Luận văn nghiên cứu vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện đại từ, tỉnh thái nguyên - Pdf 35

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÊ THỊ MINH

NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN
TRONG PHÁT TRIỂN KINH TÉ HỘ GIA ĐÌNH TẠI
HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN


LÊ THỊ MINH

NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN
TRONG PHÁT TRIỂN KINH TÉ HỘ GIA ĐÌNH TẠI
HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Phát triển nông thôn
Mã số: 60 62 01 16

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐINH NGỌC LAN


3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác.
Các số liệu trích dẫn trong quá trình nghiên cứu đã được trích dẫn và ghi rõ nguồn gốc.

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn tất cả sự giúp đỡ quý báu của các tập thể và cá nhân đã dành cho tôi.


4
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015 Tác giả luận văn

Lê Thị Minh


iii
MỤC LỤC


6
BQ

: Bình quân

BVTV

: Bảo vệ thực vật

HĐND
KTXH

: Hội đồng nhân dân
: Kinh tế xã hội

LHPN


: Ủy ban nhân dân

VSTBPN

: Vì sự tiến bộ phụ nữ


Bảng 1.1. Nữ trong các nhóm tuổi từ năm 2012 - 2014 tỉnh Thái Nguyên .... 18 Bảng 1.2:
Phụ nữ trong độ tuổi tham gia sinh hoạt đoàn thể tỉnh Thái

Hình 3.1. Cơ cấu sử dụng đất huyện Đại Từ năm 2014.....................................................33
Hình 3.2: Trình độ văn hoá của lao động nữ tại huyện Đại Từ năm 2014.........................47


8
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ ngàn xưa phụ nữ Việt Nam giữ một vị trí quan trọng trong lịch sử dựng nước và
giữ nước của dân tộc ta. Ngày nay, phụ nữ Việt Nam đang cùng tham gia vào công cuộc xây
dựng và bảo vệ đất nước. Các chị vừa là người vợ, vừa là người mẹ, người con trong gia
đình, các chị đang gánh trên vai cả trọng trách đối với gia đình và xã hội.
Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ X, nhiệm kỳ 2007 - 2012 đã đề ra 6
nhiệm vụ, trong đó có nhiệm vụ“ Giáo dục phẩm chất đạo đức, nâng cao năng lực, trình độ
của phụ nữ, hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế và xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ,
hạnh phúc“ có liên quan mật thiết đến việc nâng cao vai trò phụ nữ trong kinh tế hộ gia
đình. Tại đại hội đại biểu phụ nữ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XII, nhiệm kỳ 2011 - 2016 đã đề
ra khâu đột phá của nhiệm kỳ“ hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, tăng giàu, giảm nghèo, góp
phần xây dựng nông thôn mới“.
Đảng và Nhà nước ta ngày càng quan tâm phát huy vai trò của phụ nữ trong xã hội,

mọi mặt để phát triển kinh tế, tăng thu nhập, cải thiện đời sống gia đình, góp phần sự phát
triển kinh tế - xã hội huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

2.2.
-

Mục tiêu cụ thể

Hệ

thống hóa

cơ sở lý luận và thực

tiễn về vai trò của

phụ nữ trong

phát triển kinh tế hộ nông thôn miền núi

-

Phân tích và đánh giá được thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ ở nông
thôn.

-

Xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đóng góp của phụ nữ trong phát triển
kinh tế hộ nông thôn


Giới tính: chỉ sự khác biệt về sinh học giữa nam giới và phụ nữ mang tính toàn cầu và
không thay đổi [21]
Các đặc trưng của giới tính bị quy định và hoạt động theo các cơ chế tự nhiên, di
truyền. Nữ giới vốn có chức năng sinh lý học như tạo ra trứng, mang thai, sinh con và cho
con bú bằng bầu sữa mẹ. Nam giới có chức năng tạo ra tinh trùng. Về mặt sinh lý học, nữ giới
khác với nam giới
- Giới tính là bẩm sinh và đồng nhất, bị quy định và hoạt động theo các cơ chế tự
nhiên, di truyền.

