Nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cấp xã ở tỉnh Hải Dương hiện nay - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

TRẦN THỊ HỒNG NHUNG NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ LÝ LUẬN
CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CẤP XÃ
Ở TỈNH HẢI DƯƠNG HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. TRẦN VĂN PHÒNG
HÀ NỘI - 2012 MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC
NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ
CÁN BỘ CẤP XÃ 7
1.1. Bản chất và đặc trưng của lý luận chính trị 7
1.1.1. Lý luận chính trị và trình độ lý luận chính trị 7
1.1.2. Đặc trưng của lý luận chính trị 15
1.2. Vai trò của lý luận chính trị đối với hoạt động của đội ngũ cán
bộ cấp xã 21
1.2.1. Khái niệm đội ngũ cán bộ cấp xã 21
1.2.2. Các chức năng cơ bản của đội ngũ cán bộ cấp xã 23
1.2.3. Tầm quan trọng của lý luận chính trị đối với hoạt động của đội
ngũ cán bộ cấp xã 26
Chƣơng 2. NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ
CÁN BỘ CẤP XÃ Ở TỈNH HẢI DƢƠNG HIỆN NAY - THỰC
TRẠNG VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA 36

3.2.
Từng bước xây dựng đội ngũ giáo viên làm công tác lý luận có
phẩm chất chính trị đủ về số lượng, giỏi về chuyên môn 79
3.3.
Gắn chặt việc nâng cao trình độ lý luận chính trị với việc tăng
cường tổng kết thực tiễn 86
3.4.
Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống cơ chế chính sách tạo
điều kiện, động lực khuyến khích cán bộ cấp xã tự giác học tập
nâng cao trình độ lý luận chính trị 89
KẾT LUẬN 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Kết cấu độ tuổi của đội ngũ cán bộ cấp xã tỉnh Hải Dương 43
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu giới tính của cán bộ cấp xã tỉnh Hải Dương 44
Biểu đồ 2.3: Trình độ lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ cấp xã
tỉnh Hải Dương 46

1
MỞ ĐẦU


điểm đó của Người, việc nâng cao trình độ lý luận chính trị và trình độ
chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ cấp xã là việc làm cấp bách và
trọng tâm hiện nay.
Hải Dương là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng. Trong sự nghiệp
xây dựng đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là từ khi có Nghị quyết
Hội nghị lần thứ Năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về đổi mới
và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn
(Tháng 03 năm 2002) và thực hiện đề án “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ và công tác cán bộ nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn cách
mạng mới” (2010) của Tỉnh uỷ, thì trình độ chuyên môn, trình độ lý luận
chính trị của đội ngũ cán bộ nói chung và cán bộ cấp xã nói riêng ở tỉnh Hải
Dương ngày càng phát triển. Họ luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng, có
phẩm chất đạo đức trong sáng, kiên định lập trường, mục tiêu, lý tưởng xã hội
chủ nghĩa, quyết tâm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng.
Tuy nhiên, đa số đội ngũ cán bộ cấp xã tỉnh Hải Dương trưởng thành từ
thực tế, thiếu vốn kiến thức chuyên môn, kiến thức lý luận chính trị nên trong
nhận thức và chỉ đạo thực tiễn họ thường mắc phải bệnh kinh nghiệm, giáo
điều, năng lực lãnh đạo và quản lý còn yếu, xử lý công việc một cách máy
móc, kém hiệu quả. Chính điều này đã ảnh hưởng đến hoạt động của các tổ
chức ở địa phương.
Để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp nông thôn thì đội ngũ cán bộ cấp xã phải không ngừng rèn luyện nâng
cao trình độ lý luận chính trị. Có như vậy mới nắm bắt được quy luật phát
triển của thời đại, mới vận dụng một cách đúng đắn chủ trương, đường lối,
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước tại địa phương mình phụ trách. 3
Với ý nghĩa như vậy chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “Nâng cao trình
độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cấp xã ở tỉnh Hải Dương hiện nay”

