LUẬN văn THẠC sĩ VAI TRÒ của KINH tế tư NHÂN TRONG PHÁT TRIỂN KINH tế và CỦNG cố QUỐC PHÒNG TRÊN địa bàn TỈNH VĨNH PHÚC HIỆN NAY - Pdf 40

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế tư nhân là một bộ phận hợp thành của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong suốt
thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta. Phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN là một trong những nội dung lớn của đường lối phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện
nay.
Trải qua hơn 16 năm thực hiện đường lối đổi mới, xây dựng đất nước, khu vực kinh tế tư
nhân đã chứng tỏ là lực lượng quan trọng của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước. Chính vì vậy, nó đã và đang thực sự trở thành vấn đề thu hút
sự quan tâm của các nhà quản lý và các nhà nghiên cứu trong việc đánh giá đúng vai trò, xu
hướng phát triển của kinh tế tư nhân cả trên phương diện lý luận và thực tiễn; trên cơ sở đó làm
cho kinh tế tư nhân tham gia có hiệu quả vào quá trình thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN hiện nay.
Để đáp ứng với đòi hỏi của thực tiễn, ngày 18/ 3/ 2002, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khoá IX đã ra Nghị quyết: " Về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến
khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân”. Đây là lần đầu tiên Đảng Cộng sản
Việt Nam có Nghị quyết riêng để chỉ đạo và có các giải pháp tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân
phát triển mạnh và đúng hướng trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta.
Với lợi thế là một tỉnh nằm kề tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng- Quảng Ninh, gần sân
bay quốc tế Nội Bài, có đường sắt Hà Nội - Lào Cai và quốc lộ số 2 chạy qua, Vĩnh Phúc đã và
đang nỗ lực phấn đấu, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế trong đó có kinh tế tư nhân phát
triển, đáp ứng nhu cầu công cuộc xây dựng kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng của tỉnh.
Song trong thực tế, nhận thức của các tầng lớp nhân dân trên địa bàn về vai trò của kinh tế
tư nhân trong sự phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng vẫn chưa có được một sự thống
nhất cao. Do vậy mà còn không ít rào cản sự phát triển kinh tế tư nhân trong thực tế ở Vĩnh
Phúc. Để góp phần tạo ra sự chuyển biến mới trong nhìn nhận, đánh giá vai trò của kinh tế tư
nhân, tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay phát triển, tác giả chọn đề tài “
Vai trò của kinh tế tư nhân trong phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng trên địa bàn
tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp cao học.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài

+ Thời gian khảo sát thực trạng từ năm tái lập tỉnh (1997) cho đến nay.
4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu


- Cơ sở lý luận
Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh; đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về nền kinh tế nhiều thành phần
trong thời kỳ quá độ lên CNXH và các quan điểm về bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Bên cạnh
đó, đề tài còn dựa vào các văn kiện của Đảng uỷ, UBND tỉnh Vĩnh Phúc về những vấn đề liên
quan.
- Cơ sở thực tiễn
Tác giả đã khai thác các số liệu phản ánh sự phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh
Vĩnh Phúc được thể hiện trong các văn kiện của cấp uỷ, UBND tỉnh và một số huyện; cơ quan
quân sự tỉnh, một số huyện về những vấn đề mà luận văn quan tâm. Mặt khác, luận văn còn dựa
vào kết quả khảo sát của tác giả trong quá trình đi thực tế ở tỉnh Vĩnh Phúc tháng7/2003
- Phương pháp nghiên cứu
Ngoài những phương pháp chung trong suốt quá trình nghiên cứu các môn khoa học xã hội
và nhân văn như: chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, các phương pháp sử
dụng trong khoa học kinh tế, luận văn còn chú trọng phương pháp lôgíc, lịch sử, phân tích tổng
hợp, thống kê, so sánh, phỏng vấn trao đổi.v.v…
5. Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác tuyên truyền
trong tỉnh; đồng thời có thể làm tư liệu tham khảo trong giảng dạy môn Kinh tế chính trị ở các
nhà trường đào tạo của tỉnh và học viện, nhà trường trong quân đội.
6. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm 2 chương, 4 tiết, phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các
phụ lục.

