Đảng bộ tỉnh bắc ninh lãnh đạo công tác đào tạo lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã, phưởng, thị trấn từ năm 1997 đến năm 2014 - Pdf 39

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN VĂN HOÀN

ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC ĐÀO
TẠO LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ
CHỐT CẤP XÃ, PHƢỜNG, THỊ TRẦN
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2014

Chuyên ngành:Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60.22.03.15

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Ngô Đăng Tri

Hà Nội – 2015


MỤC LỤC
NỘI DUNG

TRANG

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

1

1. Lý do chọn đề tài


9

THỊ TRẤN TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2005
1.1. Những yếu tố tác động và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bắc
Ninh đối với công tác đào tạo lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ

9

chủ chốt cấp xã, phường, thị trấn từ năm 1997 đến năm 2005
1.1.1. Những yếu tố tác động

9

1.1.2. Chủ trƣơng của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh

37

1.2. Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh chỉ đạo thực hiện công tác đào tạo lý
luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã, phường, thị

41

trấn từ năm 1997 đến năm 2005
1.2.1. Chỉ đạo xây dựng kế hoạch, đề án, chƣơng trình đào tạo
1.2.2. Chỉ đạo hoạt động của Trƣờng chính trị Nguyễn Văn Cừ và
Trung tâm bồi dƣỡng chính trị ở các huyện, thị xã
Tiểu kế t chương 1
Chương 2 ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH
CÔNG TÁC ĐÀO TẠO LÝ LUẬN CHÍNH TRI ̣CHO ĐỘI NGŨ


2.2.2. Chỉ đạo hoạt động của Trƣờng Chính trị Nguyễn Văn Cừ và
Trung tâm bồi dƣỡng chính trị ở các huyện, thị xã

62
68

Tiểu kế t chương 2

80

Chương 3 NHẬN XÉ T VÀ KINH NGHIỆM

81

3.1. Nhận xét

81

3.1.1. Về ƣu điể m

81

3.1.2. Về hạn chế

87

3.2. Một số kinh nghiệm

90



Ban chấp hành

BCT

:

Bộ chính trị

BTV

:

Ban thƣờng vụ

CBCC

:

Cán bộ công chức

CNH, HĐH

:

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CNTB

:


Hội đồng nhân dân

UBND

:

Ủy ban nhân dân

MTTQ

:

Mặt trận tổ quốc

TTBDLLCT

:

Trung tâm bồi dƣỡng lý luận chính trị

1


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thực tiễn cho thấy, trong sự vận động của mỗi quốc gia, cán bộ luôn
giữ vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng về tổ chức, quản lý công việc nhà
nƣớc, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Để có đƣợc đội ngũ cán bộ với
trình độ, năng lực, phẩm chất cao, đòi hỏi công tác đào tạo cán bộ phải

Hơn nữa, năng lực và trình độ lý luận chính trị của cán bộ cơ sở có
tác dụng quan trọng trong lãnh đạo phát triển kinh tế, xã hội và an ninh
trật tự ở địa phƣơng, thúc đẩy sự phát triển chung cho tỉnh, vùng và cả nƣớc. Trình độ lý luận chính trị đối với ngƣời cán bộ là yếu tố “then chốt”
cho mọi hoạt động nhận thức và hành động thực tiễn của họ. Cán bộ cấp
xã, phƣờng, thị trấn có nắm vững, hiểu biết sâu sắc lý luận chính trị mới
nắm chắc các quan điểm, đƣờng lối, chủ trƣơng, chính sách của Đảng và
Nhà nƣớc mới vận dụng một cách sáng tạo vào tình hình cụ thể ở địa
phƣơng, từ đó rút ra những bài học, kinh nghiệm, những kết luận góp
phần vào việc sửa đổi, bổ sung và phát triển lý luận, đƣờng lối, chủ
trƣơng, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nƣớc. Để hoàn thành
tốt nhiệm vụ của mình thì cán bộ lãnh đạo, quản lý nói chung, cán bộ cơ
sở nói riêng phải có trình độ, trong đó trình độ lý luận chính trị là không
thể thiếu đƣợc.
Cán bộ cơ sở ở tỉnh Bắc Ninh đƣợc hình thành từ nhiều nguồn,
trƣởng thành chủ yếu thông qua thực tiễn, chƣa đƣợc đào tạo cơ bản,
thiếu vốn kiến thức chuyên môn, kiến thức lý luận chính trị. Bởi thế,
trong nhận thức và chỉ đạo thực tiễn họ thƣờng mắc phải bệnh kinh
nghiệm, giáo điều, điều hành công tác lãnh đạo, quản lý cũng nhƣ xử lý
công việc một cách máy móc, kém hiệu quả. Từ thực tế trên đòi hỏi đội ngũ
cán bộ, đảng viên cơ sở ở tỉnh Bắc Ninh không ngừng nâng cao trình độ về
mọi mặt, trong đó có kiến thức lý luận chính trị.
Tóm lại, nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nƣớc thì ngƣời đảng viên nói chung, cán bộ cấp xã,
3