2/2001; “Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý cấp xã trong thời kỳ
mới” của Ngô Kim Ngân, Tạp chí Giáo dục Lý luận, Số 7/2001, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Bên cạnh đó đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, các luận án,
luận văn, xoay xung quanh vấn đề này như: “Vai trò của lý luận đối với quá
trình đổi mới xã hội ở nước ta hiện nay” của Phạm Đình Đạt, Luận văn thạc
sĩ Triết học năm 1993; “Nâng cao trình độ lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh cho cán bộ đảng viên trong công cuộc đổi mới hiện nay” của
Hoàng Thị Xuân Thanh, Luận văn thạc sĩ Triết học năm 1998; “Nâng cao
năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện ở
nước ta hiện nay” của Vũ Đình Chuyên, Luận văn thạc sĩ Triết học năm
2000; “Nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản
lý cấp huyện ở tỉnh Cao Bằng trong giai đoạn hiện nay” của Nông Văn Tiềm,
Luận văn thạc sĩ Triết học năm 2001; “Nâng cao trình độ lý luận chính trị
cho cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã tỉnh Hà Giang hiện nay” của Cao Thị
Hà, Luận văn thạc sĩ Triết học năm 2009…
Đối với tỉnh Hải Dương hiện nay đã cũng đang đặt ra yêu cầu phải
nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cấp xã. Vấn đề này chỉ
được đề cập trong một chừng mực nhất định như: Báo cáo tổng kết 10 năm
thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VIII) về chiến lược cán bộ thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước năm 2008 của Tỉnh ủy tỉnh
Hải Dương. Báo cáo tổng kết công tác tuyên giáo năm 2011 và phương
hướng 2012 của Tỉnh ủy tỉnh Hải Dương hay Báo cáo công tác bồi dưỡng cán
bộ năm 2011 và phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch năm 2012 của Trường
Chính trị tỉnh Hải Dương. Tuy nhiên, trong khuôn khổ những báo cáo thường
niên, những bài nghiên cứu về việc nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội
ngũ cán bộ cấp xã ở tỉnh Hải Dương chưa được nghiên cứu một cách hệ thống
và chuyên sâu. Vì vậy việc nghiên cứu đề tài của tác giả mang tính cần thiết.

6
5.2. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn sử dụng chủ yếu phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử đồng thời kết hợp với các phương
pháp khác như: phương pháp lôgíc kết hợp với phương pháp lịch sử, phương
pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê
6. Cái mới và những đóng góp về mặt khoa học của luận văn
6.1. Cái mới của luận văn
Về lý luận: Luận văn góp phần làm sáng tỏ vai trò của việc nâng cao
trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cấp xã nói chung và đội ngũ cán
bộ cấp xã nói riêng ở tỉnh Hải Dương hiện nay
Về thực tiễn: Bằng các phương pháp điều tra, thống kê, phân tích
Luận văn đã đánh giá đúng thực trạng về trình độ và năng lực của đội ngũ cán
bộ cấp xã ở tỉnh Hải Dương hiện nay. Từ đó, đề xuất một số giải pháp chủ
yếu nhằm nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ này.
6.2. Những đóng góp về mặt khoa học của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong
việc đổi mới phương pháp giảng dạy, nội dung, chương trình, giáo trình lý
luận chính trị ở các Trường Chính trị. Đồng thời góp phần vào vào việc thực
hiện đề án “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ nhằm
đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới” ở tỉnh Hải Dương
hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn
được chia thành 3 chương, 8 tiết:
Chương 1: Lý luận chính trị và tầm quan trọng của việc nâng cao trình
độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cấp xã.
Chương 2: Nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cấp
xã ở tỉnh Hải Dương hiện nay - thực trạng và vấn đề đặt ra.

