Phần 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phụ nữ có vai trò quan trọng trong đội ngũ đông đảo những người lao động
trong xã hội. Bằng lao động sáng tạo của mình, họ đã góp phần làm giàu cho xã hội,
làm phong phú cuộc sống con người. Phụ nữ luôn thể hiện vai trò của mình trong
các lĩnh vực đời sống xã hội, cụ thể là trong lĩnh vực hoạt động vật chất, phụ nữ là
một lực lượng trực tiếp sản xuất ra của cải để nuôi sống con người. Không chỉ sản
xuất ra của cải vật chất, phụ nữ còn tái sản xuất ra con người để duy trì và phát triển
xã hội. Trong lĩnh vực hoạt động tinh thần, phụ nữ có vai trò sáng tạo nền văn hóa
nhân loại. Nền văn hóa dân gian của bất cứ nước nào, dân tộc nào cũng có sự tham
gia bằng nhiều hình thức của đông đảo phụ nữ.
Ở Việt Nam phụ nữ chiếm trên 50% dân số cả nước, họ tham gia vào tất cả
các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng và càng ngày
càng thể hiện vị trí và vai trò của mình trong xã hội. Trong suốt chặng đường đấu
tranh dựng nước, giữ nước và xây dựng đất nước, lịch sử Việt Nam đã ghi nhận
những cống hiến to lớn của phụ nữ. Trong công cuộc đổi mới đất nước của Đảng,
họ luôn giữ gìn, phát huy và nêu cao tinh thần yêu nước, đoàn kết, năng động, sáng
tạo, khắc phục mọi khó khăn để vươn lên trong học tập, lao động, phấn đấu đạt
những thành tích xuất sắc trên mọi lĩnh vực. Trong gia đình, mỗi phụ nữ vừa là
người con dâu, người vợ, người mẹ, người thầy của các con, người thầy thuốc của
gia đình.
Đảng và Nhà nước ta ngày càng quan tâm phát huy vai trò của phụ nữ trong xã
hội, tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tham gia vào tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn
hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng… Ở khu vực nông thôn, cùng với việc tích cực
tham gia vào quá trình phát triển kinh tế gia đình, mỗi phụ nữ còn tham gia nhiều
hoạt động xã hội, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế, ổn định an ninh
quốc phòng địa phương làm thay đổi diện mạo khu vực nông thôn Việt Nam.
Hoàng Tung là một xã miền núi của huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, là một xã
vùng 3 có cơ sở hạ tầng còn kém phát triển, đặc biệt là giao thông đường bộ gây
khó khăn cho việc đi lại, giao lưu buôn bán hàng hóa với các địa phương khác. Là
và chăm sóc con cái.
- Tìm hiểu thực trạng vai trò của phụ nữ trong việc tạo lập thu nhập cho gia
đình và tham gia các hoạt động xã hội.
2
- Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đóng góp của phụ nữ trong
phát triển kinh tế hộ nông thôn. Qua đó, đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát
huy vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn miền núi trên địa bàn xã.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa về mặt học tập
Đề tài là cơ hội cho em được học tập, rèn luyện, đi sâu vào thực tế, được áp
dụng kiến thức đã học vào thực tế. Tích lũy thêm những kiến thức mới cho bản thân
nhằm phục vụ cho công tác sau này. Ngoài ra, đề tài còn là cơ hội cho em được
nghiên cứu, tìm hiểu về đời sống của người dân trên địa bàn xã nơi mình đang sinh
sống, từ đó hiểu thêm về tình hình tại địa phương và có những dự định ấp ủ để phát
triển quê hương.
3.2.Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp nhìn nhận đúng hơn về vai trò của người
phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình. Từ đó nâng cao nhận thức của chính
người phụ nữ và người dân về vai trò của phụ nữ, góp phần phát huy hơn nữa vai
trò của người phụ nữ trong phát triển kinh tế của chính gia đình họ, đóng góp vào
sự phát triển chung của địa phương.
