BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN VIẾT TRƯỜNG
NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO CÁN BỘ CẤP
CƠ SỞ Ở HÀ TĨNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Vinh, 2010
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN VIẾT TRƯỜNG
NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO CÁN BỘ CẤP
CƠ SỞ Ở HÀ TĨNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành
: Lý luận và phương pháp dạy học
bộ môn Giáo dục chính trị
Mã số 60.14.10
đội ngũ cán bộ cấp cơ sở trong giai đoạn hiện nay.
42
CHƯƠNG 2: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ LÍ
LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CẤP CƠ SỞ Ở TỈNH HÀ TĨNH
HIỆN NAY
55
2.1 Quan điểm về giáo dục lí luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cấp
cơ sở ở tỉnh Hà Tĩnh hiện nay.
55
2.2 Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao trình độ lí luận cho đội
ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Hà Tĩnh hiện nay.
KẾT LUẬN
DAMH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
3
63
79
81
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cán bộ là khâu then chốt, là nhân tố quyết định sự thành công hay thất
luận chính trị hạn chế, ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của địa phương.
Trong khi đó, đội ngũ cán bộ cấp cơ sở chính là những người trực tiếp đưa,
tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ở
cơ sở và mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đều
được thiển khai thực hiện và kiểm nghiệm từ cơ sở. Vì vậy, để xây dựng
được một đội ngũ cán bộ cấp cơ sở ngang tầm, góp phần thực hiện thắng lợi
nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa thì một
trong những yêu cầu đặt ra đối với cán bộ là phải nâng cao trình độ lý luận
chính trị.
Với ý nghĩa đó, việc nghiên cứu đề tài: “Nâng cao trình độ lý luận
chính trị cho đội ngũ cán bộ cấp cơ sở ở Tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn
hiện nay” là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách.
2. Tình hình nghiên cứu
Vấn đề lý luận chính trị và giáo dục lý luận chính trị đã có nhiều công
trình nghiên cứu, tiếp cận dưới nhiều góc độ. Tiêu biểu là các công trình: Đề
tài 0206-KHXH: Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp huyện
thuộc diện Tỉnh uỷ quản lý trong thời kỳ phát triển mới của tỉnh Hà Tĩnh. Cơ
quan Chủ trì đề tài: Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ, chủ biên: Nguyễn Thiện. Tháng
6/2006. Đề tài này đã đề cập được một số vấn đề về lý luận, tầm quan trọng
và vai trò của công tác cán bộ trước yêu cầu mới, đặc biệt là trình độ lý luận
chính trị của cán bộ, nhưng là diện cán bộ cấp huyện.
- Đỗ Cao Quang: Nâng cao trình độ tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ
chủ chốt cấp xã miền núi hiện nay, Luận án thạc sỹ, mã số: LA MSR-140
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 1996. Luận văn này đã cung
cấp một cách tương đối đầy đủ về việc nâng cao trình độ tư duy lý luận của
cán bộ cấp cơ sở, nhưng chưa đầy đủ, đang mang nặng khai quát và nêu lên
nhưng đặc thù khó khăn của miền núi, như văn hoá, trình độ, yêu cầu. Chưa
làm rõ được trước yêu cầu hội nhập, đổi mới, cán bộ cơ sở cần có những yêu
cầu cơ bản nào, phương pháp tiếp cận mới trong việc dạy và học tập lý luận
cấp cơ sở hiện nay.
- Đánh giá đúng thực trạng trình độ lý luận chính trị, quá trình bồi
dưỡng trình độ lý luận chính trị cho cán bộ ở Hà Tĩnh và nguyên nhân của
thực trạng đó.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu khả thi nhằm nâng cao trình độ lý
luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cấp cơ sở hiện nay ở Hà Tĩnh.
6
4. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu về thực trạng, nguyên nhân, giải pháp nâng cao trình độ lý
luận chính trị trong đội ngũ cán bộ ở cơ sở trên địa bàn Hà Tĩnh.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng lý luận Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí
Minh, các quan điểm của Đảng ta về đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho
cán bộ.
Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử cùng với những phương pháp nghiên cứu khoa học cụ
thể: phân tích, tổng hợp, thống kê, điều tra xã hội học, v.v..
6. Đóng góp của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể tham khảo vận dụng trong việc
nghiên cứu để xây dựng tiêu chuẩn, kế hoạch đào tạo lý luận chính trị cho
cán bộ chủ chốt ở cơ sở; xác định mục tiêu, phương pháp đào tạo, đổi mới
nội dụng, phương pháp giảng dạy lý luận chính trị ở các trường chính trị, các
trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện… nhằm nâng cao chất lượng đào
tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ cấp cơ sở.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài có cấu trúc
gồm 2 chương.
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí
Minh luôn coi trọng lí luận. Người rất tâm đắc với câu nói nổi tiếng của V.I
Lênin: “Không có lí luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng”. Và
theo Người thì lí luận “Là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là
tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch
sử” [44, tr. 497].
Như vậy, lí luận được hình thành từ thực tiễn trên cơ sở khái quát
những kinh nghiệm của hoạt động thực tiễn phong phú, đa dạng của con người.
8
Quan niệm mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra đã góp phần làm sáng tỏ
quan niệm triết học về lí luận, nêu ra nguồn gốc, cách thức, con đường hình
thành lí luận.
Lí luận thường được hiểu là những tri thức và kinh nghiệm được khái
quát tích luỹ từ thực tiễn. Lí luận được truyền bá, vận dụng trong thực tiễn và
luôn được bổ sung, phát triển làm cho phong phú hơn. Lí luận phản ánh mối
liên hệ bản chất, tính quy luật của sự vận động và phát triển của các sự vật
hiện tượng trong thế giới khách quan.
Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về lí luận nhưng đều thống nhất
ở chỗ: Lí luận là sự khái quát những kinh nghiệm thực tiễn, là sự tổng hợp các
tri thức về tự nhiên xã hội được tích luỹ trong quá trình hoạt động lịch sử của
con người; là phản ánh bản chất, tính quy luật của các sự vật hiện tượng trong
một lĩnh vực nào đó của hiện thực khách quan và có vai trò hướng dẫn hoạt
động thực tiễn.
Thật vậy, để duy trì sự tồn tại và phát triển của mình, con người buộc
phải khám phá, tìm hiểu, nhận thức về thế giới. Nhưng những tri thức về thế
giới phải thông qua hoạt động thực tiễn con người mới có nhận thức và hiểu biết.
Bằng hoạt động thực tiễn, con người tác động vào thế giới, buộc thế
quan đến thành bang, những công việc quốc gia. Trong đó điều cốt lõi nhất,
quan trọng nhất, thực chất nhất là tổ chức ra cơ quan cai trị hay là Chính phủ.
Sau này từ thế kỷ XVI trở đi gọi là Nhà nước [4, tr.7].
“Chính trị - theo nguyên nghĩa của nó là những công việc Nhà nước, là
phạm vi hoạt động gắn với những quan hệ giai cấp, dân tộc và các nhóm xã
hội khác nhau mà hạt nhân của nó là vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực
Nhà nước” [1, tr.507].
Lênin cũng khẳng định “chính trị với nghĩa là công việc Nhà nước, là
việc vạch hướng đi cho Nhà nước, là việc xác định hình thức, nhiệm vụ, nội
dung của Nhà nước” [27, tr.404]. Hơn nữa chính trị là mối quan hệ giữa các
giai cấp, là đấu tranh giai cấp trong giành, giữ, thực thi quyền lực Nhà nước
và suy cho cùng là vấn đề lợi ích kinh tế. V.I Lênin nêu ra một nguyên tắc cơ
bản trong chính trị mà những người cộng sản phải quán triệt và đó cũng chính
là bản chất của chính trị là: “Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế”
[30, tr.349]. Có nghĩa, chính trị do kinh tế quyết định. Các tổ chức chính trị,
các hình thức Nhà nước muốn tồn tại và phát triển phải dựa trên một cơ sở
kinh tế của xã hội. Có thể nói, kinh tế là nguồn gốc, là cơ sở của chính trị. Chế
độ chính trị thuộc kiến trúc thượng tầng và phải thích ứng với cơ sở kinh tế.
