BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
--------
TRƯƠNG KHÁNH LINH
NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ TUYÊN GIÁO CẤP QUẬN,
HUYỆN Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
--------
TRƯƠNG KHÁNH LINH
NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ TUYÊN GIÁO CẤP QUẬN,
HUYỆN Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ HIỆN NAY
Chuyên ngành : Triết học
Mã số
: 60.22.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
những kinh nghiệm thực tiễn quý báu trong suốt quá trình tôi thực hiện luận
văn.
Xin cảm ơn chân thành tất cả các Thầy giáo, Cô giáo của Khoa Triết,
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, đã truyền đạt những kiến thức và những
kinh nghiệm sống cho lớp, giúp các bạn trong lớp và bản thân tôi có thêm
kiến thức và kinh nghiệm trong cuộc sống. Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn
đến gia đình, bạn bè của tôi cũng như cơ quan, tổ chức và đồng nghiệp, những
người luôn ở bên giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực
hiện luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Hà Nội, tháng 6 năm 2017
Tác giả
Trương Khánh Linh
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 7
1. Lý do chọn đề tài ...................................................................................... 7
2. Lịch sử nghiên cứu ................................................................................... 9
3. Mục đích nghiên cứu ............................................................................. 12
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu ..................................................... 13
4.1. Khách thể........................................................................................... 13
4.2. Đối tượng nghiên cứu........................................................................ 13
5. Giả thuyết khoa học ............................................................................... 13
6. Nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................. 13
7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu ............................................................... 13
8. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 14
9. Cấu trúc đề tài ........................................................................................ 14
10. Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn ................. 14
2.2.1. Nhóm giải pháp đối với tổ chức, cấp ủy Đảng về nâng cao trình độ
lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ tuyên giáo cấp quận, huyện ở thành
phố Cần Thơ hiện nay .............................................................................. 68
2.2.2. Nhóm giải pháp nâng cao trình độ lý luận chính trị đối với cá nhân
cán bộ tuyên giáo cấp quận, huyện ở thành phố Cần Thơ hiện nay ........ 75
Tiểu kết chương 2 .......................................................................................... 90
KẾT LUẬN .................................................................................................... 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 94
PHỤ LỤC ..................................................................................................... 101
6
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước do Đảng ta khởi xướng và
lãnh đạo đã thu được nhiều thành tựu quan trọng, tạo tiền đề vững chắc để đất
nước bước vào một giai đoạn phát triển mới – thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội.
Thành công đó là kết quả của sự nỗ lực cố gắng của toàn Đảng, toàn dân và
toàn quân ta. Trong đó có sự đóng góp quan trọng của đội ngũ những người
làm công tác tư tưởng trên các lĩnh vực, các ngành, các cấp nói chung, đặc
biệt là đội ngũ cán bộ tuyên giáo cấp quận, huyện. Trong hệ thống tổ chức
Đảng cấp quận, huyện, Ban Tuyên giáo cấp quận, huyện có vai trò hết sức
quan trọng trong việc tham mưu, chỉ đạo và kiểm tra giúp cấp ủy triển khai
thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước trên địa bàn; Ban Tuyên giáo cấp quận, huyện và đội ngũ cán bộ làm
công tác tuyên giáo thực sự đã trở thành “cánh tay nối dài” trên mặt trận tuyên
truyền tư tưởng – văn hóa của Đảng.
mọi luận điệu xuyên tạc của kẻ thù trên mặt trận văn hóa, tư tưởng, đáp ứng
yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước.
Sau gần 31 năm thành phố Cần Thơ cùng cả nước thực hiện đường lối
đổi mới, đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên giáo từ thành phố đến cơ sở, đặc
biệt là đội ngũ cán bộ tuyên giáo cấp quận, huyện đã từng bước trưởng thành,
tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong hoạt động thực tiễn. Cán bộ tuyên giáo
cấp quận, huyện đã giúp cấp ủy trong công tác tham mưu, chỉ đạo, tổ chức
thực hiện thắng lợi các chủ trương, nghị quyết của Trung ương, Thành ủy, của
cấp ủy địa phương về tình hình phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc
phòng và công tác xây dựng Đảng. Đội ngũ cán bộ tuyên giáo cấp quận,
huyện đã có nhiều cố gắng vươn lên, cơ bản đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ
đặt ra. Trình độ lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ tuyên giáo đã được nâng
lên một bước, thể hiện rõ trong việc đề ra định hướng công tác tư tưởng,
8
hướng dẫn, triển khai các hoạt động tuyên truyền và được thể hiện thông qua
việc kiểm tra, đánh giá hiệu quả công tác tư tưởng, trong việc giúp đỡ lực
lượng tuyên truyền trên địa bàn.