Chương 1
KINH TẾ TƯ NHÂN - LỰC LƯỢNG QUAN TRỌNG TRONG PHÁT

kiểu gia trưởng, sản xuất hàng hoá nhỏ, chủ nghĩa tư bản tư nhân, chủ nghĩa xã hội


[22, 248]. Sự tồn tại nhiều TPKT trong thời kỳ quá độ đặt ra yêu cầu phải thực hiện
những chính sách phù hợp để khai thác tối đa nguồn lực xã hội cho công cuộc kiến
thiết đất nước. Chính sách kinh tế mới( NEP) do V.I.Lênin đề xướng và tổ chức
thực hiện ở nước Nga những năm 20 của thế kỷ XX đã tạo điều kiện và môi trường
phù hợp để các TPKT, trong đó có các hình thức kinh tế tư nhân phát triển đáp ứng
nhu cầu của công cuộc khôi phục kinh tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga
lúc bấy giờ. Theo V.I. Lênin, sự tồn tại của nhiều TPKT trong thời kỳ quá độ lên
CNXH không phải là đặc điểm riêng của nước Nga.
Như vậy, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin tuy chưa đưa ra thật
ngữ" kinh tế tư nhân" nhưng họ đã khẳng định sự tồn tại khách quan của sở hữu tư
nhân về tư liệu sản xuất và của các hình thức kinh tế dựa trên chế độ tư hữu. Các
hình thức kinh tế này đã tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất và tiếp tục còn
tồn tại trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Do vậy, cần phải đánh giá đúng vị trí, vai
trò của kinh tế tư nhân để từ đó có chính sách sử dụng, khuyến kích nó phát triển
phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN ở nước ta. Đó cũng
chính là cơ sở lý luận quan trọng để khẳng định sự tồn tại của kinh tế tư nhân trong
thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta nói chung, ở tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng.
Hiện nay trên thế giới, khái niệm kinh tế tư nhân được sử dụng rộng rãi trong
cụm từ " khu vực kinh tế tư nhân ". Theo thông lệ của thống kê quốc tế, nền kinh tế
của các quốc gia thường được chia thành 2 khu vực: khu vực kinh tế nhà nước và
khu vực kinh tế tư nhân. Khu vực kinh tế nhà nước bao gồm toàn bộ kết quả hoạt
động kinh tế của các đơn vị thuộc sở hữu nhà nước hoặc các doanh nghiệp mà Nhà
nước nắm trên 50% cổ phần. Số còn lại thuộc khu vực kinh tế tư nhân. Như vậy, nội
dung của kinh tế tư nhân rất rộng cả về hình thức sở hữu và ngành nghề mà các chủ
thể đó tham gia vào sản xuất, kinh doanh.
Nghiên cứu các chính sách phát triển kinh tế của Trung Quốc có thể thấy,
nhận thức về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân ở Trung Quốc trong từng thời kỳ có