Chẳng hạn

như: người có cặp NST giới tính XX thì

thuộc về nữ giới, người có cặp NST giới tính XY thì thuộc về nam giới. Ngay từ trong bào
thai, hoóc môn, nhiễm sắc thể, bộ phận sinh dục.. .của nam giới và nữ giới khác nhau, được
quy định bởi tự nhiên, không theo và không phụ thuộc vào mong muốn của con người. Đồng
thời, chức năng sinh sản của nữ giới hay nam giới là không thể thay thế, thay đổi hay chuyển
dịch cho nhau. [7]
Giới: chỉ sự khác biệt về xã hội và quan hệ (về quyền lực) giữa trẻ em trai và trẻ em
gái, giữa phụ nữ và nam giới, được hình thành và khác nhau ngay trong một
hóa,

giữa các

nền văn hóa và thay

đổi theo thời

nền


đảm

cứu

sự cân bằng

về giới và

để

bảo công bằng cho xã hội. [21]
Yếu tố “Giới” là sản phẩm của xã hội, có tính xã hội, dùng để phân biệt sự khác nhau
trong quan hệ nam và nữ, do vậy nó luôn biến đổi phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị,
xã hội cụ thể.

1.1.1.2.

Đặc điểm, nguồn gốc và sự khác biệt về giới
* Đặc điểm giới:

-

Không tự nhiên mà có

-

Học được từ gia đình và xã hội

-


họ gắn bó với con cái, gia đình hơn nam giới và cũng từ đó mối quan tâm của họ cũng có
phần khác nam giới.
Nam giới được coi là phái mạnh, là trụ cột gia đình. Họ cứng rắn hơn về tình cảm,
mạnh bạo và năng động hơn trong công việc. Đặc trưng này cho phép họ
tâm trí vào lao động

sản xuất., vào công việc

dồn

hết

xã hội,

ít bị

ràng buộc bởi con cái và gia đình. Chính điều này đã làm tăng thêm khoảng cách khác biệt
giữa phụ nữ và nam giới trong xã hội.
Hơn nữa, nam giới và nữ giới lại có xuất phát điểm không giống nhau để tiếp cận cái
mới, họ có những thuận

lợi, khó khăn với tính chất

và mức độ

khác nhau để tham gia vào các chương trình kinh tế, từ góc độ nhận thức, nắm bắt các thông
tin xã hội. Trong nền kinh tế hội nhập quốc tế, từ điều kiện và cơ hội được học tập, tiếp cận
việc làm và làm việc, từ vị trí trong gia đình, ngoài xã hội
định



Việc đáp ứng

các nhu

cầu


giới chiếnlược sẽ làm thay đổi sự

phân

công lao động, thay đổi vai trò và vị trí của giới.

*

Lợi ích giới (còn gọi là nhu cầu chiến lược): là những nhu cầu của phụ nữ và nam giới xuất
phát từ sự chênh lệch về địa vị xã hội của họ. Những lợi ích này khi được đáp ứng sẽ thay đổi
vị thế của phụ nữ và nam giới theo hướng bình đẳng [1]

* Bình đẳng giới:
-

Nam giới và nữ giới được coi trọng như nhau, cùng được công nhận và có vị thế bình đẳng
[1]

-

Khái niệm Bình đẳng giới: là môi trường trong đó cả nữ giới và nam
giới được hưởng vị trí ngang nhau, họ có các cơ hội bình đẳng để phát triển đầy đủ


nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của
mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của
sự phát triển đó. [16]

1.1.1.4.