Bên cạnh kết quả đạt được, cán bộ tuyên giáo cấp quận, huyện còn
một số hạn chế nhất định như: trong triển khai thực hiện nhiệm vụ còn rập
khuôn, chưa vận dụng sáng tạo các chủ trương, chính sách của Đảng vào điều
kiện cụ thể của địa phương mình; một số còn thụ động, ỷ lại, chưa năng động
trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ; tư tưởng đề cao kinh nghiệm, hạn
chế đi xuống cơ sở, làm việc theo lối hành chính quan liêu đã làm ảnh hưởng
đến hiệu quả hoạt động trên lĩnh vực công tác tư tưởng.
Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, đội ngũ này phải
không ngừng rèn luyện, nâng cao trình độ về mọi mặt. Trong đó cần chú ý về
nâng cao trình độ lý luận chính trị, để từ đó, đội ngũ này mới có thể nắm bắt,
trò của giáo dục lý luận chính trị trong việc nâng cao năng lực tư duy lý luận
cho đội ngũ cán bộ cơ sở ở tỉnh Lạng Sơn hiện nay” của Lăng Văn Thăng,
luận văn Thạc sĩ Chính trị học, 2004; “Nâng cao trình độ lý luận chính trị cho
đội ngũ cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong tác phẩm Sửa đổi
lề lối làm việc” của Nguyễn Mạnh Hưởng, Tạp chí Cộng sản, 2007; “Nâng
cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ tuyên giáo cấp huyện ở tỉnh
Hà Tỉnh hiện nay”, của Trần Đình Tuấn, luận văn Thạc sĩ khoa học Chính trị,
2007; “Chú trọng giáo dục lý luận chính trị góp phần xây dựng hệ thống
chính trị cơ sở vững mạnh ở huyện Cao Lãnh” của Đinh Thị Thu Hà, Tạp chí
Cộng sản, số 93, 2014; “Mấy vấn đề then chốt của công tác tư tưởng, lý luận”
của Lê Duẩn, Tạp chí Cộng sản, số 103, 2015; “Lý luận – một trong những
công tác cực kỳ quan trọng của Đảng” của Nguyễn Văn Linh, Tạp chí Cộng
sản, số 103, 2015; “Đảng bộ thành phố Cần Thơ đẩy mạnh công tác giáo dục
chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên” của Kim Thu, Thông tin tuyên giáo
Cần Thơ, số đặc biệt, 2015. Các công trình đã nghiên cứu sâu sắc về năng lực
tư duy lý luận cho người cán bộ, đảng viên, bên cạnh đó xây dựng những giải
pháp mang tính thực tiễn trong việc nâng cao năng lực tư duy lý luận của cán
bộ, đảng viên ở từng địa phương qua khảo sát.
10
Ngoài ra còn có các công trình như: “Nguyên tắc thống nhất giữa lý
luận và thực tiễn với việc nâng cao năng lực tư duy lý luận cho giảng viên
Mác-Lênin ở các Trường chính trị tỉnh” của Nguyễn Đình Trãi, Tạp chí Triết
học, số 1, 1993; “Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ giảng dạy lý
luận Mác-Lênin ở các Trường chính trị tỉnh” của Nguyễn Đình Trãi, luận án
Tiến sĩ Triết học, 2001; “Phương pháp giảng dạy lý luận chính trị dành cho
giáo viên giảng dạy lý luận chính trị tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị”, của
Ban Tuyên giáo Trung ương (biên soạn), Nxb Lao động xã hội, 2008; “Gắn
lý luận với thực tiễn – nguyên tắc cơ bản trong giảng dạy lý luận chính trị”,
quận, huyện ở thành phố Cần Thơ, cho nên việc nghiên cứu về nâng cao năng
lực tư duy lý luận của người cán bộ tuyên giáo cấp quận, huyện ở thành phố
Cần Thơ vẫn còn là mảng đề tài cần tiếp tục làm sáng tỏ. Do đó, việc nghiên
cứu đề tài sẽ góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
tuyên giáo cấp quận, huyện trong sự nghiệp đổi mới của đất nước nói chung,
góp phần từng bước khắc phục tình trạng đội ngũ cán bộ tuyên giáo trong
triển khai thực hiện nhiệm vụ còn rập khuông, chưa vận dụng sáng tạo các
chủ trương, chính sách của Đảng vào điều kiện cụ thể của địa phương mình;
một số còn thụ động, ỷ lại, chưa năng động trong quá trình tổ chức thực hiện
nhiệm vụ,…Chính vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Nâng cao trình độ lý luận
chính trị cho đội ngũ cán bộ tuyên giáo cấp quận, huyện ở thành phố Cần
Thơ hiện nay” để nghiên cứu. Trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu
của các tác giả, các nhà khoa học nói trên, tác giả đi sâu nghiên cứu vấn đề
nâng cao trình độ lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ tuyên giáo, cố gắng tìm
ra những giải pháp mang tính khả thi nhằm góp phần xây dựng, nâng cao
trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ tuyên giáo cấp quận, huyện ở
thành phố Cần Thơ hiện nay đáp ứng yêu cầu thực tiễn của địa phương trong
giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ cơ sở khoa học của việc nâng cao trình độ lý luận
chính trị, đánh giá đúng thực trạng của đội ngũ cán bộ tuyên giáo cấp quận,
huyện, luận văn đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao trình độ lý
12
luận chính trị cho đội ngũ cán bộ tuyên giáo cấp quận, huyện ở thành phố Cần
Thơ hiện nay.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1. Khách thể
Khách thể nghiên cứu của luận văn là trình độ lý luận chính trị của đội
(qua thực tế tại 05 quận, huyện: quận Ô Môn, quận Thốt Nốt, quận Bình
Thủy, huyện huyện Cờ Đỏ và huyện Phong Điền).
8. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng
các phương pháp phân tích và tổng hợp, lôgic, khái quát hóa, thống kê, so
sánh,…
9. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục
luận văn gồm 2 chương, 4 tiết.
10. Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn
10.1. Những luận điểm cơ bản
- Trình độ lý luận chính trị có tầm quan trọng vô cùng to lớn đối với
người cán bộ tuyên giáo, là yếu tố “then chốt” cho mọi hoạt động nhận thức
và thực tiễn của họ.
- Nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ tuyên giáo là
một yêu cầu cấp thiết trong điều kiện hiện nay trên mặt trận tư tưởng của
Đảng ta.
- Để nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ tuyên giáo
cấp quận, huyện ở thành phố Cần Thơ trong điều kiện hiện nay thì cần tìm
được các nguyên nhân và thực hiện đồng bộ một số giải pháp cụ thể.
10.2. Đóng góp mới của luận văn
- Góp phần làm rõ vai trò, tầm quan trọng của lý luận chính trị đối với
cán bộ tuyên giáo cấp quận, huyện và tính tất yếu phải nâng cao trình độ lý
luận chính trị cho đội ngũ cán bộ tuyên giáo cấp quận, huyện ở thành phố Cần
Thơ hiện trong giai đoạn hiện nay.
14
- Luận văn vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ
Để hiểu rõ nội hàm và ngoại diên của các khái niệm lý luận chúng ta
cần phải tìm hiểu mục đích hoạt động của con người và hoạt động bản năng
của con vật. Hoạt động thực tiễn của con người là quá trình đúc rút kinh
nghiệm xây dựng lý luận khác xa với con vật làm việc theo bản năng. Vì vậy,
con người làm việc gì cũng phải có ý thức, có sự suy tính, định hướng trước,
cao hơn nữa là phải có sự dẫn dắt của lý luận. Trong lao động sản xuất cần có
phương pháp, cách thức để cải tạo thế giới tự nhiên theo chiều hướng có lợi
tức là hoạt động sản xuất ra của cải vật chất để đảm bảo cuộc sống. Trong
16
hoạt động xã hội mục đích của con người là cải tạo xã hội, thay thế xã hội cũ
bằng một xã hội mới tiến bộ hơn, quá trình đó gọi là cách mạng. Trong hoạt
động cách mạng là một loại hoạt động khó khăn phức tạp, ở trình độ cao, cho
nên lại càng cần phải có lý luận soi đường. V.I.Lênin đã khẳng định: “Không
có lý luận cách mạng thì không thể có phong trào cách mạng, chỉ Đảng nào
được một lý luận tiên phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò
chiến sĩ tiên phong” [32, tr.53]. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Đảng mà không
có lý luận dẫn đường thì cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn
chỉ nam” [41, tr.78-79].