phƣờng, thị trấn ở tỉnh Bắc Ninh nói riêng phải rèn luyện, nâng cao trình
độ lý luận chính trị. Qua đó mới có thể nắm bắt, phản ảnh đúng đắn quy
luật phát triển của thời đại; vận dụng chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách
của Đảng và Nhà nƣớc một cách có hiệu quả và đề ra những quyết sách

- Làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đã vận dụng đúng đắn,
sáng tạo chủ trƣơng của Đảng về công tác đào tạo lý luận chính trị để
6


lãnh đạo công tác đào tạo lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt
cấp xã, phƣờng, thị trấn từ năm 1997 đến năm 2014.
- Đánh giá những ƣu điểm cũng nhƣ những hạn chế trong công tác
đào tạo lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cán bộ chủ chốt cấp xã,
phƣờng, thị trấn ở Bắc Ninh.
- Đúc kết những kinh nghiệm trong quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc
Ninh lãnh đạo công tác đào tạo lý luận chính trị từ năm 1997 đến 2014.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng
Luận văn tập trung nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc
Ninh đối với công tác đào tạo lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cán bộ
chủ chốt cấp xã, phƣờng, thị trấn từ năm 1997 đến 2014.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Đề tài nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc
Ninh đối với công tác đào tạo lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cán bộ
chủ chốt cấp xã, phƣờng, thị trấn từ năm 1997 đến 2014.
Về không gian: Luận văn chủ yếu nghiên cứu ở địa bàn tỉnh Bắc
Ninh.
5. Cơ sở lý luận, phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn đƣợc thực hiện trên cơ sở phƣơng pháp luận duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn chủ yếu sử dụng phƣơng pháp lịch sử và lôgíc. Ngoài ra,
luận văn còn sử dụng phƣơng pháp khảo sát thực tế, phƣơng pháp so

8


Chương 1
CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH ĐỐI
VỚI CÔNG TÁC ĐÀO TẠO LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN
BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ, PHƢỜNG, THỊ TRẤN TỪ NĂM 1997 ĐẾN 2005

1.1. Những yếu tố tác động và chủ trƣơng của Đảng bộ tỉnh Bắc
Ninh đối với công tác đào tạo lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ
chủ chốt cấp xã, phƣờng, thị trấn từ năm 1997 đến năm 2005
1.1.1. Những yếu tố tác động
1.1.1.1. Vị trí, vai trò của công tác đào tạo lý luận chính trị cho đội
ngũ cán bộ cán bộ chủ chốt cấp xã, phường, thị trấn
* Một số khái niệm cơ sở:
- Khái niệm lý luận chính trị:
Lịch sử xã hội loài ngƣời đã chứng minh rằng, từ khi xã hội có sự
phân chia giai cấp thì bất kỳ một giai cấp, một chính đảng nào muốn
nắm vững vai trò thống trị của mình đối với xã hội thì trƣớc tiên phải có
trình độ lý luận để nhằm tuyên truyền những quan điểm, đƣờng lối, chủ
trƣơng, chính sách… nhằm bảo vệ sự thống trị của giai cấp mình.
V.I.Lênin đã khẳng định: “Chỉ Đảng nào đƣợc một lý luận tiền phong
hƣớng dẫn, thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiền phong” [33,
tr.32].
Để hiểu bản chất của lý luận chính trị, trƣớc hết cần tìm hiểu một
số khái niệm có liên quan.
“Lý luận” theo tiếng Hy Lạp “Theo rie” với nghĩa sơ khai của nó
là quan sát, nghiên cứu. Ngày nay, lý luận đƣợc hiểu là tập hợp các khái
niệm, phạm trù quy luật đƣợc khái quát từ việc đúc rút những kinh
nghiệm, hoạt động hằng ngày của con ngƣời. Hay nói khác đi, lý luận là