Vai trò của giới
Trong cuộc sống, cả nam và nữ đều tham gia vào mọi hoạt động của đời sống xã hội,

tuy nhiên mức độ tham gia của nam và nữ trong các loại công việc là khác nhau do những
quan niệm, các chuẩn mực xã hội quy định. Những công việc mà họ đảm nhận được gọi là


vai trò giới. Các vai trò giới đa dạng (tùy thuộc vào vị trí và bối cảnh), thay đổi theo thời gian
(tương ứng với sự thay đổi của các điều kiện và hoàn cảnh) và thay đổi theo sự thay đổi trong
quan niệm xã hội

(tương ứng với việc chấp nhận hoặc không chấp nhận một

hành vi ứng xử vai trò nào đó).
Vai trò giới: là tập hợp các hành vi ứng xử mà xã hội mong đợi ở nam và nữ liên
quan

đến

những đặc

điểm giới tính và năng



1.2.1.
*

Khái niệm về phát triển và phát triển kinh tế

Phát triển: là quá trình thay đổi toàn diện nền kinh tế, bao gồm sự tăng thêm về quy mô sản
lượng, cải thiện về cơ cấu, hoàn thiện thể chế nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống [12]

* Phát triển kinh tế: có thể hiểu là quá trình lớn lên về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời
kỳ nhất định. Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu
kinh tế xã hội [6]

1.2.2.

Khái niệm về nông thôn
Nông thôn là vùng lãnh thổ của một Nhà nước hay một đơn vị hành chính nằm ngoài

lãnh thổ đô thị, có môi trường tự nhiên, hoàn cảnh kinh tế xã hội, điều kiện sống khác biệt
với thành thị và dân cư chủ yếu làm nông nghiệp [6]


1.2.3.

Khái niệm, đặc điểm hộ gia đình, kinh tế hộ nông dân

* Hộ gia đình: hay còn gọi đơn giản hộ là một đơn vị xã hội bao gồm một hay một nhóm người
ở chung (cùng chung hộ khẩu) và ăn chung (nhân khẩu). Đối với những hộ có từ 2 người trở
lên, các thành viên trong hộ có thể có hay không có quỹ thu chi chung hoặc thu nhập chung.
Hộ gia đình không đồng nhất với khái niệm gia đình, những người trong hộ gia đình có thể có


người có quan

hệ

hôn

huyết thống. Vì

vậy, khái niệm

đều

gồm

những

hộ thường được hiểu đồng

nghĩa với gia đình, nhiều khi được gộp chung thành khái niệm hộ gia đình.
* Hộ nông dân:
Theo Frank Ellis cho rằng: "Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự
kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình
để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự
tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo
cao”. [18]
Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (năm 1993): "Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là
hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn". [18]
Nhà khoa học Traianốp đưa ra định nghĩa: "Hộ nông dân là đơn vị sản xuất rất ổn
định ” và ông coi ”hộ nông dân là đơn vị tuyệt vời để tăng trưởng và phát triển nông

Hộ có nguồn thu nhập chủ yếu bằng nghề nông. Ngoài ra, hộ nông dân còn tham gia các hoạt
động phi nông nghiệp, chẳng hạn tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ... ở các mức độ
khác nhau.

-

Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu
dùng. Hộ nông dân phải phụ thuộc vào các hệ thống kinh tế lớn hơn của nền kinh tế quốc
dân. Các hộ nông dân càng phụ thuộc nhiều hơn vào các hệ thống kinh tế rộng lớn không chỉ
trong phạm vi một vùng, một nước khi trình độ phát triển lên mức cao của công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, thị trường, xã hội càng mở rộng và đi vào chiều sâu.
* Kinh tế hộ nông dân:
Hộ nông dân và kinh tế hộ nông dân là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học
nông nghiệp và phát triển nông thôn, vì tất cả các hoạt động nông nghiệp, phi nông nghiệp ở
nông thôn chủ yếu được thực hiện qua các hoạt động của hộ nông dân.
Theo Frank Ellis (1988): Các nông hộ thu hoạch các phương tiện sống từ đất, sử
dụng

chủ yếu lao động gia

đình trong

sản xuất nông trại, nằm


trong hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một
phần trong thị trường, hoạt động với một trình độ không hoàn chỉnh cao. [24]
Kinh tế hộ nông dân được phân biệt với các hình thức kinh tế khác trong nền kinh tế
thị trường bởi các đặc điểm sau:


việc. Thu nhập

của

phụ nữ

loại

bằng khoảng

công

50%-90% thu

nhập của nam giới [4].
Na Uy là đất nước dân số ít (4,5 triệu người) nhưng chỉ số phát triển con người (HDI)
và chỉ số phát triển giới (GDI) xếp thứ nhất thế giới. Na Uy có một hệ thống luật pháp đồng
bộ hướng tới mục tiêu bảo vệ quyền và lợi cho người phụ nữ. Chính phủ Na Uy rất quan tâm
đến vấn đề bình đẳng giới và coi đó là một trong bốn vấn đề trọng tâm phát triển. Là quốc gia
đầu tiên trên thế giới

cho phép phụ

nữ

được tham gia bầu cử

vào



nhiều hơn nam giới; trong lĩnh vực quản lý nhà nước, nam giới vẫn chiếm 86% và trong
chính quyền địa phương lãnh đạo nam vẫn trên 70%
xảy ra;

;

nạn

mại dâm được phép

bạo lực

vẫn

hoạt động

nhưng vẫn nhiều tình trạng xâm hại tình dục ... [10]
Tại Kenya, Zambia và Nigieria, gia đình nào có chủ hộ là nam giới thì khuyến nông
thường xuyên ghé thăm hơn.
Khoảng 40% phụ nữ Trinidad và Tobago chỉ biết đến các thông tin hay những lời
khuyên trong sản xuất cũng như các thông tin khác thông qua người chồng của mình. Còn ở
một số nước như Ân Độ, Thái Lan, Malaysia thì những thông tin đó được lấy tự họ hàng, bạn
bè và hàng xóm. Rất ít thông tin được trực tiếp chuyển đến người phụ nữ.
* Phụ nữ chiếm một tỷ trọng lớn trong lực lượng lao động: Tỷ lệ nữ tham gia hoạt
động kinh tế theo các nhóm tuổi rất cao. Một số tài liệu thống kê sau đây sẽ chứng minh cho
nhận định đó:


-


đang phát triển còn rất thấp. Ở các nước đang phát triển cho đến nay có tới 31,6% lao động
nữ không được học hành, 5,2% mới chỉ học xong phổ thông và 0,4% mới tốt nghiệp cấp hai.
Vì ít có điều kiện học hành nên những người phụ nữ này không có điều kiện tiếp cận một
cách bài bản với các kiến thức về công nghệ trồng trọt và chăn nuôi theo phương thức tiên
tiến, những kiến thức họ có được chủ yếu là do tự học từ họ hàng, bạn bè hay từ kinh nghiệm
của những người thân của mình. Một hạn chế lớn là những loại kinh nghiệm được truyền đạt
theo phương pháp này thường ít khi làm thay đổi được mô hình, cách thức sản xuất của họ
[4]

* Bất bĩnh đẳng giới mang tính phổ biến: Bất bình đẳng giới tồn tại ở hầu hết các nước đang
phát triển. Điều đó trước hết bắt nguồn từ tình trạng phụ nữ có trình độ học vấn thấp. Một
nguyên nhân khác không kém phần quan trọng là những định kiến xã hội không coi trọng phụ
nữ đã được hình thành ở hầu hết các nước đang phát triển. Do vậy, ngay cả khi phụ nữ có
bằng cấp cao và kỹ năng tốt thì những công việc họ làm vẫn không được ghi nhận một cách
xứng đáng.
Đấu tranh để đạt được sự bình đẳng thực sự giữa nam và nữ trong xã hội ta nói riêng


và trên thế giới nói chung là vấn đề lâu dài và còn nhiều khó khăn, thử thách. Đây là cuộc đấu
tranh giữa cái mới và cái cũ, cái tiến bộ và lạc hậu. Đất nước ta đã trải qua hàng ngàn năm
phong kiến, tư tưởng “Trọng nam khinh nữ” vẫn còn ăn sâu trong tiềm thức của một bộ phận
dân chúng, nhất là ở những vùng, miền còn nặng nề về hủ tục lạc hậu... Ngay tại các bộ,
ngành và những đơn vị hành chính, kinh tế lớn, vấn đề bình đẳng giới vẫn còn gặp những khó
khăn nhất định. Việc bồi dưỡng phát triển cán bộ nữ có lúc, có nơi còn bị hạn chế, một số đơn
vị kinh tế thậm chí không muốn nhận lao động nữ... Như vậy, mặc dù đã đạt được những
thành quả nhất định nhưng vấn đề bình đẳng về giới vẫn còn những bất cập mà chúng ta còn
phải tiếp tục phấn đấu để đạt được mục tiêu bình đẳng thật sự.