10
Trong xã hội có giai cấp, giai cấp nào thống trị về kinh tế thì sẽ giữ địa vị
thống trị xã hội về chính trị.
Là sự biểu hiện tập trung của kinh tế, song chính trị không phải là “bản
sao”, không phải là biểu hiện thụ động, không phải là “cái gương soi” của
kinh tế. Ngược lại, chính trị có tính độc lập của nó và tác động trở lại mạnh
mẽ đến kinh tế. Nó định hướng cho sự phát triển, lựa chọn các mô hình và
điều tiết sự phát triển của kinh tế. Chính trị thúc đẩy hoặc cản trở sự phát triển
của kinh tế, thâm nhập và chi phối mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Vì lẽ đó,
đường lối, chính sách của một Đảng, một giai cấp để giành, giữ và thực thi
quyền lực nhà nước.
Đảng Cộng Sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng.
Đồng thời, căn cứ vào những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của đất nước trong
từng giai đoạn cách mạng, Đảng xác định cho mình những quan điểm cơ bản
chỉ đạo hành động và lãnh đạo quần chúng, xây dựng nên một hệ thống quan
điểm tư tưởng, lý luận là những chủ trương, đường lối, chính sách ...
Trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đối
với Đảng ta hiện nay, lý luận chính trị của Đảng bao gồm: Lý luận về chủ
nghĩa xã hội, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; về nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; về giai cấp đặc biệt là giai cấp công
nhân và đấu tranh giai cấp; về xây dựng Nhà nước, xây dựng Đảng trong điều
kiện hiện nay của Việt Nam, về dân tộc, tôn giáo, con người...
Nghị quyết hội nghị lần thứ Năm Ban chấp hành Trung ương khoá X đề
ra nhiệm vụ, giải pháp đối với công tác lí luận trong tình hình mới bao gồm
những vấn đề sau:
“- Nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin,
làm rõ những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác – Lênin, những vấn đề cần
bổ sung và phát triển cho phù hợp với thực tiễn đất nước và thời đại; đẩy
mạnh nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh…
- Tiếp tục làm sáng tỏ nhận thức, quan niệm về chủ nghĩa xã hội và con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, tập trung vào các vấn đề: độc lập dân
tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế; tăng trưởng kinh tế
với phát triển văn hoá và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; phát huy và thực
hành quyền dân chủ của nhân dân; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân…
12
Để xây dựng hệ thống lí luận, trong quá trình nhận thức, tư duy con
người luôn diễn ra quá trình trừu tượng hoá, khái quát hoá hững tri thức thu
13
được về thế giới, những quy luật vận động và phát triển của các lĩnh vực khác
nhau trong đời sống xã hội.
Các hình thức thể hiện lí luận nói chung, lí luận chính trị nói riêng như
khái niệm, nguyên lí, quy luật, phạm trù … đều là kết quả của quá trình trừu
tượng hoá, khái quát hoá cao của tư duy con người trong quá trình nhận thức
thế giới.
Nhờ có đặc trưng trừu tượng hoá, lí luận hướng con người vào việc tìm
ra chân lí, nắm bắt những mối quan hệ khách quan có tính bản chất, phát hiện
ra các quy luật chi phối sự vận động và phát triển của sự vật hiện tượng trong
thế giới. Khái quát hoá giúp cho con người xây dựng các khái niệm, phạm trù,
từ đó xây dựng nên các lí thuyết khoa học. Khái quát hoá được thực hiện trên
cơ sở một số thuộc tính, đặc tính quan trọng nào đó đã được tư duy trừu tượng
tách ra khỏi những thuộc tính, đặc tính khác. Từ những thuộc tính đã được
trừu tượng hóa, tư duy đi đến khái quát thành cái chung bản chất, mang tính
quy luật.
