Luận văn ThS. Kinh doanh và quản lý Nâng cao vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
o0o
NGUYỄN VĂN KIỀU N¢NG CAO VAI TRß CñA PHô N÷ N¤NG TH¤N
TRONG PH¸T TRIÓN KINH TÕ Hé GIA §×NH TR£N §ÞA BµN
HUYÖN NGHI LéC, NGHÖ AN

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ: 60340410

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGÔ QUANG MINH
XÁC NHẬN XÁC NHẬN
CỦA CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG CỦA GIÁO VIÊN HƢỚNG DẪN

PGS.TS Lê Danh Tốn PGS.TS Ngô Quang Minh

HÀ NỘI – 2015

i
LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin trân trọng cảm ơn PGS.TS. Ngô Quang Minh các thầy cô
giáo Trường đại học kinh tế, đại học Quốc gia Hà Nội đã hướng dẫn, chỉ bảo
tận tình, truyền đạt những kiến thức quan trọng trong quá trình giảng dạy; Các

HGĐ. 12
1.1.5. Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ nông thôn trong
phát triển kinh tế hộ gia đình. 15
1.2. Cơ sở thực tiến 18
1.2.1. Vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế HGĐ tại một
số Huyện liền kề. 18
1.2.2. Vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế HGĐ tại
Việt Nam. 20
CHƢƠNG 2: PHƢƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 24
2.1. Phương pháp nghiên cứu 24
2.1.1. Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu. 24
2.1.2. Phương pháp thu thập số liệu 24
2.1.3. Phương pháp xử lý số liệu 25
2.1.4. Hệ thống các chỉ tiêu phân tích 25
2.2. Địa điểm nghiên cứu 26
CHƢƠNG 3: THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN
TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH HUYỆN NGHI LỘC –
NGHỆ AN 27

iv
3.1. Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội 27
3.1.1. Ðặc điểm điều kiện tự nhiên 27
3.1.2. Đặc điểm thời tiết khí hậu, sông ngòi 28
3.1.3. Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai 29
3.1.4. Khả năng phát triển làng nghề truyền thống 29
3.2. Thực trạng vai trò phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế HGĐ trên
huyện Nghi Lộc. 30
3.2.1. Khái quát về thực trạng vai trò của phụ nữ trên địa bàn huyện. . 30
CHƢƠNG 4: GIẢI PHÁP VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ GIÚP NÂNG CAO
VAI TRÒ CỦA NGƢỜI PHỤ NỮ NÔNG THÔN TRONG PHÁT TRIỂN

Ban chấp hành
3
BTCB
Bí thư chi bộ
4
BVTV
Bảo vệ thực vật
5
CBCC
Cán bộ công chức
6
HĐND
Hội đồng nhân dân
7
HGĐ
Hộ gia đình
8
HTKT
Hệ thống kĩ thuật
9
KHCN
Kho học công nghệ
10
KHKT
Khoa hoạc kĩ thuật
11
LĐ – TBXH
Lao động – Thương Binh xã hội
12
LĐLĐ

21
THPT
Trung học phổ thông
22
TN
Thanh niên
23
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
24
Tp
Thành Phố
25
UBND
Ủy ban nhân dân vii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1.Địa điểm và số lượng mẫu điều tra 24
Biểu số 3.1: Cơ cấu dân số theo nhóm tuổi huyện Nghi Lộc 30
Biểu số 3.2: Cơ cấu lao động theo giới tính theo độ tuổi và khu vực huyện
Nghi Lộc 32
Biểu số 3.3: Thực trạng phụ nữ tham gia quyết định sản xuất và quản lý hộ. 35
Biểu số 3.4: Phân công lao động trong hoạt động trồng trọt 38
Biểu số 3.5: Phân công lao động trong hoạt động chăn nuôi. 44
Biểu số 3.6: Phân công lao động trong hoạt động sản xuất thương mại – dịch
vụ. 46
Biểu số 3.7: Nguồn tiếp cận thông tin của phụ nữ. 48

mới đất nước của Đảng, họ luôn giữ gìn, phát huy và nêu cao tinh thần yêu
nước, đoàn kết, năng động, sáng tạo, khắc phục mọi khó khăn để vươn lên
trong học tập, lao động, phấn đấu đạt những thành tích xuất sắc trên mọi lĩnh
vực.
Thế nhưng trong giai đoạn hiện nay khi chúng ta đang chủ trương thực
hiện bình đẳng giới vẫn có không ít phụ nữ bị đối xử bất công, chịu ảnh
hưởng của phong tục tập quán lạc hậu “trọng nam khinh nữ” bị ràng buộc
không có điều kiện tham gia các hoạt động của phụ nữ đặc biệt là tham gia
sản xuất và nắm trụ cột kinh tế trong gia đình. Tình trạng này xẩy ra khá phổ
biến tại các vùng nông thôn và vùng đồng bào dân tộc ít người.