4. Bố cục
Đề tài gồm 5 phần
Phần 1: Mở đầu
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Phần 3: Đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Phần 4: Kết quả nghiên cứu
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
3
Phần 2
- Đặc trưng xã hội
4
- Do dạy và học mà có
- Đa dạng
- Biến đổi theo hoàn cảnh xã hội
- Thay đổi theo không gian và thời gian
* Nguồn gốc giới:
- Trong gia đình, bắt đầu từ khi sinh ra, đứa trẻ được đối xử tùy theo nó là trai
hay gái. Đó là sự khác nhau về đồ chơi, quần áo, tình cảm của ông bà, bố mẹ, anh
chị. Đứa trẻ được dạy dỗ và điều chỉnh hành vi của chúng theo giới tính của mình.
- Trong nhà trường, các thầy cô giáo cũng định hướng theo sự khác biệt về
giới cho học sinh. Học sinh nam được hướng theo các ngành kỹ thuật, điện tử, các
ngành cần có thể lực tốt. Học sinh nữ được hướng theo các ngành như may, thêu,
trang điểm, các ngành cần sự khéo léo, tỉ mỉ.
* Sự khác biệt về giới
Phụ nữ luôn được xem là phái yếu, vì họ sống thiên hơn về tình cảm, họ là
thành phần quan trọng tạo nên sự yên ấm trong gia đình. Thiên chức của phụ nữ là
làm vợ, làm mẹ, nên họ gắn bó với con cái, gia đình hơn nam giới và cũng từ đấy
mối quan tâm của họ cũng có phần khác nam giới.
Nam giới được coi là phái mạnh, là trụ cột gia đình. Họ cứng rắn hơn về tình
cảm, mạnh bạo và năng động hơn trong công việc. Đặc trưng này cho phép họ dồn
hết tâm trí vào lao động sản xuất, còn công việc xã hội, ít bị ràng buộc bởi con cái
và gia đình. chính điều này đã làm tăng thêm khoảng cách giữa phụ nữ và nam giới
trong xã hội.
Hơn nữa, nam giới và nữ giới lại có xuất phát điểm không giống nhau để tiếp
cận cái mới, họ có những thuận lợi, khó khăn với tính chất và mức độ khác nhau để
tham gia vào các chương trình kinh tế, từ góc độ nhận thức, nắm bắt các thông tin
xã hội. Trong nền kinh tế hội nhập quốc tế, từ điều kiện và cơ hội được học tập, tiếp
cận việc làm và làm việc, từ vị trí trong gia đình, ngoài xã hội khác nhau, từ tác
động của định kiến xã hội, các hệ tư tưởng, phong tục tập quán đối với mỗi giới
ra của cải vật chất hoặc tinh thần đem lại thu nhập hoặc để tự tiêu dùng.
- Vai trò tái sản xuất: bao gồm trách nhiệm sinh đẻ, nuôi con và các công việc
nội trợ trong gia đình để duy trì và tái sản xuất sức lao động. Vai trò này không chỉ
bao gồm sự tái sản xuất sinh học, mà còn bao gồm cả chăm lo và duy trì lực lượng
lao động hiện tại và tương lai.
- Vai trò cộng đồng: gồm hai loại vai trò quản lý cộng đồng và vai trò chính trị
cộng đồng.
+ Vai trò quản lý cộng đồng: là các hoạt động ở cấp độ cộng đồng như là sự
mở rộng vai trò tái sản xuất. Đó là các công việc nhằm bảo đảm và duy trì các
nguồn lực để sử dụng chung như nguồn nước, vệ sinh đường làng ngõ xóm, tham
gia lễ hội của làng bản… Đây là những công việc tự nguyện, không được trả tiền và
thường làm vào thời gian rảnh rỗi.
6
+ Vai trò chính trị cộng đồng: gồm những hoạt động thực hiện ở cấp độ cộng
đồng, với vị trí chính trị chính thức như tham gia vào các công việc của các tổ chức
chính quyền và đoàn thể địa phương. Đây là những công việc được trả tiền hoặc
trực tiếp hoặc gián tiếp bằng hiện vật, các công việc này làm tăng thêm vị trí và
quyền lực của cá nhân trong cộng đồng.