thức được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn phản ánh những mối quan hệ
bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong thế giới 8
khách quan và được biểu đạt bằng hệ thống các khái niệm, phạm trù, nguyên
lý, quy luật Ngày nay lý luận được hiểu là “Hệ thống các quan điểm, tư
tưởng được khái quát từ thực tiễn, từ thế giới khách quan” [47, tr.54].
Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau về lý luận nhưng đều khẳng
định lý luận được hình thành từ thực tiễn, là sự tổng hợp các tri thức về tự
nhiên, xã hội của con người và nó có vai trò chỉ đạo hoạt động nhận thức và
hoạt động thực tiễn.
Để có thể duy trì sự tồn tại và phát triển của mình con người cần phải
khám phá tự nhiên, trinh phục tự nhiên và chính trong quá trình hoạt động
thực tiễn đó mà nhận thức của con người được hình thành và phát triển. Ban
đầu con người thu nhận những tài liệu cảm tính, trực quan sau đó tiến hành so
sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, trừu tượng hoá để phản ánh bản
chất, quy luật vận động của các sự vật, hiện tượng trong thế giới từ đó xây
dựng thành các lý luận khoa học. Hoạt động thực tiễn giúp con người biến đổi
tự nhiên đồng thời biến đổi cả bản thân mình, nó giúp con người ngày càng
phát triển năng lực trí tuệ, trình độ tư duy góp phần làm phong phú và sâu sắc
hơn vào kho tàng tri thức của loài người.
Như chung ta đã biết, từ khi khoa học xuất hiện vào khoảng hai nghìn
rưỡi năm qua, trong tư duy loài người đã cùng tồn tại hai cấp độ nhận thức
các sự vật, hiện tượng với hai tầm nông sâu khác nhau đó là nhận thức kinh
nghiệm và nhận thức lý luận.
Trong đó nhận thức kinh nghiệm là trình độ thấp, còn nhận thức lý luận
là trình độ cao của nhận thức khoa học. Hai trình độ này có mối quan hệ mật
thiết với nhau, làm tiền đề, cơ sở cho nhau cùng phát triển, phản ánh ngày
càng gần đúng hơn, đầy đủ hơn và sâu sắc hơn về thế giới vật chất đang vận

Từ những quan điểm về lý luận trên ta có thể hiểu lý luận theo nghĩa
chung nhất: là hệ thống những tri thức được khái quát từ những kinh nghiệm
thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, tính quy luật của 10
sự vật, hiện tượng trong thế giới hiện thức và được biểu đạt bằng hệ thống
nguyên lý, quy luật, phạm trù.
Nhờ có lý luận khoa học chỉ đạo hoạt động thực tiễn, nên con người đã
tạo ra nhiều nghành, nhiều lĩnh vực khác nhau. Mỗi một nghành, một lĩnh vực
đều có đối tượng nghiên cứu riêng như lĩnh vực kinh tế, lĩnh vực văn hoá, lĩnh
vực xã hội, lĩnh vực chính trị Trong đó, lĩnh vực chính trị đóng vai trò là
một trụ cột phát triển và tồn tại của mỗi quốc gia, dân tộc. Chính trị xuất hiện
khi xã hội có sự phân chia giai cấp, nó thường là công cụ để bảo vệ địa vị và
lợi ích của giai cấp cầm quyền. Vậy chính trị là gì?
Cũng giống như khái niệm lý luận, khi nghiên cứu về khái niệm chính
trị đã có rất nhiều các quan điểm khác nhau.
Khổng Tử (551-471 TCN) là một trong những nhà tư tưởng đầu tiên có
cách tiếp cận riêng đối với vấn đề chính trị. Theo ông, chính trị là cách cai trị
của người cầm quyền, quân tử, người cầm quyền cần học tính kỷ luật, để cai
trị người dân của mình bằng chính gương của mình và nên đối xử với họ bằng
tình thương và sự quan tâm. Vì vậy “Nếu nhà cầm quyền tự mình giữ theo
chính đạo chẳng đợi ra lệnh dân cũng ăn ở trúng phép, còn như tự mình chẳng
giữ theo chính đạo, dẫu có ra lệnh buộc dân theo họ cũng không theo” [55,
tr.200-201].
Chính trị, theo tiếng Hy Lạp là “Politics” có nghĩa là những công việc
liên quan đến thành bang, những công việc của quốc gia. “Là nghệ thuật cai
trị đất nước. Trong đó điều cốt lõi nhất, quan trọng nhất, thực chất nhất là tổ
chức ra cơ quan cai trị hay là chính phủ. Sau này từ thế kỷ XVI trở đi gọi là
nhà nước” [8, tr.7].