hoạt động giao thông có động cơ, bán xỉ một số sản phẩm nông nghiệp và sản
phẩm công nghiệp.
- Đối tượng được phép hoạt động phải là những người không hoạt động trong
lĩnh vực nông nghiệp, chưa có việc làm và cán bộ nghỉ hưu.
- Quy mô: Nhìn chung chỉ được phép hoạt động ở quy mô gia đình nhưng
không được thuê quá 5 công nhân.
- Đất đai: Chính quyền địa phương tạo điều kiện cho những đối tượng được
phép hoạt động dưới hình thức mượn hoặc thuê.
- Về cung ứng vật liệu và giá cả: Nguồn cung ứng có thể từ phía nhà nước
hoặc trên thị trường; nếu sử dụng đầu vào không do nhà nước cung ứng, thì sản
phẩm có thể bán theo giá thị trường.
- Tài chính: Đối tượng được phép hoạt động có thể mở tài khoản hoặc vay
ngân hàng, có thể xin miễn thuế trong trường hợp kinh doanh khó khăn.
- Bảo vệ tài sản và địa vị xã hội: Nhà nước bảo vệ thu nhập và tài sản hợp
pháp của cá thể; họ có đủ quyền như công dân bình thường.
Từ năm 1988, khái niệm " kinh tế tư nhân" đã chính thức có mặt trong các
Văn kiện của nhà nước Trung Quốc. Tháng 4/1988 Đại hội đại biểu nhân dân toàn
quốc đã thông qua Hiến pháp sửa đổi, mà điều 11 của Hiến pháp đã khẳng định: "
Nhà nước Trung Quốc cho phép kinh tế tư nhân được tồn tại và phát triển trong
phạm vi luật pháp quy định. Kinh tế tư nhân là một thành phần bổ xung cho kinh tế
nhà nước xã hội chủ nghĩa. Nhà nước bảo vệ những quyền và thu nhập hợp pháp
của Doanh nghiệp tư nhân và có sự hướng dẫn, giám sát, điều chỉnh đối với kinh tế
tư nhân ". Tháng 6/1988, Hội đồng nhà nước đã có quy định tạm thời về Doanh
nghiệp tư nhân, trong đó xác định: Doanh nghiệp tư nhân là một tổ chức hoạt động
vì lợi nhuận, do tư nhân sở hữu và thuê 8 công nhân trở lên. Bản Hiến pháp sửa đổi
3/1999 cũng đã khẳng định:" Kinh tế tư nhân và kinh tế cá thể là những thành phần


quan trọng trong nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc ". Thừa
nhận tầm quan trọng của kinh tế tư nhân và khuyến khích kinh tế tư nhân phát

nhà nước nhưng loại trừ doanh nghiệp tập thể. Định nghĩa này dựa trên sự phân
loại rõ hình thức sở hữu, nhưng không loại trừ hình thức sở hữu của tư nhân nước
ngoài.
4. Khu vực kinh tế tư nhân trong nước: Bao gồm các đối tượng không thuộc
sở hữu nhà nước nhưng loại trừ những doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài.
Định nghĩa này khắc phục được hạn chế của định nghĩa thứ 3, nhưng không khác
mấy định nghĩa thứ nhất.
5. Doanh nghiệp tư nhân: Bao gồm những đối tượng không thuộc sở hữu nhà
nước nhưng loại trừ những hộ cá thể (doanh nghiệp có ít hơn 8 công nhân) hay gọi
là hộ công thương cá thể. Định nghĩa này chỉ bảo vệ loại hình doanh nghiệp mà
không trực tiếp đi vào luận bàn khái niệm kinh tế tư nhân và còn lẫn với doanh
nghiệp tập thể.
Sự tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về kinh tế tư nhân nói trên chứng tỏ
việc đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về kinh tế tư nhân không phải là dễ, do tính
phức tạp của chính các đơn vị kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân trong nền kinh tế
nhiều thành phần đang còn vận động phức tạp. Tuy nhiên hiện nay ở Trung Quốc
đã có sự phân biệt rất rõ kinh tế hộ cá thể và doanh nghiệp tư nhân với ranh giới ấn
định là 8 công nhân. Đây là điều khác với nước ta. Đồng thời ở Trung Quốc cũng
đã có bộ luật hoàn chỉnh cho cả doanh nghiệp cá thể, doanh nghiệp tư nhân, công
ty hợp doanh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần làm cơ sở pháp lý cho
sự phát triển của kinh tế tư nhân.
Ở nước ta, cho đến trước khi có Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khoá IX về kinh tế tư nhân thì sự bàn luận về khái niệm