I.I.2.2.


-

Do quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, sắp xếp lại cơ cấu tổ chức của các doanh
nghiệp, đa số các lao động nữ ở các cơ quan, xí nghiệp bị giảm biên chế, không có việc làm
phải quay về nông thôn làm việc.

-

Ngoài ra, trong cơ chế thị trường, do sức cạnh tranh yếu nên nhiều hợp tác xã thủ công trên
địa bàn nông thôn cũng lâm vào tình trạng phá sản. Kết quả là công dân chủ yếu là nữ công


nhân thuộc các hợp tác xã thủ công này phải trở về nghề nông.

b. Vai trò của phụ nữ Việt Nam trong phát triển kinh tế hộ gia đình
Như đã tìm hiểu khái niệm về kinh tế hộ gia đình nông dân trong đó có phụ nữ tham
gia vào lĩnh vực này, hay nói cách khác phụ nữ nông dân cũng thể hiện rõ vai trò của mình
trong phát triển kinh tế hộ, nhất là khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa. “Theo quan điểm truyền thống của các dân tộc phương Đông, phụ nữ nông dân, dù
sống dưới chế độ chính trị nào đều có vai trò rất quan trọng đối với quá trình sản xuất, quản
lý đời sống gia đình. Ở nước ta phụ nữ nông dân là lực lượng lao động đông đảo nhất trong
các lực lượng lao động, đảm nhiệm phàn lớn công việc sản xuất và đời sống ở nông thôn, có
vị trí rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế hộ gia đình. Nhưng do quan niệm phong kiến
trọng nam khinh nữ, do tâm lý tự ti và do điều kiện khách quan rất hạn chế của nông thôn
Việt Nam, lực lượng
thiết để

lao động

đó

đó

đòi

hỏi

thức, kinh

nghiệm sản xuất, kinh doanh, biết tính toán sắp xếp kế hoạch làm ăn, tìm nguồn vốn và sử


dụng vốn, biết bố

trí phân công lao

động trong gia

đình,

nhạy bén với thị trường, dự kiến được những biến động khách quan... từ đó họ mớ có thể
thực hiện tốt vai trò là người chỉ huy đối với kinh tế hộ gia đình.
Phụ nữ nông dân ngày nay trong điều kiện mới có nhiều cơ hội và điều kiện để phát
huy vai trò của mình trong gia đình cũng như ngoài xã hội.
Thứ nhất,

là cơ chế chính sách

của Đảng và Nhà

nước Việt Nam

mẹ, làm vợ,

là người

chăm sóc cho

sống của gia đình

-

Trong sinh hoạt cộng đồng: phụ nữ tham gia hầu hết các hoạt động tại địa phương

cuộc


c. Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn
Phụ nữ luôn là người đống vai trò then chốt trong gia đình về khả năng sản xuất và
tái sản xuất. Sự nghiệp giải phóng phụ nữ đã đem lại cho xã hội nguồn nhân lực, trí lực dồi
dào và ngày càng phát triển. Vai trò của phụ nữ trong sự phát triển kinh tế nông thôn thể hiện
như sau:

-

Trong lao động sản xuất: phụ nữ là người làm ra phần lớn lương thực, thực phẩm tiêu dùng
cho gia đình. Đặc biệt các hộ nghèo sinh sống chủ yếu dựa vào kết quả làm việc của phụ nữ.