Mang đặc trưng tính trừu tượng hoá và khái quát hoá cao nên lí luận, lí
luận chính trị là hệ thống tri thức đem lại cho con người sự hiểu biết sâu sắc
về bản chất, tính quy luật các mối liên hệ tất nhiên … trong sự vận động và
phát triển của sự vật hiện tượng và do đó giúp cho con người có thể tiếp cận
bản chất sâu xa của sự vật vốn thường bị che lấp bởi các hiện tượng ngẫu
nhiên, đơn lẻ, bề ngoài; giúp cho con người không ngừng khám phá thế giới,
đáp ứng nhu cầu thực tiễn đặt ra.
Hai là, tính chính xác và logíc chặt chẽ
Tính thống nhất và chặt chẽ về lôgíc với tính chính xác và độ tin cậy
buộc lí luận phản ánh đời sống thực tiễn cũng phải không ngừng được bổ
sung, phát triển, đồng thời phải thường xuyên tổng kết thực tiễn để làm cho tri
thức lí luận ngày càng phản ánh chính xác hơn, sâu sắc hơn, phong phú hơn
đời sống thực tiễn.
Tuy nhiên, lí luận cũng có tính độc lập tương đối của nó, không hoàn
toàn thụ động mà lí luận cũng đóng vai trò tích cực trở lại đối với thực tiễn. Lí
luận là kim chỉ nam giúp cho thực tiễn đạt kết quả cao. Lí luận vạch ra
phương hướng cho thực tiễn, chỉ rõ phương pháp thực hiện có hiệu quả nhất
để đạt mục đích. Đặc biệt là lí luận cách mạng trong cách mạng xã hội chủ
nghĩa: “Không có lí luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách
mạng” [24, tr.30].
15
Lí luận đem lại sức mạnh cho con người trong quá trình nhận thức và
cải tạo thế giới. Nếu không có nhận thức đúng thì càng không thể có hành
động đúng. Nhờ có lí luận, hoạt động của con người trở nên tự giác, tích cực,
chủ động và tránh được tình trạng tự phát, mò mẫm.
Lí luận và thực tiễn có mối quan hệ biện chứng, tác dộng, bổ sung làm
phong phú lẫn nhau, là điều kiện, tiền đề cho sự tồn tại và phát triển của nhau.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Thống nhất giữa lí luận và thực tiễn
là một nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin. Thực tiễn không có lí
luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng; Lí luận mà không liên hệ với
thực tiễn là lí luận suông” [43, tr.496] (diễn văn khai mạc lớp học lí luận khoá
I trường Nguyễn Ái Quốc ngày 7/9/1957). Đối với Hồ Chí Minh lí luận cách
mạng có vai trò to lớn đói với cán bộ đảng viên và toàn thể nhân dân thúc đẩy
cách mạng tiến lên. Người cũng thường xuyên nhắc nhở Đảng và Nhà nước
khi xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách, biện pháp phải xuất phát từ
thực tiễn, từ những đòi hỏi bức thiết của thực tiễn cách mạng. Theo Người:
Bốn là, thống nhất giữa tính Đảng và tính khoa học.
Nói tới tính Đảng là nói tới tính giai cấp, còn tính khoa học là sự phản
ánh đúng thực tế khách quan, tôn trọng sự thật. Lí luận nói chung, lí luận
chính trị nói riêng bao hàm trong nó đặc trưng thống nhất giữa tính Đảng và
tính khoa học. Lí luận chính trị của giai cấp công nhân, giai cấp vô sản là chủ
nghĩa Mác - Lênin xuất phát và phản ánh khách quan nhu cầu và lợi ích của
giai cấp công nhân, nhân dân lao động phù hợp với nguyện vọng của giai cấp
công nhân, nhân dân lao động thế giới cho nên lí luận đó đảm bảo tính thống
nhất giữa tính Đảng và tính khoa học.