kinh tế tư nhân khá rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên các diễn
đàn khoa học và chưa có được sự thống nhất. Khái niệm kinh tế tư nhân lúc thì
được đặt trong cụm từ "Khu vực kinh tế tư nhân" lúc được dùng với cụm từ
"Thành phần kinh tế tư nhân". Ngay trong các Niên giám thống kê hiện nay (của
quốc gia hoặc các địa phương) cũng thường sử dụng hai cách phân loại:

tư nhân.
Trong các Văn kiện của Đảng ta, khái niệm kinh tế tư nhân cũng đã xuất hiện
trong các Văn kiện của Đại hội đại biểu Đảng lần thứ VI, VII khi xác định 5 thành
phần kinh tế của nước ta là: Kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế gia đình,
kinh tế tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước. Nhưng đến các Đại hội VIII và IX của
Đảng, khái niệm này không được nói đến trong hệ thống các TPKT mà được xác
định cụ thể là kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân.
Trên cơ sở tổng kết 15 năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước và tiếp tục
cụ thể hoá đường lối do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đề ra, Hội
nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX đã ra Nghị quyết "Về tiếp
tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư
nhân", trong đó đã xác định rõ quan niệm của Đảng ta về kinh tế tư nhân, vai trò,
vị trí của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và những
chủ trương giải pháp tháo gỡ cơ chế, chính sách nhằm khuyến khích kinh tế tư
nhân phát triển. Đây là lần đầu tiên Đảng ta có một Nghị quyết riêng lãnh đạo việc
phát triển kinh tế tư nhân trong công cuộc xây dựng CNXH. Sự ra đời của Nghị
quyết Trung ương 5 đã giải quyết một cách cơ bản về những nhận thức, đánh giá
về kinh tế tư nhân và các giải pháp tạo điều kiện để kinh tế tư nhân phát triển, đóng
góp thiết thực vào thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược trong thời kỳ mới.


Trước hết, về khái niệm kinh tế tư nhân, Nghị quyết Trung ương 5 đã nêu rõ:
"Kinh tế tư nhân bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân hoạt
động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp của tư
nhân đã phát triển rộng khắp trong cả nước"[16, 55]. Theo đó, khái niệm kinh tế tư
nhân được sử dụng với tư cách là một khu vực kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân về
tư liệu sản xuất, hoạt động dưới các hình thức tổ chức kinh doanh như: Doanh
nghiệp tư nhân, Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty hợp doanh,
các hộ kinh doanh cá thể. Các Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp của các tổ chức
chính trị - xã hội khi chuyển đổi thành Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần

sản xuất kinh doanh. Do vậy, xét về mặt kinh tế việc phân định rạch ròi thành phần
kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân trong điều kiện hiện nay là chưa
cần thiết mà cứ để chung chúng vào khái niệm kinh tế tư nhân là đủ. Trong thực
tiễn việc chủ sở hữu tư nhân lựa chọn mô hình tổ chức sản xuất, kinh doanh nào để
thực hiện kinh doanh theo khuôn khổ của pháp luật là quyền của họ. Nếu quy mô
sở hữu nhỏ, người chủ sở hữu có thể lựa chọn loại hình hộ kinh doanh cá thể (đăng
ký kinh doanh theo tinh thần Nghị định 66 của HĐBT); nếu quy mô sở hữu lớn
hơn, thì có thể lựa chọn loại hình Doanh nghiệp tư nhân, hoạt động theo Luật
Doanh nghiệp; còn nếu muốn mở rộng quy mô kinh doanh, các chủ sở hữu sẽ liên
kết với nhau dưới hình thức Công ty cổ phần. Điều này hoàn toàn phù hợp với sự
khẳng định của Đảng ta trên văn bản cũng như trên thực tế: các doanh nghiệp
không phân biệt các hình thức sở hữu và các TPKT đều bình đẳng trước pháp luật;
Nhà nước có trách nhiệm tạo những điều kiện thuận lợi để thúc đẩy, huy động các
nguồn lực vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước theo yêu cầu bảo đảm tăng
trưởng, ổn định và công bằng.
Về vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN của nước ta, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5, khoá IX


