ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------------------
NGUYỄN HÙNG SƠN
NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO
ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TUYÊN GIÁO
CẤP HUYỆN Ở HÀ TĨNH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành Chính trị học
Hà Nội – 2013
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------------
NGUYỄN HÙNG SƠN
NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO
ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TUYÊN GIÁO
CẤP HUYỆN Ở HÀ TĨNH HIỆN NAY
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Chính trị học
Mã số: 60 31 02 01
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Vũ Duy Thông
Nhân đây, tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Ban tuyên giáo Tỉnh ủy
đã tạo rất nhiều điều kiện để tôi học tập và hoàn thành tốt khóa học. Đồng
thời, tôi cũng xin cảm ơn quí anh, chị và ban lãnh đạo các huyện, thành, thị
ủy, đảng ủy trực thuộc đã tạo điều kiện cho tôi điều tra khảo sát để có dữ liệu
viết luận văn.
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệt
tình và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất
mong nhận được những đóng góp quí báu của quí thầy cô và các bạn.
Hà Tĩnh, tháng 12 năm 2013
Học viên
Nguyễn Hùng Sơn
4
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................................ 1
1. Tính cấp thiết của đề tài: ............................................................................................ 1
2. Tình hình nghiên cứu .................................................................................................3
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn ..........................................................................4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ..............................................................................5
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu ................................................................ 5
6. Đóng góp của luận văn............................................................................................... 5
7. Kết cấu của luận văn ..................................................................................................5
Chương 1. LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ VÀ CÔNG TÁC GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH
TRỊ CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TUYÊN GIÁO CẤP HUYỆN ............................. 6
1.1. Lý luận chính trị và đặc trưng lý luận chính trị ..................................................6
1.2. Quan điểm giáo dục lý luận chính trị của Mác - Lên nin và Đảng cộng sản Việt
6
DANH MỤC BẢNG
Nội dung
TT
1
Bảng 1: Bảng tổng hợp về đội ngũ cán bộ làm công tác Tuyên
giáo ở các huyện, thành, thị (tính đến thời điểm hiện tại).
Trang
38
Bảng 2: Bảng tổng hợp về đội ngũ cán bộ chuyên trách tại các
2
Trung tâm bồi dưỡng chính trị tại các huyện, thành, thị (tính đến
39
thời điểm hiện tại
3
4
Bảng 3: Các văn bản của tỉnh ban hành để lãnh đạo, chỉ đạo công
tác giáo dục lý luận chính trị nhiệm kỳ 2011 - 2015
3
TTBDCT
Trung tâm Bồi dưỡng chính trị
4
BCH
Ban Chấp hành
5
PGS
Phó giáo sư
6
TS
Tiến sỹ
8
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh
xa, vùng thường xuyên bị thiên tai còn khó khăn. Công tác xây dựng Đảng và
các tổ chức trong hệ thống chính trị tuy đạt được kết quả quan trọng nhưng vẫn
còn hạn chế. Một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo
đức, lối sống như Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) đã nêu đang làm giảm
lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ Xã hội chủ nghĩa…
Hà Tĩnh là một tỉnh nằm ở phía bắc Trung bộ, trình độ phát triển kinh tế
xã hội còn thấp so với các tỉnh trong khu vực và thấp hơn so với bình quân
chung của cả nước. Sau hơn 30 năm cùng cả nước thực hiện đường lối đổi mới
(nhất là sau hơn 20 năm tái lập tỉnh), đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên giáo từ
tỉnh đến cơ sở, đặc biệt là đội ngũ cán bộ tuyên giáo các huyện đã có bước trưởng
thành, tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong hoạt động thực tiễn. Cán bộ tuyên
giáo cấp huyện đã tham mưu, chỉ đạo, tổ chức thực hiện thắng lợi các chủ trương,
nghị quyết của Trung ương, của Tỉnh ủy, của cấp ủy địa phương về phát triển kinh
tế - xã hội, an ninh - quốc phòng và công tác xây dựng Đảng. Công tác tư tưởng đã
góp phần quan trọng vào việc khắc phục một bước tư tưởng nóng vội, chủ quan,
duy ý chí, tạo sự đoàn kết thống nhất trong từng địa phương, đơn vị, sự đồng thuận
cao trong các tầng lớp nhân dân. Đội ngũ cán bộ tuyên giáo cấp huyện đã có nhiều
cố gắng vươn lên, cơ bản đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đặt ra. Trình độ lý luận
chính trị của cán bộ tuyên giáo đã được nâng lên một bước, thể hiện rõ trong việc
đề ra định hướng công tác tư tưởng, hướng dẫn triển khai các hoạt động tuyên
truyền và được thể hiện thông qua việc kiểm tra, đánh giá hiệu quả công tác tư
tưởng, trong việc giúp đỡ các lực lượng tuyên truyền trên địa bàn...
