LUẬN văn THẠC sĩ NÂNG CAO TRÌNH độ lý LUẬN CHÍNH TRỊ CHO đội NGŨ cán bộ LÃNH đạo, QUẢN lý cấp HUYỆN ở TỈNH CAO BẰNG HIỆN NAY - Pdf 39

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc đổi mới đất nước do Đảng khởi xướng và lãnh đạo đã và
đang thu được những thành tựu quan trọng, tạo tiền đề vững chắc để đưa
đất nước bước sang một thời kỳ phát triển mới - thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật cho chủ nghĩa
xã hội. Trước mắt chúng ta thuận lợi có nhiều, song khó khăn thách thức
cũng còn rất lớn. Những biến động lớn về tình hình chính trị, kinh tế, tài
chính trên thế giới và khu vực cùng với sự non kém của nền kinh tế đất
nước đã và đang làm nảy sinh nhiều vấn đề mới phức tạp. Có vấn đề có thể
cảm nhận được bằng trực giác, nhưng có những vấn đề đòi hỏi phải có sự
khái quát, phân tích bằng tư duy lý luận thì mới có thể nhận thức được.
Điều đó đòi hỏi người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải có một trình độ lý luận
chính trị nhất định.
Từ những yêu cầu đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên không
ngừng vươn lên về mọi mặt, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý
cấp huyện của tỉnh miền núi Cao Bằng. Đội ngũ này được hình thành từ
nhiều nguồn khác nhau, trưởng thành chủ yếu thông qua thực tiễn, chưa
được đào tạo về lý luận một cách có hệ thống, nên ở họ thiếu những kiến
thức lý luận cần thiết, thiếu trình độ tư duy lý luận. Bởi vậy, trong nhận
thức và chỉ đạo thực tiễn họ thường mắc các căn bệnh giáo điều, kinh
nghiệm, điều hành công tác lãnh đạo, quản lý cũng như xử lý các công việc
một cách máy móc kém hiệu quả.
Để đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới đội ngũ này
phải không ngừng rèn luyện, nâng cao trình độ về mọi mặt, trong đó cần
chú ý nâng cao trình độ lý luận chính trị . Để từ đó đội ngũ này mới có thể
nắm bắt, phản ánh đúng đắn các khả năng, các xu hướng, các giai đoạn vận
động của thực tiễn. Trên cơ sở đó vận dụng những chủ trương, đường lối

phương, có nội dung liên quan đến đề tài này như: "Quan hệ giữa lý luận
và chính trị" của Nguyễn Thế Phấn, Tạp chí Cộng sản, số 8/1992; "Mấy


3

vấn đề trong công tác lý luận" của Đỗ Nguyên Phương, Tạp chí Công tác
tư tưởng văn hóa, số 7/1992; "Góp phần bàn thêm về khái niệm chính trị"
của Hồ Tấn Sáng, Tạp chí Sinh hoạt lý luận, số 5/1995; "Nguyên tắc thống
nhất giữa lý luận và thực tiễn với việc nâng cao năng lực tư duy lý luận
cho giảng viên Mác - Lênin ở các Trường chính trị tỉnh" của Nguyễn Đình
Trãi, Tạp chí Triết học, số 1/1993; "Nâng cao trình độ lý luận cho cán bộ
chủ chốt cơ sở miền núi Hòa bình" của Bùi Văn Tính, Luận văn thạc sĩ
Triết học năm 1995; "Nâng cao trình độ tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ
chủ chốt cấp xã miền núi hiện nay" của Đỗ Cao Quang, Luận văn thạc sĩ
Triết học năm 1996; "Nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán
bộ quản lý sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt
Nam hiện nay" của Trần Thị Yên Ninh, Luận văn thạc sĩ Triết học năm
1998; "Nâng cao trình độ lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho
cán bộ, đảng viên trong công cuộc đổi mới hiện nay" của Hoàng Thị Xuân
Thanh, Luận văn thạc sĩ Triết học năm 1998; "Nâng cao năng lực tư duy
lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện ở nước ta hiện
nay" của Vũ Đình Chuyên, Luận văn thạc sĩ Triết học năm 2000...
Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu, đặt ra những vấn đề rất
cơ bản cả về lý luận lẫn thực tiễn, đề ra những phương hướng và giải pháp
để nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý
ở cấp này cấp khác. Tuy nhiên, có thể nói rằng, cho tới nay nhưng chưa có
công trình nghiên cứu một cách chi tiết, đầy đủ, có hệ thống và chuyên sâu
về thực trạng cũng như nêu ra những chủ trương, giải pháp để nâng cao
trình độ lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên miền núi, nhất là đội ngũ