Tuy nhiên, chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh cũng chỉ
rõ rằng, mọi lý luận chân chính đều bắt nguồn từ thực tiễn, phản ánh đúng
thực tiễn và trở lại phục vụ thực tiễn. Lý luận, xét tới cùng là từ thực tiễn mà
đúc kết, khái quát lên. Không có thực tiễn thì không có lý luận. Lý luận và
thực tiễn có mối quan hệ hữu cơ biện chứng, luôn luôn gắn bó với nhau và
thường xuyên tác động qua lại lẫn nhau, trong đó thực tiễn đóng vai trò là cơ
sở. Bởi vì, thực tiễn được hiểu một cách khái quát nhất đó là hoạt động của
con người nhằm đảm bảo cho xã hội tồn tại và phát triển, đó là quá trình
khách quan của hoạt động sản xuất vật chất với tính cách là cơ sở của đời
sống con người, đồng thời đó cũng là hoạt động cải tạo – cách mạng của các
“Thực tiễn mà không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý
luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông” [48, tr.268].
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: hoạt động lý luận của người cán bộ đều
phải đáp ứng nhu cầu của cách mạng; đồng thời phải vận dụng lý luận đó một
cách sáng tạo trước mọi biến đổi của cách mạng, không nên rập khuôn, máy
móc.
1.1.2. Lý luận chính trị
Lý luận chính trị là bộ phận quan trọng trong kho tàng lý luận của
nhân loại giới hạn trong lĩnh vực chính trị, phản ánh mối quan hệ của các giai
cấp trong việc giành và giữ chính quyền. Nói cách khác, lý luận chính trị là hệ
thống tri thức về lĩnh vực chính trị thể hiện thái độ và lợi ích giai cấp đối với
18
quyền lực Nhà nước trong xã hội có giai cấp, là kết quả của hoạt động nghiên
cứu khoa học và thực tiễn chính trị của nhiều người, qua nhiều thế hệ.
Lý luận chính trị là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu về lý luận và
thực tiễn chính trị của giai cấp trong việc đấu tranh giành, giữ và xây dựng
chính quyền Nhà nước.
Lý luận chính trị nhằm trang bị thế giới quan và thúc đẩy hành vi thực
hiện mục tiêu, lý tưởng chính trị của giai cấp.
Lý luận chính trị của giai cấp vô sản là sự khái quát tri thức nhân loại
và tổng kết kinh nghiệm của phong trào công nhân thế giới làm công cụ đắc
lực cho việc giành và giữ chính quyền giai cấp công nhân ở mỗi quốc gia, dân
tộc. Theo Lênin, lý luận có vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp cách
mạng: “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách
mạng” và “chỉ Đảng nào được một lý luận tiên phong hướng dẫn thì mới có
khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong” [44, tr.30]. Chủ tịch Hồ Chí
Minh cũng cho rằng: “Đảng không có chủ nghĩa cũng như người không có trí
hái được nhiều thành quả và ngược lại. Trong cách mạng dân tộc, dân chủ
nhờ vận dụng sáng tạo lý luận này mà chúng ta đã đánh bại các thế lực thực
dân, đế quốc và bè lũ tay sai; từ một nước thuộc địa bị xâm chiếm, chia cắt trở
thành một quốc gia độc lập, thống nhất đang trên đà phát triển. Trong tiến
trình lịch sử cách mạng của Việt Nam đã có lúc chúng ta vận dụng chưa đúng
chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm ảnh hưởng đến quá trình
phát triển kinh tế xã hội của đất nước, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, từ
đó làm cho mọi người dân giảm sút lòng tin vào vị trí, vai trò lãnh đạo của
Đảng, làm cho tình trạng kinh tế nước nhà què quặt, nghèo nàn, lạc hậu có
nguy cơ tụt hậu là rất lớn. Trước tình hình đó, Đảng ta đã đúc rút bài học kinh
nghiệm qua các thời kỳ đại hội, đã nhận thức đúng đắn về vai trò nền tảng của
lý luận này và vận dụng sáng tạo nó trong thực tiễn mà chúng ta đã đưa đất
nước thoát khỏi khủng hoảng và từng bước phát triển vững chắc.
20
Lý luận chính trị bao gồm những tri thức tổng hợp, liên ngành mang
tính đảng, tính giai cấp rõ rệt, đồng thời có tính khái quát hóa, trừu tượng hóa
và tính dự báo khoa học cao. Điều này khẳng định vai trò và tầm quan trọng
to lớn của nó đối với nhận thức và hành động của từng cá nhân nói riêng và
sự phát triển của toàn xã hội nói chung, đồng thời cho thấy sự khó khăn, phức
tạp của quá trình sáng tạo, nhận thức và vận dụng lý luận chính trị.
1.1.3. Trình độ lý luận chính trị
* Trình độ lý luận chính trị
Lý luận được hiểu là hệ thống tri thức được khái quát từ thực tiễn
khách quan trong tự nhiên, xã hội và tư duy của con người, được biểu đạt
dưới dạng các khái niệm, phàm trù, quy luật, tư tưởng, quan điểm,… Nhằm
giúp con người chi phối và cải tạo thực tiễn.
