Nghiên cứu vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ) - Pdf 41

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÊ THỊ MINH

NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN
TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH TẠI
HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

THÁI NGUYÊN - 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÊ THỊ MINH

NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN
TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH TẠI
HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Phát triển nông thôn
Mã số: 60 62 01 16

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS ĐINH NGỌC LAN

Lâm Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, tạo điều kiện về mọi mặt
để tôi thực hiện đề tài này. Đặc biệt tôi xin cảm ơn PGS.TS. Đinh Ngọc Lan,
đã hướng dẫn chỉ bảo tận tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho tôi hoàn
thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể gồm:
Huyện uỷ Đại Từ, UBND huyện Đại Từ, Phòng LĐ-XH huyện Đại Từ,
Phòng Thống kê huyện Đại Từ, Phòng Nông nghiệp huyện Đại Từ, Các tổ
chức hội đoàn thể huyện Đại Từ, Hội Liên hiệp phụ nữ huyện Đại Từ, UBND
các xã Quân Chu, Minh Tiến, Cù Vân.
Cuối cùng tôi xin trân thành cảm ơn sâu sắc tới gia đình và bạn bè,
những người đã chia sẻ, động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành tốt luận văn của mình.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn tất cả sự giúp đỡ quý báu của
các tập thể và cá nhân đã dành cho tôi.
Thái Nguyên, ngày

tháng

năm 2015

Tác giả luận văn

Lê Thị Minh

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


iii

2.3. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 24
2.3.1. Phương pháp tiếp cận nghiên cứu ......................................................... 24
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


iv
2.3.2. Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu ...................................................... 25
2.3.3. Phương pháp thu thập số liệu ................................................................ 26
2.3.4. Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu .......................................... 27
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ............................................................ 29

3.1. Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội huyện Đại Từ ...................................... 29
3.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ......................................................... 29
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội ..................................................................... 38
3.2. Thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên
địa bàn huyện Đại Từ .............................................................................. 43
3.2.1. Khái quát về tình hình của phụ nữ trên địa bàn huyện Đại Từ ............. 46
3.2.2. Tình hình chung của các hộ điều tra ..................................................... 49
3.2.3. Thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại
các hộ nghiên cứu.................................................................................... 54
3.2.4. Phân tích SWOT về nâng cao vai trò của phụ nữ nông thôn huyện
Đại Từ trong phát triển kinh tế hộ........................................................... 69
3.2.5. Những yếu tố làm hạn chế vai trò của lao động nữ trong phát triển
kinh tế hộ nông dân ................................................................................. 73
3.2.6. Những nguyên nhân .............................................................................. 76
3.3. Giải pháp nâng cao vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh
tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Đại Từ................................................ 77
3.3.1. Những giải pháp chung ......................................................................... 77


: Liên hiệp phụ nữ

LHPNVN

: Liên hiệp phụ nữ Việt Nam

NN

: Nông nghiệp

NN&PTNT

: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

NST

: Nhiễm sắc thể

THCS

: Trung học cơ sở

THPT

: Trung học phổ thông

TTCN

: Tiểu thủ công nghiệp

Bảng 3.10: Bình quân lao động và nhân khẩu của các hộ nông dân .............. 51
Bảng 3.11. Tỷ lệ dân số theo tuổi phân theo giới tính các hộ nông dân ......... 51
Bảng 3.12: Trình độ học vấn của các thành viên trong gia đình .................... 53
Bảng 3.13: Tỷ lệ nữ làm chủ hộ và tham gia quản lý điều hành sản xuất ...... 54
Bảng 3.14: Nguyên nhân chính dẫn đến người phụ nữ đảm nhiệm việc
quản lý, điều hành sản xuất ............................................................. 55
Bảng 3.15. Sự phân công lao động trong hoạt động trồng trọt ....................... 58
Bảng 3.16. Sự phân công lao động trong hoạt động chăn nuôi ...................... 61
Bảng 3.17. Tiếp cận thông tin sản xuất của lao động nữ ................................ 62
Bảng 3.18. Quyền và sự phân công trong gia đình về kiểm soát kinh tế,
tài sản hộ gia đình ........................................................................... 63
Bảng 3.19. Vai trò của vợ và chồng trong các quyết sách lớn của hộ gia đình .... 65
Bảng 3.20. Sự phân công lao động trong sản xuất nông nghiệp ..................... 67
Bảng 3.21. Phân công trách nhiệm của vợ và chồng trong tiếp cận thông
tin và quan hệ xã hội ....................................................................... 68
Bảng 3.22: Phân tích SWOT về nâng cao vai trò của phụ nữ nông thôn
phát triển kinh tế hộ huyện Đại Từ ................................................. 69
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


vii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Hình 3.1. Cơ cấu sử dụng đất huyện Đại Từ năm 2014 ................................. 34
Hình 3.2: Trình độ văn hoá của lao động nữ tại huyện Đại Từ năm 2014 ................. 48