Luận văn vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh, những quan điểm của Đảng về công tác giáo dục lý luận
chính trị, về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý.
Luận văn được trình bày dưới góc độ triết học với phương pháp
luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.


5

6. Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ vai trò của lý luận chính trị đối với
đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện nhất là cấp huyện miền núi ở
nước ta. Đồng thời đánh giá được thực trạng trình độ lý luận và năng lực
thực tiễn của đội ngũ này. Trên cơ sở đó, để xuất với tỉnh một số giải pháp
chủ yếu để từng bước nâng cao trình độ cả lý luận lẫn thực tiễn cho họ, đáp
ứng với yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới.
7. Ý nghĩa của luận văn
Những kết luận được rút ra qua nghiên cứu và những chủ trương,
giải pháp trình bày trong luận văn sẽ góp phần nâng cao trình độ cả lý luận
lẫn thực tiễn cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện miền núi nói
chung, của tỉnh Cao Bằng nói riêng. Đồng thời đây cũng là tài liệu để tham
khảo phục vụ cho việc hoạch định chiến lược, xây dựng, quy hoạch đội ngũ
cán bộ cho tỉnh Cao Bằng cũng như công tác đào tạo lý luận chính trị của
Trường chính trị tỉnh.
Luận văn cũng có thể dùng để làm tài liệu tham khảo trong việc
nghiên cứu, giảng dạy lý luận Mác - Lênin trong các Trường chính trị,
Trường chuyên nghiệp.
8. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn gồm 2 chương, 4 tiết.

hơn, bản chất hơn, đó là tri thức lý luận.
Tri thức lý luận ở trình độ cao hơn so với tri thức kinh nghiệm.
Trình độ tri thức lý luận đã vượt ra ngoài giới hạn của những tri thức kinh
nghiệm. Tri thức lý luận phản ánh hiện thực trong tính bản chất của sự vật.
Nó có tính trừu tượng hóa và khái quát hóa cao, đem lại sự hiểu biết sâu
sắc về bản chất và qui luật của sự vật. Chính vì vậy, phạm vi áp dụng cũng
như tính hướng dẫn, chỉ đạo của tri thức lý luận rộng lớn hơn so với tri thức


8

kinh nghiệm. Tri thức lý luận làm cho hoạt động của con người trở nên chủ
động, tự giác hơn, tránh được tình trạng mò mẫm, tự phát trong quá trình
nhận thức, cũng như cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội. Tri thức lý luận là tri
thức khái quát từ tri thức kinh nghiệm.
Tri thức lý luận và tri thức kinh nghiệm có những đặc điểm khác
nhau nhưng giữa chúng lại có mối quan hệ chặt chẽ không thể tách rời.
Kinh nghiệm thực tiễn có vai trò rất quan trọng đối với lý luận, nó là cơ sở
để tổng kết, khái quát thành lý luận. Kinh nghiệm còn là căn cứ để con
người xem xét, bổ sung, sửa đổi và không ngừng phát triển lý luận. Tri thức
lý luận được hình thành từ sự tổng kết - khái quát kinh nghiệm nhưng lại
phải thông qua sự trừu tượng hóa, khái quát hóa của tư duy, cho nên nó
cũng có thể chứa đựng khả năng không chính xác hoặc xa rời thực tiễn. Vì
vậy tri thức lý luận phải được thử nghiệm trong thực tiễn để khẳng định, bổ
sung hoàn thiện. Nhưng lý luận một khi đã được hình thành thì nó không
phải thụ động mà có sự độc lập tương đối của nó. Lý luận tác động trở lại
đối với thực tiễn, hướng dẫn, chỉ đạo thực tiễn, dự báo, dự đoán tương lai,
định hướng cho thực tiễn của con người.
Như vậy, tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận là hai cấp độ khác
nhau trong quá trình nhận thức của con người, trong đó tri thức kinh