Như vậy, trình độ lý luận chính trị là sự kết tinh về trí tuệ lý luận của
đảng viên đã học lý luận chính trị ở các cơ sở đào tạo ngoài hệ thống Trường
Chính trị của Đảng hoặc Đại học Chính trị chuyên ngành và sau đại học tại
Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh”.
* Trình độ lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ tuyên giáo cấp quận,
huyện
Trình độ lý luận chính trị của cán bộ tuyên giáo cấp quận, huyện là
tổng hợp năng lực trí tuệ, đạo đức, tác phong, tư cách làm việc, lập trường
chính trị,… được đúc kết trong một cá nhân tham gia làm công tác tuyên giáo
của Đảng.
Bất cứ một nghề nghiệp nào cũng cần có những yêu cầu quy định về
năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp, cán bộ làm việc ở lĩnh vực
chính trị phải có nhãn quan chính trị, có tầm nhìn chiến lược, có bản lĩnh
chính trị vững vàng, đạo đức trong sáng, đấu tranh phục vụ lợi ích cho một
giai cấp nhất định. Đối với lĩnh vực nghệ thuật phải có năng khiếu nghệ thuật
thể hiện rõ trình độ vượt trội của mình về lĩnh vực đó, có đạo đức nghề nghiệp
trong sáng. Đối với cán bộ tuyên giáo, lực lượng trực tiếp tuyên truyền chủ
trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với
22
nhân dân, phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức trong sáng, uyên
thâm về trí tuệ, sắc bén về lý luận, có năng lực thuyết trình, định hướng tốt dư
luận xã hội.
Từ những vấn đề trên thì trình độ lý luận chính trị của cán bộ tuyên
giáo cấp quận, huyện (quận Ô Môn, quận Bình Thủy, quận Thốt Nốt và huyện
Cờ Đỏ, huyện Phong Điền) ở thành phố Cần Thơ hiện nay cần phải có chuẩn
mực cơ bản sau:
Thứ nhất, cán bộ tuyên giáo phải có bản lĩnh chính trị vững vàng
Tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khóa X về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới, đã khẳng
trí tuệ của nhiều người để phấn đấu cho mục tiêu chung, mà muốn làm được
như vậy, phải tạo ra được không khí dân chủ thực sự trong nội bộ. “Dân chủ,
sáng kiến, hăng hái” ba điều đó có quan hệ với nhau. Tuy nhiên, phong cách
dân chủ không có nghĩa là mạnh ai nấy làm, mà phải tuân theo nguyên tắc tập
trung dân chủ. Đối lập với phong cách dân chủ là phong cách quan liêu, độc
đoán, chuyên quyền,…
Phong cách khoa học còn gọi là cách làm việc khoa học. Phong cách
này đòi hỏi người cán bộ nói chung và cán bộ tuyên giáo nói riêng trước khi
làm việc gì cũng phải có kế hoạch và mục đích rõ ràng. Để vạch kế hoạch một
cách thực sự khoa học, phải xét kỹ hoàn cảnh mà xếp đặt công việc cho đúng.
Việc chính, việc gấp thì làm trước. Không có kế hoạch, gặp việc nào làm việc
nấy, thành thử việc nào cũng là việc chính nên lộn xộn, không ngăn nắp, vì
thế công việc nhiều khi “không chạy”. Một việc chính có thể có nhiều cách
thực hiện và phải nhiều nỗ lực mới hoàn thành được. Với ý nghĩa đó, Chủ tịch
Hồ Chí Minh luôn yêu cầu: “Chủ trương 1, biện pháp phải 10, quyết tâm 23,
30”. Nói quyết tâm phải 20, 30, tức là Người yêu cầu cán bộ sau khi đã có kế
hoạch phải có quyết tâm thực hiện và phải thực hiện đến nơi đến chốn, không
được “đánh trống bỏ dùi” [43, tr.281].
Phong cách khoa học còn đòi hỏi người cán bộ tuyên giáo sau mỗi
một việc cần phải rút kinh nghiệm tận gốc, xem vì đâu mà đạt kết quả, vì sao
24
mà thất bại, rồi phổ biến những kinh nghiệm đó cho tất cả mọi người để cùng
biết, từ đó phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế, yếu kém.
Thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, nói đi đôi với làm: là cán bộ
phải dứt khoát, phải có trình độ lý luận, nhất là cán bộ làm công tác tuyên
giáo. Dẫn lời của Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Không có lý luận
cách mạng thì không có phong trào cách mạng” [43, tr.233]. Vì vậy mỗi