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


http://www.lrc.tnu.edu.vn


2
sự đóng góp của phụ nữ lại chưa được ghi nhận một cách xứng đáng với vai
trò của họ trong nền kinh tế, trong các quan hệ đời sống và gia đình. Vì vậy
việc tìm hiểu về vai trò của phụ nữ ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên trong
phát triển kinh tế hộ gia đình, những cản trở sự tiến bộ của phụ nữ trong quá
trình đổi mới và phát triển kinh tế nông thôn, để từ đó đề xuất một số giải
pháp có tính khả thi nhằm phát huy hơn nữa vai trò của lực lượng này.
Xuất phát từ tính cấp thiết nêu trên và nhận thức sâu sắc về những tiềm
năng to lớn của phụ nữ, những cản trợ sự tiến bộ của phụ nữ trong quá trình
đổi mới và phát triển kinh tế nông thôn, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“ Nghiên cứu vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ gia
đình trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên".
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá được thực trạng hoạt động của phụ nữ trong phát triển kinh tế
hộ nông thôn và đưa ra giải pháp và kiến nghị nhằm tạo cơ hội cho phụ nữ
phát huy tiềm năng về mọi mặt để phát triển kinh tế, tăng thu nhập, cải thiện
đời sống gia đình, góp phần sự phát triển kinh tế - xã hội huyện Đại Từ, tỉnh
Thái Nguyên
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của phụ nữ trong
phát triển kinh tế hộ nông thôn miền núi
- Phân tích và đánh giá được thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát
triển kinh tế hộ ở nông thôn.
- Xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đóng góp của phụ
nữ trong phát triển kinh tế hộ nông thôn

khái niệm này lại khác nhau ở hai phương diện đó là: sinh học và xã hội
Giới tính: chỉ sự khác biệt về sinh học giữa nam giới và phụ nữ mang
tính toàn cầu và không thay đổi [21]
Các đặc trưng của giới tính bị quy định và hoạt động theo các cơ chế tự
nhiên, di truyền. Nữ giới vốn có chức năng sinh lý học như tạo ra trứng, mang
thai, sinh con và cho con bú bằng bầu sữa mẹ. Nam giới có chức năng tạo ra
tinh trùng. Về mặt sinh lý học, nữ giới khác với nam giới
- Giới tính là bẩm sinh và đồng nhất, bị quy định và hoạt động theo các cơ
chế tự nhiên, di truyền. Chẳng hạn như: người có cặp NST giới tính XX thì
thuộc về nữ giới, người có cặp NST giới tính XY thì thuộc về nam giới. Ngay từ
trong bào thai, hoóc môn, nhiễm sắc thể, bộ phận sinh dục…của nam giới và nữ
giới khác nhau, được quy định bởi tự nhiên, không theo và không phụ thuộc vào
mong muốn của con người. Đồng thời, chức năng sinh sản của nữ giới hay nam
giới là không thể thay thế, thay đổi hay chuyển dịch cho nhau. [7]
Giới: chỉ sự khác biệt về xã hội và quan hệ (về quyền lực) giữa trẻ em
trai và trẻ em gái, giữa phụ nữ và nam giới, được hình thành và khác nhau ngay
trong một nền văn hóa, giữa các nền văn hóa và thay đổi theo thời gian. Sự
khác biệt này được nhận thấy một cách rõ ràng trong vai trò, trách nhiệm, nhu
cầu, khó khăn thuận lợi của các giới tính [21]
Đối với Việt Nam, Khoa học về Giới xuất hiện vào cuối những năm
1980 với nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về giới và các vấn đề của
phụ nữ. Thuật ngữ “Giới” bắt nguồn từ môn nhân khẩu học, nó đề cập đến
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


5
phân công lao động, vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định
cho nam và nữ.