2.1.2. Phát triển kinh tế nông thôn
2.1.2.1. Khái niệm về phát triển và phát triển kinh tế
* Phát triển:
Phát triển là sự thay đổi của cấu trúc kinh tế trong sự tăng trưởng và liên quan
đến nó là sự chuyển biến của các lĩnh vực văn hóa, xã hội khác.
Phát triển phản ánh toàn diện cả khía cạnh tăng thêm về lượng và thay đổi về
chất của một xã hội, bao gồm: gia tăng thu nhập, thay đổi về cơ cấu kinh tế xã hội,
phân phối công bằng việc sử dụng cảu cải vật chất, đảm bảo tiến bộ xã hội, cải thiện
môi trường sống [8].
* Phát triển kinh tế: trước hết là sự gia tăng nhiều hơn về số lượng và chất
lượng sản phẩm, sự đa dạng về chủng loại sản phẩm của nền kinh tế. Đồng thời,
phát triển còn là sự thay đổi theo hướng tích cực trên tất cả các khía cạnh của nền
liệu sản xuất chủ yếu là đất đai.
- Lao động: Lao động sản xuất chủ yếu là do các thành viên trong hộ tự đảm
nhận. Sức lao động của các thành viên trong hộ không được xem là lao động dưới
hình thái hàng hoá, họ không có khái niệm tiền công, tiền lương.
- Tiền vốn: Chủ yếu do hộ tự tạo ra từ sức lao động của họ.
Mục đích chủ yếu của sản xuất trong hộ nông dân là đáp ứng cho nhu cầu tiêu
dùng trực tiếp của hộ, sau đó phần dư thừa mới bán ra thị trường.
* Kinh tế nông thôn: Phát triển kinh tế nông thôn đóng vai trò chủ chốt vào sự
phát triển kinh tế quốc dân. Vai trò đó thể hiện qua các các nhiệm vụ và đóng góp sau:
- Đảm bảo an ninh lương thực cho nhân dân cả nước
- Cung cấp nguyên liệu và sức lao động cho các ngành công nghiệp và dịch vụ.
- Tạo việc làm và tăng thu nhập cho cư dân nông thôn, hạn chế việc di dân tự
phát từ nông thôn ra thành thị.
- Tạo nguồn thu nhập ngoại tệ thông qua xuất khẩu các sản phẩm từ nông,
lâm, ngư nghiệp và các ngành nghề thủ công.
2.1.3. Vị trí, vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn
2.1.3.1. Vị trí của phụ nữ trong gia đình và xã hội
Trên toàn thế giới, phụ nữ đóng vai trò then chốt trong gia đình về khả năng
sản xuất và tái sản xuất. Họ chiếm trên 50% trong tổng số lao động, số giờ lao động
của họ chiếm trên 2/3 tổng giờ lao động của xã hội và sản xuất ra ½ trong tổng sản
lượng nông nghiệp. Cùng với việc đảm nhiệm nhiều công việc khác nhau, lao động
8
nữ chiếm tỷ lệ ngày càng cao trong các ngành công nghiệp, dịch vụ với trình độ
không ngừng được nâng cao [4].
Theo kết quả của những công trình nghiên cứu trước cho biết: Phụ nữ phụ nữ
là người tạo ra phần lớn lương thực tiêu dùng cho gia đình. 1/4 số hộ gia đình trên
Thế giới do nữ làm chủ hộ và nhiều hộ gia đình khác phải phụ thuộc vào thu nhập
của lao động nữ [2]. Tuy nhiên, sự bất bình đẳng vẫn còn tồn tại ở rất nhiều nước
trên thế giới. Đặc biệt là ở vùng nông thôn, phụ nữ bị hạn chế về mọi mặt, đời sống,
điều kiện sống và làm việc tồi tàn, địa vị trong xã hội thấp. Trong số hơn 1,3 tỷ
động lẫn tinh thần, gia đình và xã hội cũng cần có những trợ giúp để họ thực hiện
tốt hơn vai trò của mình.