2
Kinh tế hộ gia đình ( HGĐ) là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế
Việt Nam. Kể từ khi được thừa nhận là đơn vị kinh tế tự chủ ( năm 1988), sự
phát triển kinh tế hộ gia đình nông thôn đã có sự chuyển biển tích cực cả về
quy mô, tốc độ và cơ cấu. Đến nay, nhiều hộ gia đình đã đứng vững được
rong nền kinh tế thị trường, có tác động lớn đến sự nghiệp xóa đói giảm
nghèo của địa phương cũng như cả nước. Tuy vậy, dưới góc nhìn phát triển
bền vững, sự phát triển của kinh tế hộ vẫn còn nhiều hạn chế.
Nghi Lộc là một huyện đồng bằng thuộc tỉnh Nghệ An, cách trung tâm
Thành phố Vinh 10 km. Với tổng dân số khoảng 180.950 người vẫn đang trên
đà phát triển chính vì vậy vẫn còn tồn tại làng quê đan xen với đô thị hóa
chính vì vậy tư tưởng trọng nam khinh nữ tại đây vẫn còn tồn tại khá nhiều,
người phụ nữ đôi khi không được tham gia nhiều công tác xã hôi, thậm chí rất
ít được tham gia sử dụng các nguồn lực trong phát triển kinh tế hộ gia đình.
Với mong muốn tìm ra các giải pháp trên cơ sở nghiên cứu thực trạng về vai
trò của phụ nữ tại khu vực nông thôn huyện Nghi Lộc giúp nâng cao vai trò
của phụ nữ trong phát triển kinh tế HGĐ tôi quyết định lựa chọn đề tài “Nâng
cao vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên
địa bàn huyện Nghi Lộc – Nghệ An ” để nghiên cứu làm luận văn thạc sĩ của

4. Nội dung nghiên cứu.
Luận văn nghiên cứu những nội dung sau:
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát
triển kinh tế hộ gia đình .
- Thực trạng về vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ
gia đình nông thôn tại huyện Nghi Lộc .
- Những giải pháp nhằm phát huy vai trò của phụ nữ nông thôn trong
phát triển kinh tế nông thôn miền núi trên địa bàn huyện Nghi Lộc .

4
Kết cấu luận văn: Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài
liệu tham khảo, luận văn được kết cấu như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiến về vai trò của phụ nữ nông
thôn trong phát triển kinh tế hộ gia đình.
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và thiết kế luận văn.
Chương 3: Thực trạng vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát
triển kinh tế hộ gia đình huyện Nghi Lộc – Nghệ An.
Chương 4: Giải pháp giúp nâng cao vai trò của người phụ nư nông
thôn trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại huyện Nghi Lộc – Nghệ An. 5
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA
PHỤ NỮ NÔNG THÔN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA
ĐÌNH

1.1. Cơ sở lý luận về vai trò của phụ nữ nông thôn.
1.1.1.Một số khái niệm liên quan.
- Kinh tế HGĐ:

pháp luật, kinh doanh, cũng như về kinh tế thị truongwfraats hạn chế.
Tại Việt Nam, kinh tế HGĐ chủ yếu là kinh tế của các hộ gia đình nông
dân tại khu vực nông thôn. Xét theo cơ cấu nghành nghề, kinh tế hộ được
phân chia thành các loại: hộ thuần nông ( hoạt động trong liĩnh vực nông
nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp) hộ kiêm nghề ( vừa là nông nghiệp vừa là
thủ công nghiệp); hộ chuyên nghề ( hoạt động trong các ngành nghề dịch vụ).
Đến nay, kinh tế hộ gia đình đã trở thành một bộ phận quan trọng trong nền
kinh tế nhiều thành phần ở nước ta.
- Giới tính:
Chỉ sự khác biệt về sinh học giữa nam giới và nữ giới mang tính toàn
cầu và không thay đổi.
Các đặc tưng của giới tính bị quy định và hoạt động theo các cơ chế tự
nhiên, di truyền. Ví dụ, người nào có cặp nhiệm sắc thể giới tính XX thì
thuộc về nữ giới, người nào có cặp nhiễm sắc thể giới tính XY thì thuộc về
nam giới. Nữ giới vốn có chức năng sinh lý học như tạo ra trứng, mang thai,
sinh con và cho con bú bằng bầu sữa mẹ. Nam giới có chức năng tạo ra tinh
trùng. Về mặt sinh lý học, nữ giới khác với nam giới.
- Giới:

7
Chỉ sự khác biệt về xã hội và quan hệ (về quyền lực) giữa trẻ em trai và
trẻ em gái, giữa phụ nữ và nam giới, được hình thành và khác nhau ngay
trong một nền văn hoá, giữa các nền văn hoá và thay đổi theo thời gian. Sự
khác biệt này được nhận thấy một cách rõ ràng trong vai trò, trách nhiệm,
nhu cầu, khó khăn thuận lợi của các giới tính.
Khái niệm về "Giới" được xuất hiện ban đầu là các nước nói tiếng Anh,
vào khoảng những năm 60 của thế kỷ XX Ở Việt Nam, khái niệm này mới
xuất hiện vào khoảng thập kỷ 80.
“Giới” là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ môn nhân học, nói đến
vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ. "Giới"

+ Phụ nữ ít có điều kiện thụ hưởng các giá trị văn hóa tinh thần; bất bình
đẳng với nam giới trong việc tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực phát triển
kinh tế gia đình, cũng không phải là người quyết định những vấn đề quan
trọng của gia đình.
1.1.2. Vị trí, vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình.
1.1.2.1. Vị trí của phụ nữ trong gia đình và xã hội.
Trên toàn thế giới, phụ nữ đóng vai trò then chốt trong gia đình về khả
năng sản xuất và tái sản xuất. Họ chiếm trên 50% trong tổng số lao động; số
giờ lao động của họ chiếm 2/3 tổng giờ lao động của xã hội và sản xuất ra 1/2
trong tổng sản lượng nông nghiệp. Cùng với việc đảm nhiệm nhiều công việc
khác nhau, lao động nữ chiếm tỷ lệ ngày càng cao trong các ngành công
nghiệp, dịch vụ với trình độ không ngừng được nâng cao.
Theo kết quả của những công trình nghiên cứu trước cho biết: Phụ nữ là
người tạo ra phần lớn lương thực tiêu dùng cho gia đình, 1/4 số hộ gia đình
trên thế giới do nữ làm chủ hộ và nhiều hộ gia đình khác phải phụ thuộc vào
thu nhập của lao động nữ [5]. Tuy vậy, sự bất bình đẳng vẫn còn tồn tại ở rất

9
nhiều nước trên thế giới. Đặc biệt là ở các vùng nông thôn, phụ nữ bị hạn chế
về mọi mặt, đời sống, điều kiện sống và làm việc tồi tàn, địa vị trong xã hội
thấp. Trong số hơn 1,3 tỷ người trên thế giới ở trong tình trạng nghèo khổ thì
có đến 70% là nữ. Có ít nhất 1/2 triệu phụ nữ tử vong do các biến chứng về
mang thai, sinh đẻ.
Ở Việt Nam ngày nay, phụ nữ chiếm 50,5% dân số và gần 50% lực
lượng lao động xã hội, ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia vào hầu hết các
lĩnh vực của đời sống xã hội và giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máy
Nhà nước. Hiện có tới 24,4% đại biểu nữ trong Quốc hội tỷ lệ nữ tốt nghiệp
đại học là 36,24%; thạc sỹ 33,95%; tiến sỹ 25,69%.
Tuy nhiên, so với con số trung bình theo quy định của Quốc tế tỷ lệ lao
động nữ là đại biểu Quốc hội của Việt Nam chưa đạt và có xu hướng giảm

trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế- xã hội, trong bước tiến của nhân
loại. Phụ nữ cùng lúc phải thực hiện nhiều vai trò, cho nên họ cần được chia
sẻ, thông cảm cả về hành động lẫn tinh thần, gia đình và xã hội cũng cần có
những trợ giúp để họ thực hiện tốt hơn vai trò của mình.
1.1.3. Đặc điểm phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế HGĐ.
Phụ nữ nông thôn Việt Nam có những đặc điểm sau:
- Là lực lượng đông đảo nhất trong cơ cấu dân cư, cơ cấu lao động ở
nông thôn. Từ xa xưa phụ nữ nông thôn Việt Nam đã có vai trò to lớn trong
sản xuất thời bình và thời chiến trong mọi ngành nghề khác nhau đều có sự
tham gia của phụ nữ nông thôn.Hiện nay phụ nữ có vai trò to lớn trong giai
đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Theo số liệu từ
Tổng điều tra dân số năm 2009, phụ nữ chiếm 50,5% số người hoạt động
trong lĩnh vực nông nghiệp (năm 1989 tỷ lệ này là 60%). Trong tổng lực
lượng lao động nữ, có 68% là hoạt động trong nông nghiệp, tỷ lệ này đối với