cũng đã khẳng định rằng: "Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của
nền kinh tế quốc dân, phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong
phát triển kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa" [16, 57]. Vai trò
của nó đã được khẳng định là: "Đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế, huy
động các nguồn lực xã hội vào sản xuất kinh doanh, tạo thêm việc làm, cải thiện
đời sống nhân dân, tăng ngân sách nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị xã hội của đất nước. Cùng với các thành phần kinh tế khác, sự phát triển của kinh
tế tư nhân đã góp phần giải phóng lực lượng sản xuất, thúc đẩy phân công lao động
xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát
triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng thêm số lượng công nhân
lao động và doanh nhân Việt Nam, thực hiện các chủ trương xã hội hoá y tế, văn hoá,
giáo dục".v.v… [16, 55, 56]. Như vậy, kinh tế tư nhân ở nước ta từ chỗ chỉ được


TT
1.

Nông, lâm, thuỷ sản

1,5%

2.

Công nghiệp, xây dựng

55,9%

3.

Dịch vụ

42,6%

Nguồn: Cục thống kê Vĩnh Phúc Đánh giá tình hình phát triển kinh tế tư nhân
sau 3 năm (2000-2002) thực hiện Luật Doanh nghiệp ở Vĩnh Phúc [9, 1].
Biểu 1.1 cho thấy các doanh nghiệp tư nhân tập trung vào hai ngành chính là
công nghiệp, xây dựng và dịch vụ.
- Các Doanh nghiệp tư nhân đã mạnh dạn bỏ vốn đầu tư phát triển sản xuất
kinh doanh ở nhiều lĩnh vực.
Tại thời điểm ngày 31/12/2001 tổng vốn sản xuất kinh doanh của các Doanh
nghiệp thuộc kinh tế tư nhân là 772,8 tỷ đồng, gấp 2,2 lần so với lượng vốn mà các



- Ngày càng có nhiều cơ sở kinh tế tư nhân làm ăn có hiệu quả, đóng góp
đáng kể cho ngân sách tỉnh.
Năm 2000, điều tra hoạt động của 132 doanh nghiệp cho thấy: có 122 doanh
nghiệp có lãi, chiếm 92,4%; 3 Doanh nghiệp hoà vốn, chiếm 2,3% và 7 doanh nghiệp
lỗ, chiếm 5,3%. Tổng tích luỹ tài chính đạt 18.154 triệu đồng, trong đó lợi nhuận là
9.594 triệu đồng và 8.560 triệu đồng là thuế sản xuất. Tích luỹ bình quân một lao
động đạt 7,43 triệu đồng (Doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh là 3,59 triệu
đồng); lợi nhuận bình quân cho một lao động đạt 3,93 triệu đồng (Doanh nghiệp nhà
nước là 630 nghìn đồng). Nộp ngân sách bình quân của Doanh nghiệp tư nhân là 3,5
triệu đồng/ người (Doanh nghiệp nhà nước là 5,08 triệu đồng). Nếu tính trên vốn, các
doanh nghiệp thuộc kinh tế tư nhân cứ đầu tư 1000 đồng tiền vốn thì tích luỹ tài chính
được 60 đồng (Doanh nghiệp nhà nước là 49 đồng), sinh lời được 30 đồng ( Doanh
nghiệp nhà nước là 10 đồng). Như vậy, so với doanh nghiệp nhà nước thì hiệu quả sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc kinh tế tư nhân cao hơn [9, 2-3] và [10,
4].
Năm 2001, các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân nộp ngân
sách nhà nước được gần 36 tỷ đồng; bình quân một doanh nghiệp nộp 132,3 triệu
đồng; bình quân một lao động nộp 7,8 triệu đồng, tăng 2,2 lần so với năm 2000.
Các khoản nộp ngân sách của kinh tế tư nhân năm 2002 đạt gần 50 tỷ đồng, chiếm
31,6% nguồn thu từ kinh tế của địa phương, chiếm 3,1% tổng thu ngân sách trên
địa bàn [ 9, 3].
- Tuy nhiên, sự phát triển của kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh từ khi tái lập
cho đến nay vẫn bộc lộ nhiều hạn chế, tập trung chủ yếu ở những mặt sau:
Một là: Cơ cấu và phân bố cơ sở kinh tế tư nhân còn bất hợp lý.


