NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO CÁN BỘ CẤP CƠ SỞ THỊ XÃ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY - Pdf 33

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

HỒ THỊ HỒNG CÚC

NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ LÝ LUẬN
CHÍNH TRỊ CHO CÁN BỘ CẤP CƠ SỞ
THỊ XÃ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

TP Hồ Chí Minh, năm 2012


2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
_________
HỒ THỊ HỒNG CÚC

NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ LÝ LUẬN
CHÍNH TRỊ CHO CÁN BỘ CẤP CƠ SỞ
THỊ XÃ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: LL&PPDH BỘ MÔN CHÍNH TRỊ


Hồ Thị Hồng Cúc


4
MỤC LỤC
Trang
A MỞ ĐẦU…………………………………………………...
B NỘI DUNG………………………………………………...
Chương 1 Nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ

1
8

cấp cơ sở thị xã Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp trong giai
đoạn hiện nay là một tất yếu khách quan……………….
1.1. Khái niệm lý luận chính trị và giáo dục lý luận chính trị cho

8

cán bộ cấp cơ sở………………………………………..
1.2. Vai trò và yêu cầu của việc nâng cao trình độ lý luận chính

8

trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở trong giai đoạn hiện nay……..
1.3. Thực trạng công tác giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ
cán bộ cấp cơ sở thị xã Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp………
Kết luận Chương 1………………………………………..
Chương 2 Quan điểm và giải pháp nâng cao trình độ lý luận chính

Bồi dưỡng chính trị

77
108
110
114
118
119


5
2
3
4
5
6
7

LLCT
CNH, HĐH
GCCN
GCVS
CNXH
XHCN

Lý luận chính trị
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Giai cấp công nhân
Giai cấp vô sản
Chủ nghĩa xã hội

Bảng 2.9. Hình thức đào tạo học viên chọn

54
60
94

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu 1.1. So sánh dân số giữa thành thị và nông thôn
Biểu 1.2. So sánh độ tuổi của cán bộ chủ chốt xã, phường
Biểu 1.3. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ chủ chốt xã,
phường
Biểu 1.4. So sánh trình độ chuyên môn nghiệp vụ và trình độ lý luận
chính trị của cán bộ chủ chốt xã, phường

Trang
40
47
48
51


7

A. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia độc lập đã và đang từng bước xây dựng cơ sở
vật chất của XHCN. Trước tình hình đó, đội ngũ cán bộ phải không ngừng rèn
luyện, phấn đấu vươn lên đảm nhận nhiệm vụ mới, đáp ứng yêu cầu của sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước, nhằm xây dựng nước ta thành một nước công

đẩy kinh tế - xã hội phát triển.
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X khẳng định: “Đổi mới
công tác giáo dục LLCT, tư tưởng trong Đảng, trước hết cho đội ngũ cán bộ
lãnh đạo và quản lý chủ chốt các cấp; đổi mới nội dung, phương pháp học tập và
giảng dạy trong hệ thống chính trị, nâng cao tính thiết thực và hiệu quả của
chương trình” [15; 131].


9
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI cũng nhấn mạnh: “Cán bộ, đảng
viên phải nêu cao tinh thần trách nhiệm trước Tổ quốc, trước Đảng và nhân dân,
hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, các tổ chức Đảng phải
tạo điều kiện để đảng viên công tác, lao động có năng suất, chất lượng và hiệu
quả, đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước” [16; 258]; “Kiện toàn,
nâng cao chất lượng các cơ quan tham mưu, đội ngũ cán bộ làm công tác tham
mưu, nhất là ở cấp chiến lược” [16; 258, 259].
Hiện nay đội ngũ cán bộ chủ chốt trong tỉnh Đồng Tháp nói chung, thị xã
Hồng Ngự nói riêng đa số trưởng thành từ cơ sở, đây cũng là điều kiện thuận lợi
trong việc gắn bó mật thiết với nhân dân. Nhưng trong đó có một số cán bộ ít
được đào tạo LLCT một cách bài bản, năng về kinh nghiệm, ảnh hưởng không
nhỏ đến hoạt động của địa phương. Do vậy, để xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cơ
sở ngang tầm, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chiến lược xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc XHCN thì một trong những yêu cầu đặt ra đối với cán bộ là phải
nâng cao trình độ LLCT. Với ý nghĩa đó, chúng tôi chọn vấn đề: “Nâng cao
trình độ lý luận chính trị cho cán bộ cấp cơ sở thị xã Hồng Ngự, tỉnh Đồng
Tháp trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm qua đã có nhiều tài liệu, bài viết và các công trình
nghiên cứu cũng như các luận văn cao học đề cập đến mảng vấn đề này được
công bố, tiêu biểu là các nhóm vấn đề sau:

vấn đề về lý luận và thực tiễn, Nxb giáo dục, Hà Nội, 2004. Nhóm các tác giả
này đã bàn đến vai trò, tầm quan trọng của việc giáo dục LLCT, nâng cao trình
độ LLCT, nêu lên một số phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao trình độ
LLCT cho đội ngũ cán bộ cấp cơ sở.
Trung ương, Tỉnh uỷ và Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã có ban hành
một số văn bản về giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng trình độ LLCT và chế độ đào
tạo đối với cán bộ cấp cơ sở, như: Chương trình bồi dưỡng chuyên đề: Phương
pháp giảng dạy LLCT dành cho giáo viên giảng dạy LLCT tại Trung tâm BDCT


11
cấp huyện, thị, thành, Nxb Lao động xã hội, 2008; Nghị quyết: Về công tác cán
bộ trong giai đoạn mới, 1973 của Bộ Chính trị TW Đảng Lao động Việt Nam;
Quyết định số 1853-QĐ/BTGTW, ngày 04/3/2010: Về việc ban hành quy chế
giảng dạy và học tập của Trung tâm BDCT huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc
Tỉnh của Ban Tuyên giáo TW; Quy định Số 12 QĐ/TC-TTVH, ngày
09/01/2004: Về việc xác định trình độ LLCT của BCH. TW - Ban Tổ chức - Ban
Tư tưởng văn hóa TW; Thông báo Số 181-TB/TW, ngày 03/9/2008: Về đổi mới
và nâng cao chất lượng hoạt động của Trường Chính trị cấp Tỉnh và Trung tâm
BDCT cấp huyện của BCH TW; Quyết định số 185-QĐ/TW, ngày 03/9/2008, Về
chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Trung tâm BDCT huyện, thị xã, thành
phố trực thuộc Tỉnh của BCH TW; Thông tư Số 51/2008/TT-BTC ngày
16/6/2008: Về hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức Nhà nước của Bộ Tài chính; Nghị quyết số 01-NQ/TU ngày
22/5/2006: Về nâng cao chất lượng tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc
và các đoàn thể ở xã phường, thị trấn; Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Đồng Tháp:
Hướng dẫn nhiệm vụ công tác giáo dục LLCT năm 2008, 2009, 2010, 2011;
Chỉ thị số 04-CT/TU, ngày 09/9/2011: Về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo,
quản lý thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước của Tỉnh ủy Đồng Tháp.
Ngoài ra, BCH Đảng bộ thị xã Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp cũng đã đề ra

Một số Luận văn của các anh, chị cao học các khóa trước, những luận văn
mà nội dung liên quan đến giáo LLCT cho cán bộ, đảng viên, về cơ bản những
công trình, bài viết, luận văn đó là vô cùng bổ ích và quý giá, là tài liệu, luận cứ
để chúng tôi thực hiện đề tài này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Nhằm nâng cao trình độ LLCT cho cán bộ cấp cơ sở thị xã Hồng Ngự,
tỉnh Đồng Tháp đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới đặt ra trong giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ


13
Nghiên cứu làm rõ hơn khái niệm, tầm quan trọng và yêu cầu của việc
nâng cao trình độ LLCT đối với công tác và hoạt động của cán bộ cấp cơ sở
trong giai đoạn hiện nay.
Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng trình độ LLCT của đội ngũ cán
bộ cấp cơ sở thị xã Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp .
Đề xuất quan điểm và những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao trình độ
LLCT cho đội ngũ cán bộ cấp cơ sở thị xã Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp trong giai
đoạn cách mạng hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
4.1. Đối tượng nghiên cứu.
Tập trung nghiên cứu vấn đề lý luận và thực tiễn của việc nâng cao trình độ
LLCT cho đội ngũ cán bộ cấp cơ sở thị xã Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu về thực trạng, nguyên nhân, giải pháp để nâng cao trình độ
LLCT cho cán bộ cấp cơ sở hiện nay trong thị xã Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng lý luận của chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các chuyên ngành khoa học xã hội - nhân văn,

Chương 1
NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ
CÁN BỘ CẤP CƠ SỞ THỊ XÃ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG TRONG GIAI
ĐOẠN HIỆN NAY LÀ MỘT TẤT YẾU KHÁCH QUAN
1.1. Khái niệm lý luận chính trị và giáo dục lý luận chính trị cho cán
bộ cấp cơ sở
1.1.1. Lý luận chính trị
1.1.1.1. Khái niệm
- Khái niệm “Lý luận”:


15
Khái niệm lý luận có rất nhiều cách tiếp cận, cách diễn đạt khác nhau - Do
lý luận là một phạm trù rộng lớn, tồn tại và phát triển cùng với sự phát triển của
xã hội loài người. Vì thế, khái niệm lý luận ngày càng được hiểu một cách đầy
đủ hơn.
Từ điển triết học, định nghĩa: “Lý luận là sự tổng hợp các tri thức về tự
nhiên và xã hội tích lũy được trong quá trình lịch sử”; là “hệ thống tư tưởng chủ
đạo trong một lĩnh vực tri thức” [35; 526].
Từ điển Tiếng Việt viết: “Lý luận là hệ thống những tư tưởng được khái quát
từ kinh nghiệm thực tiễn, có tác dụng chỉ đạo thực tiễn. Lý luận là những kiến thức
được khái quát và hệ thống trong một lĩnh vực nào đó” [51; 544- 545].
Trong cuốn Phương pháp giảng dạy LLCT do Ban Tuyên giáo TW xuất
bản năm 2008 viết: “Lý luận, hiểu theo nghĩa chung nhất là các khái niệm, phạm
trù, quy luật được khái quát hóa từ hoạt động thực tiễn của con người. Lý luận là
kết quả nhận thức chủ quan của con người đối với những hiện tượng khách quan
của tự nhiên, xã hội và tư duy” [7; 7].
Tác giả Đoàn Thế Hanh viết: “Lý luận là hệ thống những tri thức đã được
khái quát, tạo ra một quan niệm hoàn chỉnh về các quy luật và về mối liên hệ cơ
bản của hiện thực; là sự phản ánh và tái hiện hiện thực khách quan. Mọi lý luận

giai cấp, một chính đảng nhằm giành lấy hoặc duy trì quyền điều khiển bộ máy
Nhà nước” [21; 163].
Aristotle, trong tác phẩm Chính trị luận, ông khẳng định: “Tư cách công
dân của một con người không được tạo nên chỉ vì người đó sinh ra và cư trú trên
một đất nước nào đó, mà tư cách công dân chỉ cần có một tiêu chuẩn xác định:
công dân là người có quyền tham gia vào chính sự và giữ những chức vụ trong
chính quyền; còn nhà lãnh đạo đòi hỏi phải có thêm một đức tính đó là sự khôn
ngoan chính trị” [12; 217].
Kế thừa những tinh hoa nhân loại, đồng thời là một lãnh tụ của GCCN,
V.I. Lênin rất chú trọng đến vấn đề chính trị. Theo ông, cái căn bản nhất của
chính trị là tổ chức chính quyền nhà nước. Chính trị là sự tham gia vào các công


17
việc nhà nước, định hướng nhà nước, xác định hình thức, nhiệm vụ, nội dung
hoạt động của nhà nước. Bất kỳ hoạt động xã hội nào cũng có tính chất chính trị,
nếu như việc giải quyết nó trực tiếp hay gián tiếp gắn với lợi ích giai cấp, gắn
với vấn đề chính quyền.
Hồ Chí Minh cho rằng, đời sống xã hội có bốn lĩnh vực cơ bản là kinh tế,
chính trị, văn hóa và xã hội, phải coi các lĩnh vực đó đều quan trọng như nhau.
Trong tác phẩm Thường thức chính trị, Người đã chỉ rõ nội hàm của khái niệm
chính trị rất cơ bản và dễ hiểu. Theo Người: “Mấu chốt của vấn đề chính trị ở Việt
Nam trong những năm đầu thế kỷ XX là giành và giữ chính quyền, là thực hiện dân
chủ kiểu mới, là làm cho nhân dân thực sự là người làm chủ, làm cho dân giàu,
nước mạnh và sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước trên tinh thần hòa hiếu, tôn
trọng chủ quyền và hợp tác cùng có lợi” [32; 252].
Với vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội, các vấn đề chính trị
đã thu hút nhiều nhà tư tưởng lớn của nhân loại. Đã có khá nhiều nhà tư tưởng
lỗi lạc nghiên cứu những khía cạnh khác nhau của lĩnh vực chính trị trong lịch
sử. Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn có những quan niệm khác nhau về phạm trù