6
* Nguồn gốc giới
- Trong gia đình, ngay từ khi sinh ra, đứa trẻ đã được đối xử tùy theo
chúng là trai hay gái. Những sự khác nhau đó có thể là: về đồ chơi, quần áo,
tình cảm của ông bà, bố mẹ, anh chị. Đứa trẻ được dạy dỗ và điều chỉnh hành
vi của chúng theo giới tính của mình.
- Trong nhà trường, các thầy cô giáo cũng định hướng theo sự khác biệt
về giới cho học sinh. Học sinh nam được hướng theo các ngành kỹ thuật, điện
tử, các ngành cần có thể lực tốt. Học sinh nữ được hướng theo các ngành như
may, thêu, trang điểm, các ngành cần sự khéo léo, tỷ mỉ.
- Các thể chế xã hội như: chính sách, pháp luật… cũng có ý nghĩa làm
tăng hoặc giảm sự khác biệt về giới (ví dụ ưu tiên nam trong các nghề lái xe,
xây dựng, cảnh sát…)
* Sự khác biệt về giới:
Phụ nữ được xem là phái yếu, vì họ sống thiên hơn về tình cảm, họ là
thành phần quan trọng tạo nên sự yên ấm trong gia đình. Thiên chức của phụ
nữ là làm vợ, làm mẹ nên họ gắn bó với con cái, gia đình hơn nam giới và
cũng từ đó mối quan tâm của họ cũng có phần khác nam giới.
Nam giới được coi là phái mạnh, là trụ cột gia đình. Họ cứng rắn hơn
về tình cảm, mạnh bạo và năng động hơn trong công việc. Đặc trưng này cho
phép họ dồn hết tâm trí vào lao động sản xuất., vào công việc xã hội, ít bị
ràng buộc bởi con cái và gia đình. Chính điều này đã làm tăng thêm khoảng
cách khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong xã hội.
Hơn nữa, nam giới và nữ giới lại có xuất phát điểm không giống nhau
để tiếp cận cái mới, họ có những thuận lợi, khó khăn với tính chất và mức độ
khác nhau để tham gia vào các chương trình kinh tế, từ góc độ nhận thức, nắm
bắt các thông tin xã hội. Trong nền kinh tế hội nhập quốc tế, từ điều kiện và
cơ hội được học tập, tiếp cận việc làm và làm việc, từ vị trí trong gia đình,

- Các điều kiện để phát huy đầy đủ tiềm năng
- Các cơ hội để tham gia đóng góp, hưởng lợi trong quá trình phát triển
- Quyền tự do và chất lượng cuộc sống
Bên cạnh quy định về những quyền và nghĩa vụ chung, bình đẳng cho cả nam
và nữ, pháp luật còn xác định những đặc quyền chỉ áp dụng cho phụ nữ nhằm
bù đắp cho phụ nữ những thiệt thòi, đặt họ vào vị trí xuất phát ngang bằng với
đàn ông trong các quan hệ xã hội, đảm bảo cho họ có thể tiếp nhận các cơ hội
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


8
và thụ hưởng các quyền một cách bình đẳng như nam giới. Đây là quan điểm
bình đẳng giới thực chất. [17]
Luật Bình đẳng giới (2007) tại Điều 5 chỉ rõ: Bình đẳng giới là việc
nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy
năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng
như nhau về thành quả của sự phát triển đó. [16]
1.1.1.4. Vai trò của giới
Trong cuộc sống, cả nam và nữ đều tham gia vào mọi hoạt động của
đời sống xã hội, tuy nhiên mức độ tham gia của nam và nữ trong các loại
công việc là khác nhau do những quan niệm, các chuẩn mực xã hội quy định.
Những công việc mà họ đảm nhận được gọi là vai trò giới. Các vai trò giới đa
dạng (tùy thuộc vào vị trí và bối cảnh), thay đổi theo thời gian (tương ứng với
sự thay đổi của các điều kiện và hoàn cảnh) và thay đổi theo sự thay đổi trong
quan niệm xã hội (tương ứng với việc chấp nhận hoặc không chấp nhận một
hành vi ứng xử vai trò nào đó).
Vai trò giới: là tập hợp các hành vi ứng xử mà xã hội mong đợi ở nam
và nữ liên quan đến những đặc điểm giới tính và năng lực mà xã hội coi là