Số cơ sở kinh tế tư nhân hoạt động theo ngành kinh tế, nhất là doanh nghiệp
quá tập trung vào ngành xây dựng ( chiếm 36,8%) và ngành thương nghiệp (chiếm
31,5%); số cơ sở sản xuất, chế biến nông, lâm, thuỷ sản còn rất ít (chỉ chiếm 1,5%
trong tổng số các doanh nghiệp).


Xuyên
5

.

Lập

Dương
4

.

Huyện

Thạch
3

.

Thị xã Vĩnh Yên

Huyện

Tường

Vĩnh

Chia ra
Ngoài nhà

.

HuyệnYên Lạc

14

14

Huyện Mê Linh

36

34

2

Nguồn: Cục thống kê Vĩnh Phúc, Niên giám thống kê Vĩnh Phúc, năm 2001,
Nxb Thống kê, H.2002[12, 30].
Hai là: Doanh nghiệp tư nhân đăng ký quá nhiều ngành và lĩnh vực kinh
doanh trong điều kiện vốn sản xuất kinh doanh không lớn nên đầu tư dàn trải, tính
chuyên môn hoá thấp, gây khó khăn cho công tác quản lý của các cơ quan chức
năng. Nếu trước đây, mỗi doanh nghiệp trung bình chỉ đăng ký 3 ngành và lĩnh vực
kinh doanh, thì nay trung bình là 5 ngành và lĩnh vực kinh doanh, cá biệt có doanh
nghiệp đăng ký tới 12 ngành và lĩnh vực kinh doanh [10, 5].
Ba là: Quy mô còn nhỏ bé, vốn sản xuất bình quân một doanh nghiệp đến
ngày 31/12/2001 đạt 2.841,3 triệu đồng so với năm 2000, giảm 14%; bình quân
một lao động là 146,6% triệu đồng, giảm 23,6%. Điều đó cho thấy: tuy số lượng
doanh nghiệp tăng cao nhưng đa số có quy mô nhỏ nên vốn sản xuất kinh doanh
bình quân giảm xuống. Xét về số lao động cũng thấy tình hình tương tự. Có 22%
doanh nghiệp sử dụng dưới 5 lao động; 25,8% sử dụng từ 5- 9 lao động; 40,9% sử

định của pháp luật. Nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ không thực hiện chế độ kế
toán. Riêng thực hiện chế độ báo cáo thống kê bằng văn bản cho ngành thống kê
của tỉnh mới đạt dưới 30% tổng số các doanh nghiệp [9, 5].
Tóm lại, sự phát triển của kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc những
năm 97-2002 đã có nhiều khởi sắc, khẳng định được vị trí, vai trò trong phát triển