Bên cạnh những kết quả đạt được, trình độ lý luận chính trị của cán bộ
tuyên giáo cấp huyện còn bộc lộ một số hạn chế nhất định thể hiện trong triển
khai thực hiện nhiệm vụ còn rập khuôn, máy móc, chưa vận dụng sáng tạo các
chủ trương, chính sách của Trung ương, của tỉnh vào điều kiện cụ thể của địa
phương mình; một số còn thụ động, ỷ lại, chưa năng động trong quá trình tổ
chức thực hiện nhiệm vụ; tư tưởng đề cao kinh nghiệm, hạn chế đi xuống cơ sở,
2
3
dưỡng chính trị cấp huyện, do Ban Tuyên giáo TW biên soạn, Nxb Lao động
xã hội, năm 2008.
Ở Hà Tĩnh có công trình: Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
cấp huyện thuộc diện Tỉnh uỷ quản lý trong thời kỳ phát triển mới của tỉnh Hà
Tĩnh. Cơ quan Chủ trì đề tài: Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ, chủ biên: Nguyễn Thiện.
Tháng 6/2006.
Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu, đặt ra những vấn đề rất cơ
bản cả về lý luận lẫn thực tiễn, đề ra những phương hướng và giải pháp để nâng
cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các cấp.
Tuy nhiên, cho tới nay chưa có công trình nghiên cứu một cách chi tiết, đầy đủ,
có hệ thống và chuyên sâu về thực trạng cũng như nêu ra những chủ trương,
giải pháp để nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ những người làm
công tác tuyên giáo cấp huyện Hà Tĩnh. Vì vậy, nghiên cứu đề tài này sẽ góp
phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tuyên giáo cấp
huyện trong sự nghiệp đổi mới ở Hà Tĩnh nói riêng và là cơ sở tiếp cận cho các
địa phương khác trong vấn đề nâng cao chất lượng công tác tuyên giáo.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích
Góp phần vào việc tăng cường nhận thức và nâng cao trình độ lý luận
chính trị cho đội ngũ cán bộ tuyên giáo cấp huyện ở Hà Tĩnh hiện nay.
- Nhiệm vụ
- Phân tích, làm rõ bản chất đặc trưng của lý luận chính trị, tầm quan
trọng và yêu cầu của việc nâng cao trình độ lý luận chính cho đội ngũ cán bộ
tuyên giáo cấp huyện hiện nay.
- Đánh giá đúng thực trạng trình độ lý luận chính trị, quá trình bồi dưỡng
trình độ lý luận chính trị cho cán bộ làm tuyên giáo ở Hà Tĩnh và nguyên nhân
của thực trạng đó.
chức tuyên giáo cấp huyện ở tỉnh Hà Tĩnh hiện nay
- Chương 3: Giải pháp nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán
bộ, công chức tuyên giáo cấp huyện ở Hà Tĩnh.
5
Chƣơng 1
LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ VÀ CÔNG TÁC GIÁO DỤC LÝ LUẬN
CHÍNH TRỊ CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TUYÊN GIÁO CẤP HUYỆN
1.1. Lý luận chính trị và đặc trƣng lý luận chính trị
V.I Lênin đã khẳng định: “Chỉ Đảng nào được một lý luận tiền phong
hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sỹ tiền phong” [32, tr.32].
Do đó, khi nói đến Đảng chính trị là đồng thời nói đến hệ thống lý luận chính trị
của Đảng ấy. Vậy lý luận chính trị là gì? Để hiểu bản chất của lý luận chính trị,
cần phải nghiên cứu khái niệm “Lý luận” và “chính trị”.
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về lý luận. Lý luận là một phạm trù
rộng lớn, tồn tại và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Vì
thế, khái niệm lý luận ngày càng được hiểu một cách đầy đủ hơn.
Theo Từ điển triết học: “Lý luận là sự tổng hợp các tri thức về tự nhiên
và xã hội tích luỹ được trong quá trình lịch sử”; là “hệ thống tư tưởng chủ đạo
trong một lĩnh vực tri thức” [62, tr.59].