Trong lí luận chính trị, tính Đảng và tính khoa học có mối quan hệ biện
chứng không thể tách rời, tính Đảng càng cao thì tính khoa học càng sâu sắc,
tính Đảng và tính khoa học làm điều kiện, tiền đề tồn tại, phụ thuộc lẫn nhau,
không thể loại bỏ cái này, coi trọng cái kia. Do vậy, “Khoa học càng được tiến
hành một cách dũng cảm và vô tư thì nó càng phù hợp với lợi ích và nguyện
vọng của giai cấp công nhân” [37, tr.451].
Thực tiễn cho thấy, việc xuyên tạc sự thật thường gắn liền với sự xa rời
lập trường, quan điểm lợi ích của giai cấp công nhân. Mọi cách xem xét, đánh
giá trái với quan điểm, lập trường, lợi ích của giai cấp công nhân đều không
phản ánh đúng xu hướng phát triển của lịch sử. Xuất phát từ lợi ích của các
giai cấp phi vô sản hoặc chịu ảnh hưởng của những quan điểm đó sẽ không
bao giờ phản ánh đúng sự thật lịch sử và như thế sẽ không có tính Đảng và
tính khoa học. Cho nên một lí luận, lí luận chính trị sẽ là khoa học khi đảm
17
bảo thống nhất giữa tính Đảng và tính khoa học, đây cũng là đặc trưng cơ bản
mang tính chất cách mạng, tính khoa học của lí luận chính trị.
Lí luận chính trị không có mục đích nào khác ngoài mục đích thực hiện
thắng lợi nhiệm vụ cách mạng cho nên nhiệm vụ quan trọng của nó là định
hướng cho con người trong nhận thức và hành động để cải tạo thế giới. Khi
phần bổ sung “cơ sở lịch sử của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó
những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được” [39, tr.465].
1.1.2. Giáo dục lí luận chính trị cho cán bộ cấp cơ sở
1.1.2.1. Cán bộ cấp cơ sở: Ở nước ta cơ cấu tổ chức của hệ thống
chính trị được chia làm 4 cấp: Trung ương; tỉnh, thành phố; quận, huyện và cơ
sở. Cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn) gọi chung là cấp xã, là cấp cuối cùng
trong sự phân cấp hành chính. Cấp cơ sở là nơi nhân dân cư trú, sinh sống gắn
bó chặt chẽ trong quan hệ kinh tế, dòng tộc và văn hoá. Cấp cơ sở có một vị
trí rất quan trọng, là nơi giải quyết các mối quan hệ giữa Nhà nước với nhân
dân, là địa bàn tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp
luật của Nhà nước, là nơi trực tiếp sản xuất vật chất, là nền tảng vật chất cơ
bản của xã hội, là nơi có thể tổ chức, huy động, phát huy cao độ nội lực quần
chúng nhân dân. Hiện nay cấp cơ sở ở nước ta chủ yếu là địa bàn nông thôn,
nông dân làm nông nghiệp nên có tiềm năng rất lớn về lao động, đất đai,
ngành nghề. Sản xuất ra lương thực, thực phẩm, của cái vật chất dồi dào cho
xã hội. Đồng thời cấp cơ sở cũng là nơi tiêu thụ sản phẩm cũng như cung cấp
nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp, thúc đấy sự phát triển kinh tế xã hội.
Trong cuộc kháng chiến trường kì chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ,
dưới sự lãnh đạo của Đảng, cấp cơ sở là nơi động viên triệt để sức người, sức
của cung cấp cho chiến trường, đảm bảo trật tự xã hội, trở thành hậu phương
vững chắc làm yên lòng các chiến sỹ đang chiến đấu ở tiền tuyến, góp phần
làm nên chiến thắng vĩ đại là giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Trong công cuộc xây dựng đất nước, nhiệm vụ đặt ra rất nặng nề. Chủ
nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra rằng: Giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền
còn khó hơn nhiều. Nhất là trong thời kì đổi mới đất nước, chúng ta chủ
trương xây dựng nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa thì cấp cơ sở lại càng
giữ vị trí quan trọng.
Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng việc xây dựng hệ thống chính trị
cấp cơ sở, đã ra nhiều nghị quyết về củng cố, kiện toàn, phát triển toàn diện
cấp cơ sở, chẳng hạn như Nghị quyết 3, 5, 7 của Ban chấp hành Trung ương
và biến nghị quyết, chủ trương, đường lối, pháp luật đó thành hành động cách
mạng của quần chúng nhân dân, cũng như tiến hành các chương trình kinh tế
xã hội ở địa phương. Chính họ tạo nên những thành tựu, đúc rút ra những bài
học kinh nghiệm có giá trị góp phần làm quan trọng cho sự phát triển chung
của dất nước.
Thứ hai, cán bộ cấp cơ sở là cầu nối trực tiếp quan trọng giữa Đảng,
Nhà nước với nhân dân.
20
Năng lực của người cán bộ cấp cơ sở là một trong những nguyên nhân
chính quyết định thành công của sự nghiệp đổi mới đất nước nói chung, cấp
cơ sở nói riêng. Cán bộ có tài, có đức sẽ thúc đẩy phong trào và ngược lại, nếu
người cán bộ cấp cơ sở bị mất uy tín trước nhân dân là đồng nghĩa với việc
Đảng mất uy tín với nhân dân, dân sẽ không tin Đảng. Trực tiếp, tiếp xúc hàng
ngày với nhân dân nên cán bộ cấp cơ sở là cầu nối quan trọng giữa Đảng, Nhà
nước và nhân dân; trực tiếp nắm bắt và phản ánh nguyện vọng tâm tư tình cảm
của nhân dân với Đảng, tạo nên mối liên hệ máu thịt thống nhất giữa Đảng và
nhân dân, xây dựng củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng “Cán bộ là những người đem chính
sách của Đảng, của Chính phủ, giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành.
Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ
hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng” [41, tr.269].
Thứ ba, cán bộ cấp cơ sở là một trong những dự nguồn quan trọng cung
cấp cho cán bộ lãnh đạo cấp trên.
Cán bộ cấp cơ sở đã có nhiều đóng góp, trưởng thành trong sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trải qua thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân trước đây cũng như hiện nay, họ luôn có bản lĩnh chính trị vững
vàng, tích luỹ được nhiều kinh nghiệm trong việc chỉ đạo và thực hiện nhiệm
vụ chính trị, có khả năng sáng tạo, tính nhạy bén và năng động cao. Chính vì
Theo từ điển tiếng Việt, trình độ là “Mức độ về sự hiểu biết, về kỹ năng
được xác định hoặc đánh giá theo tiêu chuẩn nhất định nào đó”, là “Trình độ
khá cao trong một lĩnh vực nào đó” [50, tr.1001].