nằm ngoài lãnh thổ đô thị, có môi trường tự nhiên, hoàn cảnh kinh tế xã hội, điều
kiện sống khác biệt với thành thị và dân cư chủ yếu làm nông nghiệp [6]
1.2.3. Khái niệm, đặc điểm hộ gia đình, kinh tế hộ nông dân
* Hộ gia đình: hay còn gọi đơn giản hộ là một đơn vị xã hội bao gồm một
hay một nhóm người ở chung (cùng chung hộ khẩu) và ăn chung (nhân khẩu).
Đối với những hộ có từ 2 người trở lên, các thành viên trong hộ có thể có hay
không có quỹ thu chi chung hoặc thu nhập chung. Hộ gia đình không đồng nhất
với khái niệm gia đình, những người trong hộ gia đình có thể có hoặc không có
quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng hoặc hôn nhân hoặc cả hai. [24]
Có ba tiêu thức chính thường được nói đến khi định nghĩa khái niệm hộ
gia đình:
- Có quan hệ huyết thống và hôn nhân
- Cùng cư trú
- Có cơ sở kinh tế chung [24]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


10
Theo một số từ điển chuyên ngành kinh tế, từ điển ngôn ngữ thì hộ
được hiểu là: tất cả những người cùng sống trong một mái nhà, bao gồm
những người có cùng huyết tộc và những người làm công. [24]
Về phương diện thống kê, các nhà nghiên cứu Liên hợp quốc cho rằng
hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, có ăn chung và có
chung một ngân quỹ. [24]
Đại đa số các hộ ở Việt Nam đều gồm những người có quan hệ hôn
nhân, quan hệ huyết thống. Vì vậy, khái niệm hộ thường được hiểu đồng
nghĩa với gia đình, nhiều khi được gộp chung thành khái niệm hộ gia đình.

như sau:
- Hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất
chính là nông nghiệp. Hộ có nguồn thu nhập chủ yếu bằng nghề nông. Ngoài
ra, hộ nông dân còn tham gia các hoạt động phi nông nghiệp, chẳng hạn tiểu
thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ... ở các mức độ khác nhau.
- Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất
vừa là một đơn vị tiêu dùng. Hộ nông dân phải phụ thuộc vào các hệ thống
kinh tế lớn hơn của nền kinh tế quốc dân. Các hộ nông dân càng phụ thuộc
nhiều hơn vào các hệ thống kinh tế rộng lớn không chỉ trong phạm vi một
vùng, một nước khi trình độ phát triển lên mức cao của công nghiệp hoá, hiện
đại hoá, thị trường, xã hội càng mở rộng và đi vào chiều sâu.
* Kinh tế hộ nông dân:
Hộ nông dân và kinh tế hộ nông dân là đối tượng nghiên cứu chủ yếu
của khoa học nông nghiệp và phát triển nông thôn, vì tất cả các hoạt động
nông nghiệp, phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu được thực hiện qua các
hoạt động của hộ nông dân.
Theo Frank Ellis (1988): Các nông hộ thu hoạch các phương tiện sống
từ đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm
trong hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc
tham gia một phần trong thị trường, hoạt động với một trình độ không hoàn
chỉnh cao. [24]
Kinh tế hộ nông dân được phân biệt với các hình thức kinh tế khác
trong nền kinh tế thị trường bởi các đặc điểm sau:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


12
- Đất đai: nghiên cứu hộ nông dân là nghiên cứu những người sản xuất

http://www.lrc.tnu.edu.vn


13
được bình đẳng trong phát triển.
Trong luật Bình đẳng giới, Na Uy quy định: Việc phân biệt đối xử trực
tiếp hoặc gián tiếp với phụ nữ và nam giới đều không được phép.
Với lĩnh vực lao động và việc làm, luật quy định: tuyển dụng không
được hạn chế tuyển một giới. Khi đề bạt, cách chức hoặc sa thải người lao
động cũng không được phân biệt nam nữ. Lao động nam và nữ trong cùng
một doanh nghiệp phải được trả lương như nhau cho cùng một công việc như
nhau hoặc công việc có giá trị như nhau.
Trong giáo dục, Luật bình đẳng giới đề ra phụ nữ và nam giới có quyền
bình đẳng trong đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ.
Tuy nhiên, Luật bình đẳng giới tiến bộ nhưng chỉ nhằm tăng cường
quyền lực của phụ nữ ngoài xã hội chứ không bênh vực họ trong gia đình vì
không áp dụng trong gia đình. Trong lĩnh vực công việc nhà không được trả
lương phụ nữ vẫn làm việc nhiều hơn nam giới; trong lĩnh vực quản lý nhà
nước, nam giới vẫn chiếm 86% và trong chính quyền địa phương lãnh đạo
nam vẫn trên 70% ; nạn bạo lực vẫn xảy ra; mại dâm được phép hoạt động
nhưng vẫn nhiều tình trạng xâm hại tình dục … [10]
Tại Kenya, Zambia và Nigieria, gia đình nào có chủ hộ là nam giới thì
khuyến nông thường xuyên ghé thăm hơn.
Khoảng 40% phụ nữ Trinidad và Tobago chỉ biết đến các thông tin hay
những lời khuyên trong sản xuất cũng như các thông tin khác thông qua người
chồng của mình. Còn ở một số nước như Ấn Độ, Thái Lan, Malaysia thì
những thông tin đó được lấy tự họ hàng, bạn bè và hàng xóm. Rất ít thông tin
được trực tiếp chuyển đến người phụ nữ.
* Phụ nữ chiếm một tỷ trọng lớn trong lực lượng lao động: Tỷ lệ nữ
tham gia hoạt động kinh tế theo các nhóm tuổi rất cao. Một số tài liệu thống