Từ điển Tiếng Việt viết: “Lý luận là hệ thống những tư tưởng được khái
quát từ kinh nghiệm thực tiễn, có tác dụng chỉ đạo thực tiễn. Lý luận là những
kiến thức được khái quát và hệ thống trong một lĩnh vực nào đó” [60, tr.544 545].
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí
Minh luôn coi trọng lý luận. Người rất tâm đắc với câu nói nổi tiếng của V.I
Lênin: “Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng”. Và
theo Người thì lý luận “Là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là
tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử”
của quá trình nhận thức, là sự phản ánh hiện thực khách quan ở trình độ cao.
Lý luận được hiểu theo nghĩa chung nhất là hệ thống những tri thức phản
ánh các mối liên hệ bản chất và tính quy luật của các sự vật hiện tượng, được
con người tích luỹ trong quá trình hoạt động thực tiễn và có vai trò hướng dẫn
hoạt động thực tiễn.
7
Lý luận ngày càng có vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội.
Mỗi ngành, mỗi lĩnh vực cụ thể khác nhau đều phải có lý luận riêng và mỗi
ngành, mỗi lĩnh vực hoạt động cụ thể muốn phát triển được đều phải bắt đầu
bằng việc phát triển lý luận. Có lý luận trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, lý luận
trong lĩnh vực khoa học xã hội, lý luận trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, lý
luận trong lĩnh vực kinh tế, lý luận chính trị…
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin: Chính trị là một hiện tượng
lịch sử xuất hiện và tồn tại khi xã hội phân chia giai cấp và hình thành Nhà
nước. Chính trị giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội. Nó cũng là
lĩnh vực hoạt động phức tạp luôn thu hút các nhà tư tưởng đi vào suy nghĩ,
khám phá, cố gắng làm sáng tỏ bản chất đầy bí ẩn của chính trị. Có nhiều quan
điểm khác nhau về chính trị.
Chính trị theo tiếng Hi Lạp là “Politics” có nghĩa là những việc liên quan
đến thành bang, những công việc quốc gia. Trong đó điều cốt lõi nhất, quan
trọng nhất, thực chất nhất là tổ chức ra cơ quan cai trị hay là Chính phủ. Sau
này từ thế kỷ XVI trở đi gọi là Nhà nước [4, tr.7].
“Chính trị - theo nguyên nghĩa của nó là những công việc Nhà nước, là
phạm vi hoạt động gắn với những quan hệ giai cấp, dân tộc và các nhóm xã hội
khác nhau mà hạt nhân của nó là vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực Nhà
nước” [1, tr.507].
Lênin cũng khẳng định “chính trị với nghĩa là công việc Nhà nước, là
việc vạch hướng đi cho Nhà nước, là việc xác định hình thức, nhiệm vụ, nội
toán học cao cấp hơn là toán học sơ cấp”, “Chính trị là vận mệnh thực tế của
hàng triệu con người” [36, tr.150].
Chính trị là một lĩnh vực hoạt động đặc biệt của con người, nó có quan hệ
chặt chẽ với hoạt động thực tiễn của con người, biểu hiện lợi ích kinh tế nhất
định của các tầng lớp dân cư trong xã hội, gắn liền với vận mệnh của nhân dân.
Chính trị được đưa vào thực tiễn cuộc sống nhờ hệ thống thiết chế chính trị,
Đảng phái chính trị, nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội.
9
Tuỳ theo cách thức tiếp cận mà có những quan niệm khác nhau về chính
trị, song theo nghĩa chung nhất, chính trị được hiểu là đại diện của các quan hệ
giữa các giai cấp, quan hệ về giai cấp mà cốt lõi là quan hệ giai cấp về kinh tế.
Mục đích của chính trị là vấn đề chính quyền sẽ thuộc về tay giai cấp nào, chính
Đảng nào.
Từ sự phân tích nêu trên về khái niệm lý luận và khái niệm chính trị, có
thể khái quát chung về khái niệm lý luận chính trị như sau: Lý luận chính trị là
lý luận trong lĩnh vực chính trị. Lý luận chính trị ra đời khi xã hội có giai cấp và
đấu tranh giai cấp để đại diện cho lợi ích của một Đảng, một giai cấp nhất định trong
xã hội. Lý luận chính trị là hệ thống các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính
sách của một Đảng, một giai cấp để giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước.