Như vậy, trình độ lí luận chính trị có thể được hiểu là mức độ hiểu biết,
mức độ nhận thức, khả năng vận dụng lí luận chính trị vào trong thực tiễn
cuộc sống. Ở nước ta hiện nay, đối với cán bộ Đảng viên, trong đó có cán bộ
cấp cơ sở, có trình độ lí luận chính trị có nghĩa là phải có thế giới quan khoa
học, phương pháp luận đúng đắn nhờ được trang bị những kiến thức cơ bản,
tương đối có hệ thống lí luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
lí luận về xây dựng Đảng, Nhà nước và quản lý Nhà nước, công tác dân vận,
các quan điểm cơ bản về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước, những nội dung cơ bản về nhiệm vụ công tác Đảng, chính
quyền, đoàn thể. Từ đó củng cố, nâng cao niềm tin vững chắc vào mục tiêu, lí
tưởng cộng sản chủ nghĩa, vào sự nghiệp cách mạng của Đảng. Kiên định và
trung thành với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Hiểu
đúng, bảo vệ và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, quan điểm, đường lối của Đảng và thực tiễn công tác. Đồng thời góp
22
phần nâng cao phẩm chất đạo đức và lối sống của người cán bộ, Đảng viên,
cán bộ cấp cơ sở: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, có tình cảm cách
mạng trong sáng. Có ý thức tổ chức và kỷ luật, tinh thần đấu tranh phê và tự
phê bình, có quan hệ mật thiết với quần chúng. Trình độ lí luận chính trị giúp
cho việc nâng cao năng lực lãnh đạo và năng lực hoạt động thực tiễn, có ý
thức tự giác và tích cực trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ do Đảng đề ra.
Phải nắm rõ các nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, người cán bộ cấp cơ sở mới có khả năng vận dụng sáng tạo lí
luận đó vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể từng lĩnh vực, từng địa phương mình
phụ trách. Qua đó, góp phần bổ sung, phát triển làm phong phú thêm đường
pháp để làm cho sự sáng tạo ý thức thành sự sáng tạo trong thực tiễn. Cho
nên, khả năng cụ thể hoá, tổ chức thực hiện đường lối của Đảng và Nhà nước
đối với cán bộ cơ sở là yêu cầu cấp bách. Đồng thời cũng đòi hỏi người cán bộ
cấp cơ sở phải có niềm tin vào sự nghiệp đổi mới của Đảng, có lập trường
kiên định với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trước những luận
điệu xuyên tạc, phản động của các thế lực thù địch và của chủ nghĩa cơ hội,
xét lại, họ biết tỏ rõ dũng khí của mình, bảo vệ sự thật, bảo vệ chân lý, tuyệt
đối trung thành với lý tưởng của Đảng của dân tộc, vững vàng trước mọi biến
cố của thời đại. Không những thế, người cán bộ cấp cơ sở cần phải tuyên
truyền giáo dục lí luận chính trị, nâng cao được ý thức, lòng tự hào dân tộc,
phát huy truyền thống yêu nước, giữ gìn những giá trị nhân văn của dân tộc
cho quần chúng nhân dân địa phương mình quản lý. Kiên quyết đấu tranh
chống âm mưu “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ dưới các chiêu bài “dân
chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” nhằm xoá bỏ chế độ xã hội chủ
nghĩa ở nước ta cuả các thế lực thù địch.
Không ngừng học tập để nâng cao trình độ lí luận chính trị, nâng cao sự
hiểu biết, nâng cao nhận thức, khă năng vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách
pháp luật của Nhà nước vào trong công việc, trong cuộc sống là nghĩa vụ, là
trách nhiệm, đồng thời là quyền lợi của mọi cán bộ Đảng viên nói chung, cán
bộ cấp cơ sở nói riêng. Đó cũng là thước đo phẩm chất chính trị, phẩm chất
đạo đức của người cán bộ Đảng viên, nhất là cán bộ cấp cơ sở trong tình hình
cách mạng hiện nay.
Công cuộc đổi mới đất nước hiện nay ngày càng mở rộng và phát triển
theo chiều sâu, những biến đổi trên thế giới ngày càng phức tạp, đặt ra nhiều
vấn đề mới mẻ, cần phải giải đáp, trong khi đó: “Thoái hoá, biến chất về chính
trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách
nhiễu dân trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm
trọng, kéo dài chưa được đẩy lùi…, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với
24
đông giá lạnh của miền Bắc, nên thời tiết, khí hậu rất khắc nghiệt. Hà Tĩnh có
1.227.554 người (điều tra dân số ngày 01/04/2009). Dân tộc chủ yếu sống tại
Hà Tĩnh là người Kinh và một dân tộc thiểu số khác cùng nhóm với người
25