nhà nước
Kế thừa các quan điểm trên có thể hiểu một cách khái quát về chính trị
như sau: chính trị là những vấn đề về điều hành bộ máy nhà nước hoặc những
hoạt động của giai cấp, chính đảng nhằm giành hoặc duy trì quyền điều hành
nhà nước. 12
Từ sự phân tích về khái niệm lý luận và chính trị có thể nêu nên khái
niệm lý luận chính trị như sau: lý luận chính trị là lý luận trong lĩnh vực chính
trị bao gồm hệ thống các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của
một chính đảng, một giai cấp nhằm giành, giữ và thực thi quyền lực nhà
nước. Và như thế thì lý luận chính trị của chủ nghĩa Mác-Lênin là lý luận của
giai cấp vô sản đại diện cho ý chí, nguyện vọng của đại đa số nhân dân lao
động với chính đảng của nó - Đảng Cộng sản.
Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam lý luận chính trị là lý luận về thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội, về xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, về vấn đề đấu tranh giai cấp, xây dựng Đảng và nhà nước
Trong đó, Đảng ta xác định nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh. Điều này được Đảng ta khẳng định rõ trong Văn kiện
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI: tư tưởng Hồ Chí Minh “cùng với chủ
nghĩa Mác-Lênin, mãi mãi là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động
của Đảng và cách mạng Việt Nam” [19, tr.6]. Chủ nghĩa Mác-Lênin là hệ
thống quan điểm và học thuyết khoa học do C.Mác, Ph.Ănggen xây dựng và
do V.I.Lênin phát triển trong giai đoạn của chủ nghĩa đế quốc. Nó ra đời vào
những năm 40 của thế kỷ XIX trên cơ sở kế thừa những giá trị tư tưởng nhân
loại và tổng kết thực tiễn của thời đại. Nó là thế giới quan, phương pháp luận
khoa học về sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao
động khỏi chế độ áp bức, bóc lột tiến tới giải phóng con người nhằm xây
dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

tế lịch sử cho thấy, thành bại của cách mạng phụ thuộc vào năng lực sáng tạo
lý luận. Hồ Chí Minh luôn cảnh báo khuynh hướng coi thường lý luận chính
trị, tách rời lý luận với thực tiễn. Người cho rằng thiếu lý luận, coi khinh lý
luận giống như người một mắt sáng một mắt mờ.
Trong những năm đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, chế độ xã hội
chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ đã gây ra những tổn thất nặng nề cho
các nước đi theo con đường chủ nghĩa xã hội trong đó có Việt Nam. Chính 14
điều này đã tạo điều kiện cho các thế lực thù địch tìm cách chống phá chủ
nghĩa xã hội, bôi nhọ chủ nghĩa Mác-Lênin, một số kẻ cơ hội đòi xét lại con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Trước tình hình đó, Đảng ta vẫn kiên
trì chủ nghĩa Mác-Lênin, kiên trì con đường phát triển đất nước mà Đảng, Bác
Hồ và cả dân tộc đã lựa chọn. Điều đó được thể hiện rõ qua các kỳ đại hội.
Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI một lần nữa Đảng ta khẳng định:
“Trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào, phải kiên trì thực hiện đường lối
và mục tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng hồ Chí Minh ” [19, tr.21], “Toàn Đảng nghiêm túc học
tập chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh” [16, tr.139].
Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống mở,
nên trong quá trình học tập và nghiên cứu chúng ta không được sao chép
nguyên xi, dập khuôn máy móc, không được xem nó là vấn đề đã hoàn hảo.
Khi nói về chủ nghĩa Mác, V.I.Lênin cho rằng: “Chúng ta không hề coi lý
luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái
lại, chúng ta tin rằng, lý luận đó chỉ đặt nền tảng cho môn khoa học mà những
người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không
muốn lạc hậu đối với cuộc sống” [24, tr.232]. “Chủ nghĩa Mác-Lênin là kim
chỉ nam cho hành động chứ không phải là kinh thánh” [42, tr.247] cho nên
phải luôn luôn bổ sung, phát triển trong điều kiện mới nhằm giải quyết những