Đảng Cộng Sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng. Đồng
thời, căn cứ vào những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của đất nước trong từng giai
đoạn cách mạng, Đảng xác định cho mình những quan điểm cơ bản chỉ đạo
hành động và lãnh đạo quần chúng, xây dựng nên một hệ thống quan điểm tư
tưởng, lý luận là những chủ trương, đường lối, chính sách...
Trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đối với
Đảng ta hiện nay, lý luận chính trị của Đảng bao gồm: Lý luận về chủ nghĩa xã
hội, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; về nền kinh tế thị trường
trong thời kỳ mới.
- Nghiên cứu những vấn đề cơ bản của thời đại ngày nay và của thế giới
đương đại. Chủ động nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc các lý thuyết phát triển,
các trào lưu lý luận và các thành tựu khoa học xã hội thế giới.
- Đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục lý luận trong hệ thống các
trường chính trị, các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp trong
cả nước; khắc phục sự lạc hậu của chương trình, nội dung, phương pháp dạy và
học, bảo đảm tính cơ bản, hệ thống, hiện đại và phù hợp với thực tiễn Việt
Nam…”[17, tr.9].
11
Do đó, có thể hiểu bản chất lý luận chính trị của Đảng ta hiện nay là: Chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương, đường lối,
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Học tập lý luận chính trị, bồi dưỡng, giáo dục lý luận chính trị chính là
nhằm xây dựng, phát triển, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, các quan điểm đường lối của Đảng, hình thành hệ giá trị cách mạng và
khoa học trong cán bộ, đảng viên và toàn xã hội. Do vậy yêu cầu đặt ra đối với
đội ngũ cán bộ tuyên giáo cấp huyện là phải nắm vững các đặc trưng cơ bản của
lý luận chính trị, đó là:
Thứ nhất, tính trừu tượng và tính khái quát hoá cao.
Để xây dựng hệ thống lý luận, trong quá trình nhận thức, tư duy con
người luôn diễn ra quá trình trừu tượng hoá, khái quát hoá hững tri thức thu
được về thế giới, những quy luật vận động và phát triển của các lĩnh vực khác
nhau trong đời sống xã hội.
Các hình thức thể hiện lý luận nói chung, lý luận chính trị nói riêng như
khái niệm, nguyên lý, quy luật, phạm trù… đều là kết quả của quá trình trừu
tượng hoá, khái quát hoá cao của tư duy con người trong quá trình nhận thức
thế giới.
chính xác và lôgic chặt chẽ. Vì thế, nó trở thành khoa học về những quy luật
chung, phổ biến của tự nhiên, xã hội và tư duy.
Một lý luận mang tính chính xác và lôgic chặt chẽ sẽ có tác dụng tích cực
đối với hoạt động thực tiễn của con người, sẽ được con người, cộng đồng, nhất
là các lực lượng cách mạng nhanh chóng tiếp thu, ủng hộ.
Ba là, tính liên hệ, thống nhất với thực tiễn.
Quan hệ giữa lý luận và thực tiễn là một trong những nguyên tắc cơ bản
của lý luận khoa học nói chung và chủ nghĩa Mác - Lênin nói riêng. Theo quan
điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, lý luận thuộc về lĩnh vực hoạt động tinh thần,
còn thực tiễn thuộc về hoạt động vật chất, là sản xuất là cuộc đấu tranh để bảo
vệ sự tồn tại của con người trước thiên nhiên và xã hội. V.I Lênin khẳng định:
13
“Thực tiễn cao hơn nhận thức vì nó có ưu điểm không những của tính phổ biến
mà cả của tính hiện thực trực tiếp” [34, tr.230].
Lý luận bắt nguồn từ thực tiễn, lý luận có tồn tại, có sức sống hay không
phụ thuộc ở mức độ phù hợp ở vai trò định hướng, gợi mở, chỉ dẫn, giải quyết
những vấn đề của đời sống thực tiễn. Thực tiễn luôn luôn vận động, phát triển
buộc lý luận phản ánh đời sống thực tiễn cũng phải không ngừng được bổ sung,
phát triển, đồng thời phải thường xuyên tổng kết thực tiễn để làm cho tri thức lý
luận ngày càng phản ánh chính xác hơn, sâu sắc hơn, phong phú hơn đời sống
thực tiễn.