11
nam giới là 58%. Vai trò của phụ nữ trong sản xuất nông nghiệp càng trở nên
quan trọng hơn trong quá trình chuyển đổi kinh tế, với sự tham gia của lao
động nữ vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp ngày càng tăng trong khi lao
động nam giảm dần. Thời kỳ 1993 – 1998, số nam giới tham gia hoạt động
nông nghiệp mỗi năm giảm 0,9%. Trong giai đoạn này, 92% số người mới
gia nhập lĩnh vực nông nghiệp là phụ nữ, vì nam giới chuyển sang các hoạt
động phi nông nghiệp. Hiện tượng thay đổi này dẫn đến xu hướng là, nữ giới
tham gia nhiều hơn trong hoạt động nông nghiệp.
- Là nạn nhân của những hủ tục, tập quán truyền thống lạc hậu, của tệ
phân biệt đối xử trọng nam, khinh nữ. Với lịch sử hình thành và phát triển
chịu ảnh hưởng nặng nề của tập tục phong kiến từ xa xưa “trọng nam khinh
nữ” chính vì vậy hiện nay còn tất nhiều vùng vẫn còn tồn tại hủ tục này đặc
biệt các vùng phía Bắc của Việt Nam chính vì vậy trong gia đình phụ nữ chỉ
tham gia các công trình nội trợ, sinh đẻ…không được tham gia các công việc

đình.
Trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa, người phụ nữ càng phải
chịu nhiều đòi hỏi khắt khe của xã hội hiện đại. Bên cạnh vai trò quan trọng
trong gia đình, người phụ nữ còn tích cực tham gia các hoạt động xã hội. Phụ
nữ có mặt trong hầu hết các công việc và nắm giữ nhiều vị trí quan trọng.
Ngày càng nhiều người trở thành chính trị gia, các nhà khoa học nổi tiếng,
những nhà quản lí năng động. Trong nhiều lĩnh vực, sự có mặt của người phụ
nữ là không thể thiếu như ngành dệt, công nghiệp dịch vụ, may mặc
1.1.4.2. Vai trò của phụ nữ trong quản lý và điều hành sản xuất.
Số phụ nữ tham gia quản lý nhà nước hiện nay đã tăng nhiều so với
trước đây nhưng tỷ trọng lại có xu hướng giảm. Bên cạnh đó, phụ nữ chủ yếu
đảm nhiệm cấp phó.

13
Trong thực tế, phụ nữ Việt Nam đang có mặt ở hầu hết cơ quan quản lý
hành chính, sự nghiệp và doanh nghiệp. Phụ nữ chiếm 50,3% số người làm
công ăn lương và 32,4% các chủ doanh nghiệp.
Hiện nay, số cán bộ công chức (CBCC) nữ tham gia công tác quản lý
nhà nước trong hệ thống chính quyền các cấp nhiều hơn so với trước: Một
Phó Chủ tịch nước, ba Bộ trưởng, 26 thứ trưởng và tương đương, hai Chủ
tịch UBND, 22 Phó Chủ tịch UBND tỉnh. Tuy nhiên, tỷ lệ CBCC nữ tham
gia lãnh đạo ở cấp bộ, vụ còn thấp, mới khoảng 8 - 15%, chưa tương xứng
lực lượng lao động và năng lực đóng góp của phụ nữ.
Như vậy hiện nay với xu thế phát triển phụ nữ ngày càng thể hiện vai
trò lãnh đạo, quán lý của mình.
Ở cấp tỉnh, tỉnh ủy viên là nữ cũng tăng từ 182 ở khóa VII lên 280 trong
khóa VIII. Phụ nữ tham gia các cấp ủy địa phương đạt 10-11%, trong đó bí
thư, phó bí thư, ủy viên thường vụ đạt từ 3% đến 8%. Phần lớn các chị tham
gia thường vụ cấp ủy đều được phân công công tác kiểm tra và dân vận. Về
chính quyền, trong khóa VIII, tỷ lệ nữ Bộ trưởng và tương đương chiếm