vững lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để thực hiện
những mục tiêu mà Đảng đã đề ra, sớm đưa nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội.
1.1.2. Đặc trưng của lý luận chính trị
Tính trừu tượng hóa và tính khái quát hoá
Để nghiên cứu và xây dựng hệ thống lý luận, trong quá trình nhận thức
tư duy con người phải diễn ra quá trình khái quát hoá và trừu tượng hoá. Như
chúng ta đã biết, tư duy là vấn đề cốt lõi của nhận thức, nếu không có tư duy
nhận thức của chúng ta chỉ dừng lại ở nhận thức bề ngoài, cảm tính, hình thức
mà không phản ánh được cái bản chất, quy luật bên trong của sự vật, hiện 16
tượng. Các hình thức biểu hiện của lý luận nói chung và lý luận chính trị nói
riêng như khái niệm, nguyên lý, quy luật, phạm trù đều là sản phẩm của quá
trình khái quát hoá và trừu tượng hoá. Trừu tượng hoá là một trong những
phương pháp của nhận thức. Trừu tượng hóa có thể hướng con người trong
việc tìm tòi chân lý, nắm bắt những mối liên hệ khách quan, bản chất, phát
hiện ra những quy luật tri phối sự vận động và phát triển của các sự vật, hiện
tượng. Còn khái quát hóa có vai trò quan trọng trong việc hình thành các khái
niệm, phạm trù, các nguyên lý, từ đó góp phần quan trọng trong việc xây
dựng các học thuyết khoa học.
Khái quát hóa và trừu tượng hóa là hai quá trình có mối liên hệ chặt chẽ
không tách rời nhau, xâm nhập lẫn nhau, bổ sung cho nhau. Thông qua đó con
người có được những tri thức về các mối liên hệ bản chất, có tính quy luật
trong sự vận động và phát triển của sự vật. Với đặc tính phản ánh cái chung,
cái phổ biến, cái bản chất nên nó có tính chính xác, khái quát, chặt chẽ, lôgíc
và độ tin cậy cao, nó là một hệ thống thống nhất. Mặc dù những khái niệm,
phạm trù, nguyên lý phản ánh những khía cạnh khác nhau, nội dung khác
nhau nhưng chúng luôn bổ sung, hỗ trợ, thúc đẩy nhau cùng phát triển. Lý
luận Mác-Lênin chính là một môn khoa học điển hình cho sự thống nhất, chặt