Chính trị là một hiện tƣợng xã hội đặc biệt, nó xuất hiện cùng với
sự xuất hiện giai cấp, phân chia giai cấp và nhà nƣớc. Theo tiếng Hy Lạp
cổ “chính trị” là “politica” có nghĩa là những công việc có liên quan tới
nhà nƣớc, là nghệ thuật cai trị đất nƣớc, đó còn là một tổ chức xã hội

10


nằm dƣới một quyền lực nhất định, quyền lực nhà nƣớc. “Chính trị theo
nguyên nghĩa của nó là những công việc của nhà nƣớc, là phạm vi hoạt
động gắn với những quan hệ giai cấp, dân tộc và các nhóm xã hội khác
nhau mà hạt nhân của nó là vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà
nƣớc” [55, tr.507].
Vì lẽ đó V.I.Lênin khẳng định chính trị là sự biểu hiện tập trung
của kinh tế; chính trị do kinh tế quyết định. Nhƣng mặt khác, chủ nghĩa
Mác - Lênin cũng khẳng định vai trò tích cực tác động trở lại của chính
trị đối với đời sống kinh tế - xã hội. Sự tác động của chính trị đối với cơ
sở kinh tế thƣờng diễn ra theo hai hƣớng: nếu tƣ tƣởng, quan điểm chính
trị nào phản ánh đúng đắn sự vận động, phát triển khách quan thì nó thúc
đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Ngƣợc lại, nó làm kìm hãm sự phát triển
kinh tế - xã hội. V.I.Lênin khẳng định: “Chính trị không thể không
chiếm vị trí ƣu tiên so với kinh tế”. Ƣu tiên cho chính trị, là ƣu tiên cho
việc giành lấy quyền lực chính trị và cho xây dựng các quyết sách chính
trị đúng. Để đảm bảo cho sự phát triển kinh tế thì phải thông qua một hệ
thống chính trị nhƣ chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách, pháp luật nhà nƣớc
một cách đúng đắn khoa học, không đƣợc sai lầm, mơ hồ về chính trị.
Chính trị là một lĩnh vực rất tinh tế, nhạy cảm, nó biểu hiện trên cơ sở các
tri thức đƣợc tích luỹ trong quá trình lịch sử và những quan hệ gắn với
con ngƣời, với giai cấp, dân tộc và thời đại. Do tính phức tạp, nhạy bén,
năng động nên chính trị không có một công thức chung, cách thức chung

chuẩn nhất định”. Công tác đào tạo , là quá trình tổ chức những cơ hội học
tập nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng, thái độ làm việc cho ngƣời học để họ
đảm trách công việc đƣợc giao tốt hơn, hiệu quả hơn.
Nhƣ vậy chúng ta có thể định nghĩa công tác đào tạo lý luận chính
trị là quá trình tổ chức học tập nhằm trang bị cho ngƣời học những kiến
thức về các quan điểm, chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách của Đảng, Nhà
nƣớc và hình thành cho họ các kỹ năng nhằm thực thi quyền lực Nhà
nƣớc.
Bản chất của công tác đào tạo lý luận chính trị là quá trình tác động
có mục đích, có hệ thống của một đảng chính trị, một giai cấp, một tổ chức
12