* Bất bình đẳng giới mang tính phổ biến: Bất bình đẳng giới tồn tại ở
hầu hết các nước đang phát triển. Điều đó trước hết bắt nguồn từ tình trạng
phụ nữ có trình độ học vấn thấp. Một nguyên nhân khác không kém phần
quan trọng là những định kiến xã hội không coi trọng phụ nữ đã được hình
thành ở hầu hết các nước đang phát triển. Do vậy, ngay cả khi phụ nữ có bằng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


15
cấp cao và kỹ năng tốt thì những công việc họ làm vẫn không được ghi nhận một
cách xứng đáng.
Đấu tranh để đạt được sự bình đẳng thực sự giữa nam và nữ trong xã
hội ta nói riêng và trên thế giới nói chung là vấn đề lâu dài và còn nhiều khó
khăn, thử thách. Đây là cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, cái tiến bộ và
lạc hậu. Đất nước ta đã trải qua hàng ngàn năm phong kiến, tư tưởng “Trọng
nam khinh nữ” vẫn còn ăn sâu trong tiềm thức của một bộ phận dân chúng,
nhất là ở những vùng, miền còn nặng nề về hủ tục lạc hậu… Ngay tại các bộ,
ngành và những đơn vị hành chính, kinh tế lớn, vấn đề bình đẳng giới vẫn còn
gặp những khó khăn nhất định. Việc bồi dưỡng phát triển cán bộ nữ có lúc, có
nơi còn bị hạn chế, một số đơn vị kinh tế thậm chí không muốn nhận lao động
nữ… Như vậy, mặc dù đã đạt được những thành quả nhất định nhưng vấn đề
bình đẳng về giới vẫn còn những bất cập mà chúng ta còn phải tiếp tục phấn
đấu để đạt được mục tiêu bình đẳng thật sự.
1.1.2.2. Thực trạng vai trò của phụ nữ nông thôn Việt Nam và một số chủ trương
chính sách của nhà nước với sự phát triển của phụ nữ và bình đẳng giới
a. Thực trạng của phụ nữ Việt Nam
Là một nước có nền công nghiệp chưa phát triển, Việt Nam hiện có
khoảng 80% số người trong độ tuổi lao động sống ở nông thôn, trong đó phụ nữ

truyền thống của các dân tộc phương Đông, phụ nữ nông dân, dù sống dưới
chế độ chính trị nào đều có vai trò rất quan trọng đối với quá trình sản xuất,
quản lý đời sống gia đình. Ở nước ta phụ nữ nông dân là lực lượng lao động
đông đảo nhất trong các lực lượng lao động, đảm nhiệm phàn lớn công việc
sản xuất và đời sống ở nông thôn, có vị trí rất quan trọng đối với sự phát triển
kinh tế hộ gia đình. Nhưng do quan niệm phong kiến trọng nam khinh nữ, do
tâm lý tự ti và do điều kiện khách quan rất hạn chế của nông thôn Việt Nam,
lực lượng lao động đó ít được học hành và giáo dục cần thiết để đáp ứng
những nhu cầu của quá trình phát triển nông nghiệp nông thôn” [20]. Mặc dù
phụ nữ có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế hộ gian đình nhưng họ
chưa được quan tâm đúng mức, nên chưa phát huy hết vai trò của mình trong
quá trình phát triển kinh tế xã hội nói chung và kinh tế gia đình nói riêng.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status