Đảng Cộng Sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng. Đồng
thời, căn cứ vào những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của đất nước trong từng giai
đoạn cách mạng, Đảng xác định cho mình những quan điểm cơ bản chỉ đạo hành
động và lãnh đạo quần chúng, xây dựng nên một hệ thống quan điểm tư tưởng,
lý luận là những chủ trương, đường lối, chính sách...
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, lần đầu tiên Đảng ta đã
xác định: Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng
của Đảng. Đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục xác
định: “Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vận dụng sáng
tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam, kiên định mục tiêu độc lập dân
tộc và CNXH. Nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ của toàn Đảng và của
mỗi cán bộ đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp; không dao


19
động trong bất cứ tình huống nào. Kiên định đường lối đổi mới, chống giáo
điều, bảo thủ, trì trệ hoặc chủ quan, nóng vội, đổi mới vô nguyên tắc” [16; 255].
Vậy, LLCT là một hệ thống những tri thức được khái quát từ kinh nghiệm
hoạt động chính trị thực tiễn của một giai cấp hoặc một chính đảng. LLCT phản
ánh những mối quan hệ bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật của hoạt động
chính trị của một giai cấp hoặc một chính Đảng và được biểu đạt bằng hệ thống
những khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật… có liên quan; LLCT có cơ sở
là thực tiễn hoạt động chính trị; LLCT có tính khái quát cao, thể hiện bản chất
của hoạt động chính trị và có tính hệ thống.
1.1.1.2. Bản chất của lý luận chính trị
- Lý luận chính trị xuất phát từ thực tiễn:
Thực tiễn bao giờ cũng là hoạt động vật chất có mục đích và mang tính
lịch sử - xã hội; lịch sử hình thành và phát triển của xã hội loài người trước hết
phải là lịch sử của quá trình cải tạo thực tiễn tự nhiên và xã hội. Để thực hiện

quân tử có đức sáng mới có thể cai trị thiên hạ tốt bằng chính tấm gương đạo
đức và tình thương yêu dân chúng của mình. Khổng Tử cũng cho rằng, một triều
đại tốt là “quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử”, nghĩa là vua phải làm tròn bổn
phận của vua, tôi phải làm tròn bổn phận của tôi, cha phải làm tròn bổn phận của
cha và con phải làm tròn bổn phận của con.
Như vậy, chính trị là một lĩnh vực của đời sống xã hội, thể hiện mối quan
hệ giữa các giai cấp, các dân tộc, các quốc gia trong vấn đề giành, giữ, sử dụng
hoặc chi phối quyền lực nhà nước.
- Lý luận chính trị phản ánh mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn trong
hoạt động chính trị:
Một số quan điểm lại cho rằng, chính trị là khả năng con người đóng
những vai trò khác nhau, hoàn thành những chức năng khác nhau trong khuôn
khổ của một thể chế chính trị. Theo quan điểm đó, bản chất chính trị là sự phân
chia trách nhiệm và các thẩm quyền cũng như bảo đảm hiệu quả chính trị và sự
bền vững của chính thể. Ở đây, chính trị được họ hiểu như là sự khôn khéo, khả


21
năng đạt được sự phân chia chức năng, mà vẫn đảm bảo duy trì tác động qua lại
của chúng.
Những quan niệm nêu trên, tuy có chứa đựng một số nhân tố hợp lý nhất
định, nhưng chúng vẫn chưa nêu ra được nội dung cơ bản nhất của phạm trù
chính trị - đó là mối quan hệ giữa con người vì địa vị khác nhau, lấy quyền lực
làm đích. LLCT là kim chỉ nam cho hành động, soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo hoạt
động chính trị. LLCT xuất phát từ thực tiễn hoạt động chính trị, dựa trên cơ sở
thực tiễn, đi sâu, đi sát thực tiễn, coi trọng việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý
luận phải liên hệ với thực tiễn bởi vì chỉ có thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý để
kiểm nghiệm lại LLCT đúng hay sai. Nếu LLCT xa rời thực tiễn chính trị sẽ dẫn
tới các sai lầm của bệnh chủ quan, giáo điều, máy móc, bệnh quan liêu.
Tuy nhiên, tự bản thân LLCT cũng phải luôn luôn đổi mới để theo kịp sự