chính trị - xã hội, nhằm giác ngộ nâng cao nhận thức tƣ tƣởng của quần
chúng về quan điểm, đƣờng lối chính trị; động viên, tập hợp quần chúng
tham gia vào quá trình đấu tranh cách mạng để giành, giữ, thực thi và bảo
vệ quyền lực chính trị; đáp ứng, thoả mãn các nhu cầu về lợi ích chính trị,
tinh thần và lợi ích kinh tế...
Ngày nay, công tác đào tạo lý luận chính trị có thể hiểu theo
nghĩa là công tác truyền bá những tri thức lý luận chính trị, những thông tin
cần thiết về công tác xây dựng chính đảng của giai cấp; cụ thể hiện nay là:
chủ nghĩa Mác - Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh; các quan điểm, đƣờng lối,
chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nƣớc Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam; định hƣớng các lĩnh vực khoa học và công nghệ, kinh tế,
các thành tựu khoa học xã hội và nhân văn, các thông tin chính trị, xã hội
và văn hoá.
Là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tƣ tƣởng, công tác
đào tạo lý luận chính trị của Đảng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên là quá
trình hoạt động có ý thức, mục đích, thƣờng xuyên với những phƣơng
pháp, biện pháp cách mạng, khoa học tác động đến tƣ tƣởng, hành động

Ở tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, viết năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã đƣa ra khái niệm một cách ngắn gọn, dễ hiểu về cán bộ “Cán bộ là
những ngƣời đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân
chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo
cho Đảng, cho Chính phủ rõ, để đặt chính sách cho đúng” [49, tr.269].
Ngày 13/11/2008, tại kỳ họp thứ tƣ Quốc hội khoá XII đã thông qua
Luật cán bộ, công chức có hiệu lực từ ngày 01/01/2010. Tại khoản 1 Điều 4
đã quy định: “Cán bộ là công dân Việt Nam, đƣợc bầu cử, phê chuẩn, bổ
nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng
sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ƣơng, ở tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ƣơng (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện,
quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (sau đây gọi là cấp huyện), trong
biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc” [39, tr.1]. Đây là căn cứ
pháp lý quan trọng để hiểu đúng bản chất, ý nghĩa của khái niệm cán bộ, để
phân biệt vói khái niệm công chức.

14


Đối với cán bộ cấp xã đƣợc quy định tại Khoản 3 Điều 4 Luật cán
bộ, công chức: “Cán bộ xã, phƣờng, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã)
là công dân Việt Nam, đƣợc bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong
Thƣờng trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thƣ, Phó Bí thƣ
Đảng ủy, ngƣời đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội” [39, tr.1].
Trong đội ngũ cán bộ, có một nhóm đƣợc gọi là cán bộ chủ chốt. Từ
trƣớc đến nay, trong công tác cán bộ cũng nhƣ

trong các văn bản , nghị

quyết của Đảng đề cập rất nhiều đến khái niệm cán bộ chủ chốt, tuy nhiên

chủ chốt cấp xã, phường, thị trấn nhƣ sau: “Đó là những ngƣời đứng đầu,
quan trọng nhất trong hệ thống bộ máy đảng, chính quyền, mặt trận và các
đoàn thể chính trị - xã hội ở xã, có tác dụng chính, chi phối việc chấp hành
chủ trƣơng, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc
thông qua việc lãnh đạo và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội
trên địa bàn nông thôn mà họ phụ trách”.
Với quan niệm đó, đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, phƣờng, thị trấn mà
luận văn đề cập đến bao gồm các chức danh: Bí thƣ, phó Bí thƣ Đảng uỷ;
Chủ tịch, phó Chủ tịch HĐND; Chủ tịch, phó Chủ tịch UBND; Chủ tịch
Mặt trận Tổ quốc; Bí thƣ Đoàn Thanh niên; Chủ tịch Hội nông dân; Chủ
tịch Hội liên hiệp phụ nữ; Chủ tịch Hội cựu chiến binh của xã, phƣờng, thị
trấn.
* Vị trí, vai trò của công tác đào tạo lý luận chính trị cho đội ngũ
cán bộ chủ chốt cấp xã, phường, thị trấn:
- Công tác đào tạo lý luận chính trị do Đảng Cộng sản lãnh đạo tiến
hành góp phần nâng cao tính tự giác cách mạng của giai cấp công nhân:
Sự phát triển của những quan hệ vật chất trong những giai đoạn lịch
sử nhất định đƣa đến sự ra đời giai cấp và phân chia giai cấp: giai cấp bóc
lột và giai cấp bị bóc lột, cùng với nó là cuộc đấu tranh trên tất cả các địa
hạt kinh tế, chính trị, tƣ tƣởng... nhằm xoá bỏ sự áp bức bóc lột, giải phóng
xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng con ngƣời. Ngay từ khi ra đời, giai
cấp vô sản đã đấu tranh với giai cấp tƣ sản: "giai cấp vô sản trải qua nhiều
giai đoạn phát triển khác nhau. Cuộc đấu tranh của họ chống lại giai cấp tƣ
sản bắt đầu ngay từ lúc họ mới ra đời" [41, tr.607]. Tiến trình đấu tranh của
giai cấp vô sản chung quy qua hai bƣớc phát triển: tự phát và tự giác. Trong