-

Ngoài việc tham gia vào lao động sản xuất đóng góp thu nhập cho gia đình, phụ nữ còn đảm
nhận chức năng làm vợ, làm mẹ . Họ phải làm hầu hết các công việc nội trợ chăm sóc con


72.482

81.749

2013

127.555

99.683

98.430

80.269

76.987

88.833

2014
124.379
100.982
96.558
80.799
79.580
­­­­­­­N­­­­­­­­­­­­­7—1­­­­­­­­­­­­­1­­­­­­­­­­­­­­­1­­­­­­­­­­­­­­1­­­­­­­­­­­­­­­
Nguồn: Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2012, 2013, 2014

65.587


so hộ
Phụ
g
PN 18t Tông
chiế

niê nữ
gia
dân
- già
n
n
đình
TP.T/Nguyên
6271
6135 117.95
352
5165
905
195
bin
0
0
3
12
9
6
9
TX S/Công
1239

8
0
0
97
Võ Nhai
1615
1632 23.349
459
11775
498
127
4
5
5
0
Phổ Yên
3513
3524 52.053
639
3061
105
593
1
0
1
3
00
Phú Lương
2817
2392 36.349

2
6
4
Cộng
285.79 279.58 436.73
812 224.90
752
437
0
8
2
41
0
73
1
\­ ­1­­7­­­­­­­1­7
1­­­­­­­­­­­1­­­­­­­­­1­­­­­­­­­­­1­­­­­­­­
Nguồn: Sô liệu thông kê Ban Dân vận tỉnh ủy năm 2014

CN
VC
2006
7
4718
6891
3515
1872
3956
4079
4405

tại những hủ tục lạc hậu, trọng nam khinh nữ đã kìm hãm tài năng sáng tạo của phụ nữ, hạn
chế sự cống hiến của họ cho xã hội và cho gia đình. Việc mang thai, sinh đẻ, nuôi dưỡng con
nhỏ và làm nội trợ gia đình đè nặng lên đôi vai người phụ nữ. Đây là trở ngại lớn cho họ tập
trung sức lực, thời gian, trí tuệ vào sản xuất và các hoạt động chính trị, xã hội. Vì vậy nhiều
chị em trở nên không mạnh bạo, không năng động sáng tạo bằng nam giới và gặp nhiều khó
khăn trong giao tiếp xã hội. Phong tục tập quán là một nguyên nhân cơ bản cản trở phụ nữ
tham gia vào quá trình phát triển kinh tế. [4]

*

Trình độ học vấn, chuyên môn, khoa học kỹ thuật của lao động nữ còn nhiều hạn chế
Ở nông thôn, đặc biệt là miền núi phương tiện thông tin nghe in kỹ nhìn và sách báo
đến với người dân còn rất nhiều hạn chế, do vậy việc lao động nữ tiếp cận và nắm bắt các
thông tin kỹ thuật về chăn nuôi, trồng trọt còn gặp nhiều khó khăn. Ngoài thời gian lao động
sản xuất, người phụ nữ giường như ít có thời gian nghỉ ngơi hoặc thụ hưởng văn hóa tinh
thần, học hỏi nâng cao về hiểu biết kiến thức xã hội mà họ phải giành phần lớn thời gian còn
lại cho công việc gia đình. Do vậy, phụ nữ bị hạn chế về kỹ thuật chuyên môn và sự hiểu biết
xã hội.
Phụ nữ ở độ tuổi lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật là 6% còn ở nam giới tỷ
lệ này là 10% [19]. Theo thông báo của Liên hợp quốc thì hiện nay trên thế giới còn hơn 840
triệu người bị mù chữ, trong đó nữ giới chiếm khoảng 2/3; trong số hơn 180 triệu trẻ em
không được đi học thì có tới 70% là trẻ em gái. Còn ở Việt Nam, theo thống kê cho thấy tỷ lệ
lao động nữ không qua đào tạo là rất cao, chiếm tới gần 90% tổng số lao động không qua đào
tạo trong cả nước; chỉ có 0,63% công nhân kỹ thuật có bằng là nữ, trong khi chỉ tiêu này của
nam giới là 3,46%. Tỷ lệ lao động nữ có trình độ đại học và trên đại học 0,016%, tỷ lệ này ở
nam giới là 0,077% (gấp 5 lần so với nữ giới) [11] . Điều đó cho thấy trình độ học vấn và



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status