Tuy nhiên, lý luận cũng có tính độc lập tương đối của nó, không hoàn
toàn thụ động mà lý luận cũng đóng vai trò tích cực trở lại đối với thực tiễn. Lý
luận là kim chỉ nam giúp cho thực tiễn đạt kết quả cao. Lý luận vạch ra phương
hướng cho thực tiễn, chỉ rõ phương pháp thực hiện có hiệu quả nhất để đạt mục
đích, đặc biệt là lý luận cách mạng trong cách mạng xã hội chủ nghĩa: “Không
có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng” [32, tr.30].
Lý luận đem lại sức mạnh cho con người trong quá trình nhận thức và cải
ý chí, bệnh kinh nghiệm, bệnh giáo điều, rập khuôn, máy móc…
Đảng ta kiên định, bảo vệ, phát triển, và vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh một cách sáng tạo phù hợp thực tiễn đất nước
trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể đã thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển, nền
kinh tế thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kéo dài. Vì thế, “đẩy mạnh tổng kết
thực tiễn và nghiên cứu lý luận” [24, tr.134] đã trở thành nhiệm vụ hàng đầu
trong công tác lý luận. Nghị quyết TW 5 (khoá X) khẳng định “Công tác tư
tưởng, lý luận là một bộ phận cấu thành đặc biệt quan trong trong toàn bộ hoạt
động của Đảng; là lĩnh vực trọng yếu để xây dựng, bồi đắp nền tảng chính trị
của chế độ, tuyên truyền giáo dục, động viên và tổ chức nhân dân thực hiện các
nhiệm vụ cách mạng, khẳng định và nâng cao vai trò tiên phong của Đảng về
chính trị, lý luận, trí tuệ, văn hoá và đạo đức; thể hiện vai trò đi trước, mở
đường trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc”.
15
Bốn là, thống nhất giữa tính Đảng và tính khoa học.
Nói tới tính Đảng là nói tới tính giai cấp, còn tính khoa học là sự phản
ánh đúng thực tế khách quan, tôn trọng sự thật. Lý luận nói chung, lý luận chính
trị nói riêng bao hàm trong nó đặc trưng thống nhất giữa tính Đảng và tính khoa
học. Lý luận chính trị của giai cấp công nhân, giai cấp vô sản là chủ nghĩa Mác
- Lênin xuất phát và phản ánh khách quan nhu cầu và lợi ích của giai cấp công
nhân, nhân dân lao động phù hợp với nguyện vọng của giai cấp công nhân,
nhân dân lao động thế giới cho nên lý luận đó đảm bảo tính thống nhất giữa tính
Đảng và tính khoa học.
Trong lý luận chính trị, tính Đảng và tính khoa học có mối quan hệ biện
chứng không thể tách rời, tính Đảng càng cao thì tính khoa học càng sâu sắc,
tính Đảng và tính khoa học làm điều kiện, tiền đề tồn tại, phụ thuộc lẫn nhau,
không thể loại bỏ cái này, coi trọng cái kia. Do vậy, “Khoa học càng được tiến
hành một cách dũng cảm và vô tư thì nó càng phù hợp với lợi ích và nguyện
kết, đúc kết những kinh nghiệm từ thực tiễn phong trào đấu tranh cách mạng
của dân tộc và nhân dân thế giới, sự vận dụng sáng tạo và phát triển của chủ
nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới, trong hoàn cảnh
cụ thể mới, đồng thời cũng chính là một điển hình về sự thống nhất cao giữa
tính Đảng và tính khoa học.
Ngoài những đặc trưng cơ bản đó là tính khái quát và tính trừu tượng,
tính chính xác và lôgic, tính thống nhất lý luận và thực tiễn, tính Đảng và tính
khoa học, lý luận chính trị còn có một số đặc trưng khác như: tính hệ thống và
tính kế thừa, là hệ thống mở có khả năng bổ sung và phát triển…
Với ý nghĩa là lý luận tiền phong, lý luận chính trị giúp cho Đảng Cộng
sản hoàn thành nhiệm vụ lãnh đạo cách mạng, nhất là trong giai đoạn hiện nay;
chúng ta quyết tâm giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta càng phải
chú trọng phát triển lý luận chính trị với đầy đủ các đặc trưng trên, góp phần bổ
sung “cơ sở lịch sử của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư
liệu mà Mác ở thời mình không thể có được” [47, tr.465].
17