kinh tế xã hội của tỉnh. Mặc dù sự phát triển đó còn có những hạn chế, mà nguyên
nhân một phần từ chính bản chất của các cơ sở kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân;
một phần là do thời gian để kinh tế tư nhân phát triển chưa dài, sự quản lý của Nhà
nước còn nhiều điểm chưa phù hợp… Tuy nhiên, mảng sáng của bức tranh kinh tế
tư nhân trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc vẫn là gam màu chủ đạo. Điều đó sẽ còn được
làm sáng tỏ trong phần phân tích vai trò của kinh tế tư nhân trong thực hiện hai
nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trên địa bàn tỉnh.
1.2.Vai trò của kinh tế tư nhân trong phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng trên
địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
1.2.1. Những căn cứ lý luận phân tích vai trò của kinh tế tư nhân trong phát triển kinh
tế và củng cố quốc phòng
Sự tồn tại khách quan của kinh tế tư nhân trong thời kỳ quá độ lên CNXH (xét trên phạm
vi cả nước cũng như trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc) đã được khẳng định từ Văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI và tiếp tục quán triệt ở các Đại hội VII,
VIII, IX. Theo đó, Đảng ta đã coi sự phát triển nhiều thành phần kinh tế là một chiến lược, một
chủ trương nhất quán nhằm khai thác tối đa mọi nguồn lực xã hội, phát huy sức mạnh đại đoàn
kết toàn dân thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN.
Thực trạng phát triển của kinh tế tư nhân trên phạm vi cả nước cũng như trên địa bàn Vĩnh
Phúc với gam màu tươi sáng là chủ đạo đã khẳng định trên thực tế vị trí, vai trò của kinh tế tư
nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Thế nhưng, trong thực tế không phải là
không có những đánh giá lệch lạc về vai trò của khu vực kinh tế này. Đã có những lạc quan quá
mức dẫn đến tô hồng sự phát triển của kinh tế tư nhân, phủ nhận vai trò chủ đạo của kinh tế nhà
nước, cổ vũ việc đẩy nhanh sự tư nhân hoá nền kinh tế, coi kinh tế tư nhân là đầu tàu, là động lực

sức mạnh của nền quốc phòng.
Sự phát triển của kinh tế thể hiện tập trung ở tốc độ tăng trưởng, cơ cấu ngành nghề và sản
phẩm, trình độ công nghệ, thu nhập quốc dân, chế độ kinh tế.v.v… sẽ là nhân tố chi phối mạnh
mẽ đến xây dựng các tiềm lực chính trị - tinh thần, kinh tế, khoa học - kỹ thuật, quân sự của nền
quốc phòng toàn dân. Trong khi không tuyệt đối hoá vai trò của nhân tố kinh tế đối vơí sức mạnh
quân sự của Nhà nước, Ph.Ăngghen và V.I Lênin đã hơn một lần nhấn mạnh sự phụ thuộc của
quân sự, quốc phòng vào kinh tế, đặc biệt là trong điều kiện chiến tranh hiện đại thì sự phụ thuộc
đó càng tăng lên.
Ba là, Nền quốc phòng mà chúng ta xây dựng là nền quốc phòng toàn dân, dựa vào sức
mạnh của toàn dân mà sức mạnh của nó là sức mạnh tổng hợp nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc
với tư duy mới:


"Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự
an toàn xã hội và nền văn hoá; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa;
bảo vệ sự nghiệp đổi mới và lợi ích quốc gia dân tộc" [ 15, ]. Theo tư duy này, việc xem xét vai
trò của kinh tế tư nhân trong sự phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng cần phải tính đến khả
năng khai thác và huy động sức dân cho công cuộc kiến thiết kinh tế và củng cố quốc phòng;
đồng thời cần tính đến cả những tác động trực tiếp và những tác động gián tiếp từ kinh tế đến tất
cả các lĩnh vực tạo thành nội dung bảo vệ Tổ quốc theo tư duy mới. Đó là sự tác động rất toàn
diện theo cả hai chiều hướng: tăng thêm điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp củng cố quốc phòng
và tạo ra những thách thức mới cho sự nghiệp ấy.
Tóm lại, ba luận điểm trên đây là những luận điểm cơ bản nhất làm chỗ dựa cho sự phân
tích vai trò của kinh tế tư nhân. Chỉ có thể dựa chắc trên những luận điểm cơ bản ấy, việc đánh
giá vai trò của kinh tế tư nhân trong sự nghiệp phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng mới
tránh khỏi những nhận định phiến diện.
1.2.2. Vai trò tích cực của kinh tế tư nhân trong phát triển kinh tế và củng cố quốc
phòng trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
Từ khi thực hiện chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, khu vực kinh tế tư nhân ở
nước ta đã được quan tâm phát triển. Chỉ thị 100/CT - TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status