quáng. Lý luận mà không có liên hệ với thực tiễn là lý luận suông” [43,
tr.496]. Như vậy, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn được Hồ Chí Minh hiểu
trên tinh thần biện chứng: thực tiễn cần tới lý luận soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo,
định hướng để không mắc phải bệnh kinh nghiệm, còn lý luận phải dựa trên
cơ sở thực tiễn, phản ánh thực tiễn và luôn liên hệ với thực tiễn, nếu không sẽ
mắc phải bệnh giáo điều. Nghĩa là thực tiễn, lý luận cần đến nhau, hậu thuẫn,
bổ sung nhau.
Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở cán bộ, Đảng viên rằng, quán triệt tốt
nguyên tắc này thì phải ra sức học tập, nâng cao trình độ lý luận cũng như
chuyên môn nghiệp vụ. Mặt khác, phải có phương pháp học tập đúng đắn, học
phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tiễn, tránh sách vở, câu 18
chữ Còn đối với Đảng và Nhà nước trước khi đưa ra đường lối, chủ trương,
chính sách, pháp luật thì phải dựa vào cơ sở thực tiễn, vào tình hình cụ thể của
xã hội, tức là: “Lý luận phải đem ra thực hành. Thực hành nhằm vào lý luận”
[41, tr.451].
Khi còn sống Hồ Chí Minh luôn phê phán kiểu học thuộc lòng chủ
nghĩa Mác-Lênin, “Học sách vở Mác-Lênin nhưng không học tinh thần Mác-
Lênin” [44, tr.292]. Học tập chủ nghĩa Mác-Lênin là “Phải học tinh thần của
chủ nghĩa Mác-Lênin, học lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ
nghĩa Mác-Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà
giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng
ta” [43, tr.497]. Hay “Học tập chủ nghĩa Mác-Lênin là học tập cái tinh thần
xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình, là học tập những
chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác-Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào
hoàn cảnh thực tế của nước ta. Học để mà làm” [44, tr.292]. Điều này khẳng
định lý luận chính trị chỉ phát huy được vai trò của mình khi nó được vận
dụng vào hoạt động thực tiễn và chỉ có thông qua tổng kết thực tiễn thì lý luận

Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện, hoàn cảnh mới.
Trong lý luận chính trị tính đảng, tính giai cấp và tính khoa học có mối
quan hệ biện chứng không thể tách rời, nó là điều kiện, tiền đề thúc đẩy nhau
cùng phát triển, trong đó tính đảng, tính giai cấp càng cao thì tính khoa học
càng sâu sắc. Cho nên không thể loại bỏ cái này mà coi trọng cái kia. Khẳng
định tính thống nhất đó, Ph.Ăngghen cho rằng: "Khoa học càng được tiến
hành một cách dũng cảm và kiên quyết thì nó càng phù hợp với lợi ích và
nguyện vọng của giai cấp công nhân" [38, tr.451]. Mục đích của lý luận chính trị
là thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của cách mạng, giúp con người định hướng về
nhận thức, về hành động để cải tạo thế giới. Vì vậy, tại Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ VIII, Đảng ta đã khẳng định: "Phát triển và kết hợp chặt chẽ các ngành
khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên và công nghệ làm chỗ dựa
khoa học cho việc triển khai thực hiện Cương lĩnh, Hiến pháp, xác định 20
phương hướng, bước đi của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng pháp
luật, các chính sách, kế hoạch và chương trình kinh tế - xã hội" [14, tr.104].
Tính khoa học là cơ sở, tiền đề còn tính đảng là định hướng cách mạng để xóa
bỏ cái cũ, xây dựng cái mới phù hợp với quy luật chung của sự phát triển.
Tính giai cấp là bảo vệ lợi ích cho toàn thể nhân dân lao động. V.I.Lênin nói:
"Sức hấp dẫn không gì cưỡng nổi, đã lôi cuốn những người xã hội chủ nghĩa
của tất cả các nước theo lý luận đó chính là ở chỗ nó kết hợp tính khoa học
chặt chẽ và cao độ (đó là đỉnh cao nhất của khoa học xã hội), với tinh thần cách
mạng" [23, tr.421].
Tính đảng đòi hỏi việc nghiên cứu lý luận chính trị phải xuất phát từ
tình hình, đặc điểm cụ thể của đất nước, từ thực tiễn chính trị của mỗi nước,
của thế giới, đưa ra những dự báo khoa học về sự phát triển của tình hình, trên
cơ sở đó đề ra được những giải pháp khoa học đúng đắn để giải quyết, kịp
thời bổ sung những vấn đề mới làm cho chủ trương, chính sách của Đảng và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status