16


đó giai đoạn đấu tranh tự giác vì mình, vì quyền lợi toàn bộ giai cấp là

giai cấp công nhân đã trở thành lực lƣợng chính trị độc lập - một điều kiện
ra đời của Đảng.
Sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin, với phong trào đấu tranh
quyết liệt của GCCN và phong trào yêu nƣớc Việt Nam đã đƣa đến việc
20


thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 3-2-1930. Đó là kết quả của
quá trình chuẩn bị đầy đủ về chính trị, tƣ tƣởng và tổ chức, đồng thời cũng
là kết quả của công tác đào tạo lý luận chính trị, công tác vận động cách
mạng để đƣa yếu tố tự giác vào phong trào đấu tranh giai cấp công nhân và
phong trào yêu nƣớc do các chiến sĩ cộng sản tiền bối, mà ngƣời đầu tiên là
lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.
Ngày nay, sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các
nƣớc Đông Âu vừa qua để lại cho chúng ta nhiều bài học Trong đó bài học
xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tƣ tƣởng là vấn đề cốt lõi, là nhiệm
vụ quan trọng hàng đầu. Nó bao gồm từ việc xây dựng cƣơng lĩnh, đƣờng
lối chính trị... xác định mục tiêu và nhiệm vụ, đến việc xác định chủ
trƣơng, chính sách cụ thể của Đảng trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cách
mạng.
Sự vững vàng về chính trị là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho Đảng
đủ bản lĩnh ứng phó trƣớc mọi diễn biến phức tạp của tình hình, đề ra đƣợc
đƣờng lối chiến lƣợc đúng, đƣa con thuyền cách mạng vƣợt sóng vƣơn lên,
vƣợt qua thử thách đi đúng hƣớng. Vì vậy "suốt quá trình từ khi thành lập
Đảng đến nay bên cạnh những mặt mạnh cơ bản nhƣ đƣờng lối chung là
đúng, nhƣng tất nhiên trong cụ thể hoá đƣờng lối, cơ chế, chính sách cũng
có lúc sai, hoặc chƣa phù hợp" [24, tr. 11]. Đảng đã kịp thời phát hiện và
quyết tâm sửa chữa, nên vai trò lãnh đạo của Đảng vẫn đƣợc giữ vững. Sức
mạnh của Đảng còn phụ thuộc vào chất lƣợng của đội ngũ đảng viên mà
phẩm chất chính trị hàng đầu là sự giác ngộ cách mạng, tuyệt đối trung

tiến lên CNXH.
1.1.1.2. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và đặc điểm đội ngũ
cán bộ chủ chốt cấp xã, phường, thị trấn của tỉnh Bắc Ninh
* Đặc điểm tỉnh hình kinh tế, văn hóa – xã hội tỉnh Bắc Ninh
Là một trong 8 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Bắc Ninh
nằm trong tam giác tăng trƣởng kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh
(khu vực có tốc độ tăng trƣởng kinh tế cao trong cả nƣớc). Với vị trí nhƣ
vậy, Bắc Ninh có nhiều thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội.
22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status