(60%), phun thuốc trừ sâu (77.6%), mua con giống. Phụ nữ đảm nhiệm các
công việc nhẹ nhàng, tỷ mỷ và mất thời gian hơn như: nhổ cỏ (60.4%), bón
phân (68.2%), phơi lúa (78%), bảo quản và bán sản phẩm (90.4%) kiếm thức
ăn, chế biến thức ăn và chăm sóc, vệ sinh chuồng trại hàng ngày.Những công
việc sản xuất do phụ nữ đảm nhận chủ yếu để tiêu dùng trong gia đình, không
tính ra thành tiền.
1.1.4.4.Vai trò của phụ nữ trong kiểm soát các nguồn lực.
Quyền quyết định những vấn đề quan trọng trong gia đình vẫn thuộc về
nam giới. Phụ nữ thường quyết định những việc liên quan đến nội trợ và chăm
sóc thành viên gia đình

15
Ngoại trừ các vấn đề liên quan đến cơm áo, học hành của con do phụ nữ
quyết định, phần lớn các quyền quyết định quan trọng khác của gia đình liên
quan đến hoạt động tạo thu nhập như: định hướng sản xuất nuôi con gì, trồng
cây gì, mua sắm dụng cụ sản xuất, đầu tư vốn kinh doanh, mua sắm các vận
dụng trong gia đình với số tiền lớn hay làm nhà, mua đất kể cả quyền quyết
định cuối cùng khi có ý kiến chưa thống nhất đều thuộc về nam giới chiếm
trên 60%. Như vậy, vai trò người chủ trong gia đình của người nam giới rất
lớn và cũng chứng tỏ phụ nữ thường nhường nhịn và chấp nhận hy sinh, chưa
thật sự ý thức được quyền của mình trong việc quyết định các vấn đề cho gia
đình.
1.1.5. Những yếu tố ảnh hƣởng đến vai trò của phụ nữ nông thôn trong
phát triển kinh tế hộ gia đình.
1.1.5.1.Quan niệm về giới, những phong tục tập quán ở Việt Nam và
một số nước Á Đông.
Phụ nữ trước hết phải lo việc gia đình, con cái. Dù làm bất kỳ công việc
gì, thì việc nội trợ vẫn là trách nhiệm của họ, đây là một quan niệm ngự trị ở
nước ta từ nhiều năm nay. Sự tồn tại những hủ tục lạc hậu, trọng nam khinh
nữ đã kìm hãm tài năng sáng tạo của phụ nữ, hạn chế sự cống hiến của họ

không ít khó khăn trong việc nắm bắt kiến thức pháp luật, tìm nguồn vốn, tìm
kiếm thị trường, khó khăn trong việc tiếp cận và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật vào sản xuất và đời sống. Do vậy, hiệu quả công việc và năng suất lao
động của họ thấp.
1.1.5.3. Yếu tố về sức khoẻ.
với phụ nữ nông thôn vừa phải lao động nặng vừa phải thực hiện thiên

17
chức của mình, cùng với điều kiện sinh hoạt thấp kém đã làm cho sức khoẻ
của họ bị giảm sút. Điều này không những ảnh hưởng đến khả năng lao động
mà còn làm vai trò của phụ nữ trong gia đình cũng như trong việc phát triển
kinh tế gia đình trở nên thấp hơn.
1.1.5.4. Khả năng tiếp nhận thông tin.
Do phụ nữ phải đảm nhận một khối lượng công việc lớn nên cơ hội để
họ giao tiếp rộng rãi, tham gia hoạt động cộng đồng để nắm thông tin rất
hiếm. Ở nhiều vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh người dân còn chưa hề được
tiếp xúc với báo chí và các hình thức truyền tải thông tin khác.
1.1.5.5. Các yếu tố chủ quan.
Một yếu tố khác không thể không nhắc đến đó là nguyên nhân chủ quan
do chính phụ nữ gây ra, đó chính là quan niệm lệch lạc về giới, ngay cả phụ
nữ cũng có cái nhìn không đúng về những vấn đề đó. Họ cũng cho rằng,
những công việc nội trợ, chăm sóc gia đình, con cái…là việc của phụ nữ. Họ
tỏ ra không hài lòng về người đàn ông thạo việc bếp núc, nội trợ. Trong khi
họ lên tiếng đòi quyền bình đẳng thì họ vô tình ràng buộc thêm trách nhiệm
cho mình. Vậy nên, toàn bộ công việc gia đình, sản xuất càng đè nặng lên
đôi vai phụ nữ khiến họ mệt mỏi cả về thể xác lẫn tinh thần.
Ta có thể khẳng định rằng, phụ nữ có vai trò đặc biệt quan trọng trong
sự phát triển của nhân loại. Song, có nhiều nguyên nhân gây cản trở sự tiến
bộ của họ trong cuộc sống. Các yếu tố khách quan và chủ quan đã tác động
không tốt khiến cho phụ nữ đặc biệt là phụ nữ nông thôn bị lâm vào vòng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status