nó trong đời sống xã hội. Kế thừa những tư tưởng của Mác, Ăngghen,
Lênin cho rằng, chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế, là tham gia vào
việc nhà nước, định hướng cho sự phát triển của đất nước, xác định hình
thức, nhiệm vụ và nội dung hoạt động của nhà nước. Chính trị phản ánh
cuộc đấu tranh của các giai cấp xung quanh vấn đề giành, giữ, sử dụng
chính quyền và cuối cùng do địa vị kinh tế của những giai cấp đó qui định.
Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế có nghĩa là: các tổ chức chính
trị, các hình thức nhà nước thay đổi và phát triển dựa trên cơ sở kinh tế của
xã hội. Nhưng như vậy không có nghĩa chính trị là biểu hiện thụ động của
kinh tế. Những quan hệ chính trị, những vấn đề chính trị có ảnh hưởng trở
lại mạnh mẽ đối với kinh tế hoặc là thúc đẩy hoặc là cản trở sự phát triển
kinh tế. Chính trị biểu hiện trên các tri thức được tích lũy trong quá trình


10

lịch sử và những quan hệ thực tế gắn với con người, với giai cấp với dân
tộc và với thời đại. Với tư cách là hệ thống các quan hệ xã hội hiện thực,
chính trị có tính khách quan, không thuần túy phụ thuộc vào ý chí chủ quan
của cá nhân hoặc của đảng này đảng khác. Với tư cách là một thiết chế xã
hội, chính trị luôn luôn tìm cách dẫn dắt xã hội theo tư tưởng của giai cấp
nắm quyền thống trị xã hội.
Như vậy, có thể hiểu chính trị theo một khái niệm tổng quát như
sau: Chính trị là những vấn đề về điều hành bộ máy nhà nước hoặc những
hoạt động của giai cấp, chính đảng nhằm giành hoặc duy trì quyền điều
hành nhà nước.
Ngoài ra, còn có các định nghĩa khác về chính trị như: chính trị là
một hoạt động, hoạt động cai trị con người, của một tập đoàn hoặc của một
cá nhân nhất định triển khai xung quanh quyền lực nhà nước, hoặc chính trị
là một loại quan hệ, quan hệ giữa các giai cấp, trước hết là các quan hệ kinh

hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung, hỗ trợ, thúc đẩy nhau cùng phát triển. Lý
luận Mác - Lênin chính là một điển hình về tính thống nhất, chặt chẽ và
tính lô gíc. Do đó nó là khoa học về những qui luật chung, phổ biến đang
vận động trong giới tự nhiên, xã hội và tư duy con người.
Nhờ có tính trừu tượng hóa, khái quát hóa của lý luận mà tư duy
con người không ngừng tìm tòi, sáng tạo ra những cái mới khoa học đáp
ứng những nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của thực tiễn.
Hai là: Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Đây là nguyên tắc
cơ bản của lý luận khoa học nói chung và của chủ nghĩa Mác - Lênin nói
riêng. Lý luận xét đến cùng là thuộc về lĩnh vực hoạt động tinh thần của xã
hội, còn thực tiễn thuộc về hoạt động vật chất. Theo lý luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin thì vật chất quyết định ý thức, hoạt động vật chất đóng vai trò
quyết định đối với hoạt động tinh thần. Khẳng định điều đó, Lênin viết:
"Thực tiễn cao hơn nhận thức (lý luận), vì nó có ưu điểm không những của
tính phổ biến mà cả của tính hiện thực trực tiếp" [21, tr. 230]. Tuy nhiên, lý
luận cũng đóng vai trò tác động trở lại tích cực đối với thực tiễn, đặc biệt
trong cách mạng xã hội chủ nghĩa: "Không có lý luận cách mạng thì cũng
không thể có phong trào cách mạng" [20, tr. 30]. Lý luận chính là kết quả
nhận thức của con người, nó có vai trò chỉ đạo, hướng dẫn thực tiễn do đó
nếu không có nhận thức đúng thì cũng không thể có hành động đúng.
Chính vì vậy, Đảng luôn nhấn mạnh đến vai trò kim chỉ nam của chủ nghĩa
Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn cách mạng của đất
nước.
Lý luận và thực tiễn luôn có mối quan hệ biện chứng, là điều kiện,
là tiền đề cho sự tồn tại và phát triển của nhau. Điều đó được Chủ tịch Hồ


15

Chí Minh nhấn mạnh: "Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên

[19, tr. 421].
Tính đảng đòi hỏi việc nghiên cứu lý luận chính trị phải xuất phát
từ tình hình, đặc điểm cụ thể của đất nước, từ thực tiễn chính trị của mỗi


18

nước, của thế giới, đưa ra những dự báo khoa học về sự phát triển của tình
hình, trên cơ sở đó đề ra được những giải pháp khoa học đúng đắn để giải
quyết, kịp thời bổ sung những vấn đề mới làm cho chủ trương, chính sách
của Đảng và Nhà nước ngày càng hoàn thiện, sát với thực tiễn cuộc sống.
Ngày nay, trước yêu cầu và nhiệm vụ mới, Đảng phải luôn đổi mới và tự
chỉnh đốn, trước hết phải không ngừng nâng cao trình độ trí tuệ, tính tiền
phong về lý luận bởi: "Chỉ đảng nào được một lý luận tiền phong hướng
dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong" [20, tr. 32].
Tóm lại: Để làm tròn vai trò lãnh đạo cách mạng trong giai đoạn
mới hiện nay, xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, Đảng phải không ngừng phát triển lý luận chính trị. Lý luận chính trị
đó phải thể hiện được trí tuệ của Đảng, của dân tộc và của thời đại, phải hội
tụ đầy đủ các đặc trưng, không chỉ mang tính khái quát, tính trừu tượng,
tính chính xác, chặt chẽ lô gíc mà còn phải đảm bảo sự thống nhất chặt chẽ
giữa lý luận và thực tiễn, giữa tính đảng và tính khoa học... Đó chính là lý
luận chính trị mác-xít, được xây dựng trên cơ sở của chủ nghĩa Mác - Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh, được trải nghiệm và khẳng định trong thực tiễn
cách mạng. Lý luận đó đã, đang và sẽ được những người cộng sản trên thế
giới bổ sung, phát triển bằng những luận cứ khoa học mới để không ngừng
hoàn thiện và luôn có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của xã hội.
1.1.2. Hoạt động lãnh đạo, quản lý của người cán bộ và vai trò
của lý luận chính trị đối với hoạt động của người cán bộ lãnh đạo,
quản lý cấp huyện

nội dung, hoạt động lãnh đạo là đề ra chủ trương, đường lối chung, phương
pháp triển khai, biện pháp thực hiện, còn hoạt động quản lý là xây dựng các
phương án, chỉ tiêu kế hoạch cụ thể, tổ chức lực lượng để thực thi nhiệm
vụ; về phương pháp, hoạt động lãnh đạo thường dùng phương pháp động
viên, giáo dục, thuyết phục nhằm phát huy tính tự giác của đối tượng, còn
hoạt động quản lý phương pháp là dùng mệnh lệnh có tính bắt buộc với
những chế tài biện pháp hành chính nhất định.


