
phong trào mang tính Quốc Tế. Thời kì những thập niên đầu thế kỷ XX,
phong trào Chấn hưng Phật giáo được khở đầu ở Ân Độ (nơi quê hương
của Đức Phật) rồi lan sang Trung Quốc, Nhật Bản. Đặc biệt ở Trung
Quốc phong trào chấn hưng Phật giáo nảy sinh và phát triển mạnh mẽ ở:
Nam Kinh, Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu .Tiếng vang của nó
vang ra khắp Châu á, sang tận Châu Âu với những khẩu hiệu “Cách
mạng giáo lí - Cách mạng giáo hội”. Nhiều viện nghiên cứu Phật học,
nhiều trường đào tạo tăng đồ, nhiều sách báo được xuất bản. Trong đó có
tạp chí “ Hải triều âm” được rất nhiều học giả, các phật tử Việt Nam hâm
mộ. ở Trung Quốc, những hoạt động sôi nổi của các nhà sư, nhất là Hoà
Thượng Thái Hư, đã truyền sang Việt Nam làm nức lòng những người
yêu thích đạo Phật. Giới phật tử Việt Nam tìm được ở đó những lời động
viên, những kiến thức mới, những lời giải thích mới, về kinh điển Phật
giáo. Đồng thời giới phật tử Việt Nam cũng lấy đó làm cơ hội để nhìn
Hoàng Trọng Phu và Tổng đốc Nguyễn Năng Quốc đứng đầu. Năm 1935
tạp chí “Đuốc Tuệ” ra đời, là cơ quan tuyên truyền của hội. Nhưng dù ở
đâu (Bắc, Trung, Nam) các hội Phật giáo vừa kể trên đều do Thống đốc,
Khâm sứ, Thống sứ và một số quan chức của Pháp và của triều đình Huế
làm chủ tịch hay hội viên danh dự. Tuy nhiên, các hội Phật giáo ra đời từ
1932 đến 1934 ở cả ba kỳ không phải chỉ do ý đồ của Pháp và triều đình
Huế, trên thực tế một số phật tử Việt Nam cũng đã “tương kế, tựu kế” để
thực hiện việc Chấn hưng Phật giáo, tập hợp tín đồ. Trong số những
nhân vật kể trên, không phải ai ai cũng làm theo ý đồ của Pháp. Nhưng
lúc này, rõ ràng là ngay những người thật tâm huyết với Phật giáo cũng