luật trong sự vận động và phát triển của sự vật. Với đặc tính phản ánh cái chung,
cái bản chất có tính qui luật của các sự vật, hiện tượng, nên qui luật có tính
chính xác, chặt chẽ, lôgíc và độ tin cậy cao, là hệ thống chỉnh thể thống nhất.
Mặc dù các khái niệm, phạm trù, nguyên lý… biểu đạt những khía cạnh, những
yếu tố khác nhau nhưng chúng lại có quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung, hỗ trợ,
thúc đẩy cùng nhau phát triển. Lý luận Mác-Lênin chính là một điển hình về tính
thống nhất, chặt chẽ và tính lôgíc. Do đó, nó là khoa học về những qui luật
chung, phồ biến đang vận động trong giới tự nhiên, xã hội và tư duy con người.
Nhờ có tính trừu tượng hóa, khái quát hóa của lý luận mà tư duy con
người không ngừng tìm tòi, sáng tạo ra những cái mới khoa học đáp ứng những
nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của thực tiễn.
LLCT chính là sản phẩm trực tiếp, là kết quả khái quát hoá những tri thức
về chính trị xã hội, trên cơ sở hoạt động chính trị thực tiễn của quần chúng nhân
dân. Thuộc tính này giúp cho nhận thức đi sâu vào bản chất sự vật, hiện tượng
xã hội và phát hiện ra các quy luật vận động, phát triển của xã hội. Trong LLCT,
quá trình trừu tượng hoá và khái quát hóa không tách rời mà liên hệ, bổ sung
cho nhau và xâm nhập lẫn nhau. LLCT không thể là sự hùng biện mang tính áp


23
đặt, chắp vá và cắt xén những tri thức rời rạc. Ngược lại, LLCT phải phản ánh
đúng bản chất của sự vật, hiện tượng xã hội cũng như tự nhiên và dự báo, định
hướng có cơ sở khoa học sự vận động và phát triển của lịch sử, xã hội nên nó
mang tính trừu tượng và khái quát hóa cao.
Chủ nghĩa Mác - Lênin là một hệ thống lý luận khoa học điển hình, tiêu
biểu cho sự phản ánh hiện thực và định hướng phát triển xã hội. VI.Lênin đã
khẳng định: “Trong cái triết học ấy của chủ nghĩa Mác, đúng bằng một khối thép
duy nhất, người ta không thể vứt bỏ một tiền đề cơ bản, một phần chủ yếu nào,
mà không xa rời chân lý khách quan, không rơi vào dối trá của GCVS phản
động” [22; 404].

là sản xuất là cuộc đấu tranh để bảo vệ sự tồn tại của con người trước thiên nhiên
và xã hội. V.I Lênin khẳng định: “Thực tiễn cao hơn nhận thức vì nó có ưu điểm
không những của tính phổ biến mà cả của tính hiện thực trực tiếp” [21; 230].
Lý luận bắt nguồn từ thực tiễn, lý luận có tồn tại, có sức sống hay không
phụ thuộc ở mức độ phù hợp ở vai trò định hướng, gợi mở, chỉ dẫn, giải quyết
những vấn đề của đời sống thực tiễn. Thực tiễn luôn luôn vận động, phát triển
buộc lý luận phản ánh đời sống thực tiễn cũng phải không ngừng được bổ sung,
phát triển; đồng thời, phải thường xuyên tổng kết thực tiễn để làm cho tri thức lý
luận ngày càng phản ánh chính xác hơn, sâu sắc hơn, phong phú hơn đời sống
thực tiễn. Lý luận và thực tiễn có mối quan hệ biện chứng, tác dộng, bổ sung làm
phong phú lẫn nhau, là điều kiện, tiền đề cho sự tồn tại và phát triển của nhau.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một
nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng
dẫn thì thành thực tiễn mù quáng; Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý
luận suông” [32; 496] (diễn văn khai mạc lớp học lý luận khoá I trường Nguyễn
Ái Quốc ngày 7/9/1957).
Đối với Hồ Chí Minh lý luận cách mạng có vai trò to lớn đói với cán bộ
đảng viên và toàn thể nhân dân thúc đẩy cách mạng tiến lên. Người cũng thường


25
xuyên nhắc nhở Đảng và Nhà nước khi xây dựng đường lối, chủ trương, chính
sách, biện pháp phải xuất phát từ thực tiễn, từ những đòi hỏi bức thiết của thực
tiễn cách mạng. Theo Người: “Lý luận phải đem ra thực hành. Thực hành phải
nhằm theo lý luận” [29; 235].
Nhờ có lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin soi đường, Đảng Cộng sản Việt
Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo vào điều kiện
hoàn cảnh cụ thể Việt Nam, lãnh đạo cách mạng ta giành nhiều thắng lợi to lớn.
Vì thế, Đảng và Bác Hồ luôn coi trọng việc bồi dưỡng, giáo dục lý luận cho cán
bộ, đảng viên, nhất là bồi dưỡng, giáo dục LLCT, coi đó là yêu cầu cơ bản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status