20

Do hoạt động lãnh đạo và hoạt động quản lý có những nội dung và
tính chất gần giống nhau nên người ta thường dùng cụm từ chung là lãnh
đạo, quản lý. Và như vậy hoạt động lãnh đạo đồng thời cũng thực hiện
chức năng quản lý và ngược lại hoạt động quản lý cũng thực hiện luôn
chức năng lãnh đạo. Đó là ở một số lĩnh vực và phạm vi tổ chức nhỏ hay
còn gọi là cấp cơ sở, cấp "vi mô"; còn ở những cấp cao như Trung ương
Đảng, Nhà nước, Chính phủ... hay còn gọi là cấp "vĩ mô" thì sự phân biệt
giữa hoạt động lãnh đạo và hoạt động quản lý trở nên rõ ràng hơn. Chẳng
hạn, đối với nước ta hiện nay đang thực hiện theo cơ chế: Đảng lãnh đạo,
Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Trong đó Đảng lãnh đạo bằng Cương
lĩnh, quan điểm, chủ trương đường lối; Nhà nước quản lý các lĩnh vực của
đời sống xã hội bằng hệ thống chính sách và pháp luật; còn nhân dân làm
chủ theo phương thức: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Tuy nhiên
giữa vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước không có sự tách
biệt mà luôn thống nhất với nhau, bổ sung lẫn nhau. Trong đó hoạt động
lãnh đạo là cơ sở, là tiền đề cho hoạt động quản lý, còn hoạt động quản lý
là bước tiếp theo của hoạt động lãnh đạo nhằm hiện thực hóa chủ trương
đường lối của Đảng thành chính sách và pháp luật của Nhà nước, trên cơ sở
đó triển khai và tổ chức quần chúng nhân dân thực hiện. Còn ở cấp cơ sở

Trên cơ sở xác định vị trí, vai trò của cán bộ lãnh đạo, quản lý các
cấp như trên thì đối với cấp huyện luận văn này xác định cán bộ lãnh đạo,
quản lý bao gồm: Bí thư, Phó Bí thư huyện ủy, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội
đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân huyện, Trưởng các ban của Đảng; các
tổ chức đoàn thể và Trưởng các phòng chức năng thuộc khối chính quyền.
Người cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện đóng vai trò là khâu
trung gian, là cầu nối trong quy trình lãnh đạo, quản lý thống nhất từ Trung
ương đến cơ sở. Với vị trí ấy, hoạt động lãnh đạo, quản lý nhất là của cán
bộ chủ chốt cấp huyện vừa mang tính chất định hướng chung, vừa mang
tính thực tiễn - cụ thể.
Cán bộ chủ chốt cấp huyện là những người nòng cốt, giữ những
chức vụ cao nhất, quan trọng nhất trong những tổ chức của hệ thống chính


22

trị. Họ là những người xây dựng chủ trương, đề ra chính sách, quyết định
phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được giao.
Hoạt động lãnh đạo, quản lý cấp huyện là nhằm định hướng cho cấp
xã, cũng như các phòng, ban chuyên môn: nông - lâm nghiệp và phát triển
nông thôn, tài chính kế hoạch, giáo dục, văn hóa, y tế, quốc phòng, an ninh,
tư pháp... tiếp thu, triển khai thực hiện đúng đắn, kịp thời và có hiệu quả
những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà
nước, những chỉ thị, nghị quyết, quyết định... của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân
dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, huyện trên địa bàn của huyện. Thông qua đó
phát hiện ra những cái được và chưa được trong chủ trương đường lối,
chính sách, kiến nghị cấp trên kịp thời điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện chủ
trương đường lối, chính sách về mọi mặt, ngày càng đáp ứng được với yêu
cầu và nguyện vọng của nhân dân. Như vậy, hoạt động lãnh đạo, quản lý
cấp huyện nếu được thực hiện tốt sẽ góp phần nâng cao hiệu quả lãnh đạo,