2.1.3.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh
tế nông thôn
* Quan niệm về giới, những phong tục tập quán ở Việt Nam và một số nước Á
Đông: Phụ nữ trước hết phải lo công việc gia đình, con cái. Dù làm bất kỳ công việc
gì, thì việc nội trợ vẫn là trách nhiệm của họ, đây là một quan niệm ngự trị ở nước
ta từ nhiều năm nay. Sự tồn tại những hủ tục lại hậu, trọng nam khinh nữ đã kìm
hãm tài năng sáng tạo của phụ nữ, hạn chế sự cống hiến của họ cho xã hội và cho
gia đình. Việc mang thai, sinh đẻ, nuôi dưỡng con nhỏ và làm nội trợ gia đình đè
nặng lên đôi vai người phụ nữ. Đây là trở ngại lớn cho họ tập trung sức lực, thời
gian, trí tuệ vào sản xuất và các hoạt động chính trị, xã hội. VÌ vậy, nhiều chị em trở
nên không mạnh bạo, không năng động sáng tạo bằng nam giới và gặp nhiều khó
khăn trong giao tiếp xã hội. Phong tục tập quán là một nguyên nhân cơ bản cản trở
phụ nữ tham gia vào quá trình phát triển kinh tế [3].
* Trình độ học vấn, chuyên môn, khoa học kỹ thuật của lao động nữ còn nhiều
hạn chế: Ở nông thôn, đặc biệt là miền núi phương tiện thông tin nghe nhìn và sách
báo đến với người dân còn rất nhiều hạn chế, do vậy việc lao động nữ tiếp cận và
nắm bắt các thông tin kỹ thuật về chăn nuôi, trồng trọt còn gặp nhiều khó khăn.
Ngoài thời gian lao động sản xuất, người phụ nữ dường như ít có thời gian dành cho
nghỉ ngơi hoặc hưởng thụ văn hóa tinh thần, học hỏi nâng cao hiểu biết kiến thức xã
hội mà họ phải giành phần lớn thời gian còn lại cho công việc gia đình. Do vậy, phụ
nữ bị hạn chế về kỹ thuật chuyên môn và sự hiểu biết xã hội. Ở Việt Nam, theo
thống kê cho thấy tỷ lệ lao động nữ đã qua đào tạo là rất thấp (14,7%). Tỷ lệ lao
động nữ có trình độ đại học và trên đại học là 5,9%, tỷ lệ này của nam là 6,9% [9].
* Yếu tố về tiếp cận vốn đầu tư: vốn là yếu tố vô cùng quan trọng trong phát
triển kinh tế hộ gia đình, tuy nhiên đây là yếu tố gặp khó khó khăn nhất. Phụ nữ ít
có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ tài chính chính thống do trình độ học vấn thấp,
các hàng rào về xã hội và văn hóa, bản chất công việc kinh doanh và những yêu cầu
10
Bangladesh: Có 67,3% phụ nữ nông thôn tham gia lực lượng lao động so với
82,5% nam giới. Tỷ lệ này của phụ nữ nông thôn cao gấp 2 lần phụ nữ thành thị
11
(28,9%). Theo nhóm tuổi, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động nhiều nhất ở độ tuổi
30-49, tiếp đó là các nhóm tuổi 25-29, 50-54. Đáng chú ý rằng, gần 61% phụ nữ
nông thôn ở độ tuổi 60-64 vẫn tham gia lực lượng lao động, cao gần gấp 2 lần phụ
nữ thành thị cùng nhóm tuổi. Đặc biệt phụ nữ nông thôn trên 65 tuổi vẫn có 36%
tham gia lực lượng lao động [3].
Trung Quốc: nhóm phụ nữ nông thôn tham gia lực lượng lao động cao nhất
từ 20-29 tuổi, tiếp đó là nhóm 30-39 tuổi, và giảm dần theo các nhóm tuổi cao hơn.