môn thuộc nhiều địa bàn khác nhau thành một tổng thể các quan hệ ở tầm
khái quát cao. Song mỗi huyện đều có những đặc thù riêng, đặc biệt những
huyện vùng cao, vùng dân tộc thiểu số, địa hình phức tạp trình độ dân trí
thấp, còn nặng nề những phong tục tập quán lạc hậu... đòi hỏi người cán bộ
lãnh đạo, quản lý cấp huyện phải hết sức tường tận những cái riêng của địa
bàn mà mình lãnh đạo, chỉ đạo phát huy cái riêng, thế mạnh đó một cách có
trọng tâm trọng điểm.
Bản chất của hoạt động lãnh đạo, quản lý là sự điều khiển và đối
tượng của sự điều khiển đó là những con người cụ thể có trình độ tri thức,
có năng lực, có nguyện vọng, tâm tư tình cảm, mục đích riêng. Do vậy,
người lãnh đạo, quản lý cần phải có phương pháp tác động, phải có kiến
thức tâm lý nhất định thì mới tập hợp, đoàn kết và phát huy được sức mạnh
tổng hợp. Phải biết sử dụng những nguyên tắc: "Thu phục nhân tâm", biết
đặt mình vào vị trí của người khác ở địa vị cấp dưới, hiểu được tâm tư


24

nguyện vọng và thấy được những khó khăn của họ từ đó có sự cảm thông,
động viên giúp đỡ họ để hoàn thành nhiệm vụ. Đặc biệt trong điều kiện
hiện nay phải biết phát huy quyền làm chủ của nhân dân, làm sao để
phương châm: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra không chỉ trên lý
thuyết mà phải trở thành thực tế trong hiện thực sinh động của cuộc sống.
Có như vậy mới phát huy được trí tuệ tập thể, sức mạnh tổng hợp của nhiều
lĩnh vực trong việc xây dựng các quyết định về lãnh đạo, quản lý và đề ra
được những giải pháp tối ưu nhất để tổ chức thực hiện. Đồng thời trong
hoạt động của mình, người cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện còn phải
biết thu nhận những thông tin từ đời sống thực tiễn, xử lý kịp thời những
thông tin đó một cách chính xác. Thường xuyên tạo được bầu không khí
dân chủ đoàn kết nhất trí cao trong cơ quan, đơn vị và cả địa bàn. Trên cơ

1.1.2.2. Vai trò của lý luận chính trị đối với hoạt động của người
cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện
Trong điều kiện hiện nay, tình hình chính trị trong nước và trên thế
giới có nhiều diễn biến phức tạp, mặt trái của cơ chế thị trường đang tác
động mạnh đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, đòi hỏi người cán bộ
lãnh đạo, quản lý cấp huyện không chỉ có trình độ chuyên môn, năng lực
lãnh đạo, quản lý mà phải được đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ lý
luận chính trị, để có bản lĩnh chính trị vững vàng thì mới có thể đảm nhiệm
được trọng trách của mình. Vai trò của lý luận chính trị đối với người cán
bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện có thể khái quát bằng những nội dung chủ
yếu sau:
Một là, lý luận chính trị trang bị cho người cán bộ lãnh đạo, quản
lý cấp huyện sự hiểu biết cần thiết để nhận thức đúng đắn và tổ chức thực
hiện có hiệu quả những chủ trương đường lối của Đảng, chính sách và
pháp luật của Nhà nước tại địa phương.
Như đã đề cập ở phần trên, hoạt động của người cán bộ lãnh đạo,
quản lý có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của đơn vị, cộng đồng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status