Giống như ở Bangladesh, ở nông thôn Trung Quốc phụ nữ ở độ tuổi 60-64 vẫn còn
32,53% tham gia lực lượng lao động, con số này cao gấp 2 lần phụ nữ thành thị
cùng nhóm tuổi [3].
Ấn Độ: Tỷ lệ phụ nữ nông thôn tham gia sản xuất ngoài quốc doanh cao hơn
tỷ lệ nữ tham gia trong nền sản xuất quốc doanh bởi vì trong thời kỳ này số hộ gia
đình không có đất sản xuất và đói nghèo ở nông thôn đang tăng lên. Nguồn nhân
lực tham gia sản xuất trong các thành phần kinh tế ở nông thôn có sự phân chia
không đồng đều, phụ nữ nông thôn chiếm đa phần trong các lao động có tính chất
không căn bản, chủ yếu là do phân công lao động trong gia đình, đặc biệt là không
làm chủ được tình trạng nghèo đói đã hạn chế khả năng lao động của phụ nữ vì tính
cạnh tranh trong công việc, phụ nữ sẽ không thể có năng suất lao động cao như nam
giới nếu họ vừa phải đảm nhận công việc nuôi con và nội trợ. Do địa vị của mình
trên thị trường thấp kém hơn so với nam giới đã ảnh hưởng đến chỉ số về giáo dục,
y tế và dinh dưỡng của phụ nữ [1].
- Trình độ chuyên môn kỹ thuật của phụ nữ thấp: Nhìn chung trình độ chuyên
môn kỹ thuật của lao động nữ nông thôn ở các nước đang phát triển còn rất thấp. Ở
các nước đang phát triển cho đến nay có tới 31,6% lao động nữ không được học
hành, 5,2% mới học xong phổ thông và 0,4% mới tốt nghiệp cấp 2 [1]. Vì ít có điều
kiện học hành nên những người phụ nữ này không được tiếp cận một cách có bài
bản với các kiến thức về công nghệ trồng trọt và chăn nuôi theo phương thức tiên
2.1.4.2. Thực trạng vai trò của phụ nữ nông thôn Việt Nam trong phát triển
kinh tế nông thôn
- Thực trạng về phụ nữ nông thôn Việt Nam: Đối với Việt Nam trong giai
đoạn chuyển đổi nền kinh tế hiện nay, vị trí gia đình càng trở nên quan trọng bởi gia
đình là một bộ phận khăng khít, là động lực của sự phát triển. Trong mỗi gia đình,
phụ nữ chính là người chăm lo mọi công việc thường được gọi là quản lý “tay hòm
chìa khóa”. Điều này chứng tỏ phụ nữ có địa vị kinh tế không nhỏ đối với gia đình.
Xã hội hiện đại đã hình thành nhiều kiểu gia đình, nhưng dù cho ở loại hình gia
đình nào, vai trò của phụ nữ cũng không thể thiếu. Không thể ngẫu nhiên mà con
13
người hiện đại đã khẳng định rằng “giáo dục một người đàn ông – được một người
đàn ông, giáo dục một người đàn bà – được cả gia đình” (R.Tagor). Đề cao vai trò
của gia đình trong đời sống xã hội cũng chính là đề cao vai trò của người phụ nữ.
Là một nước có nền công nghiệp chưa phát triển, Việt Nam hiện có khoảng
gần 75% số người trong độ tuổi lao động sống ở nông thôn, trong đó lao động nữ
chiếm trên 50%, nhưng họ là nhóm người yếu thế và thiệt thòi trong xã hội, không
được như đội ngũ công nhân, tri thức, phụ nữ nông thôn bị hạn chế bởi trình độ
nhận thức. Nhưng họ lại là lực lượng chính tham gia vào hầu hết các khâu trong sản
xuất nông nghiệp. Những năm gần đây, lực lượng lao động nữ lại tăng lên một cách
đáng kể. Hiện tượng tăng tương đối của lao động nữ nông thôn những năm gần đây
là do một số nguyên nhân sau:
+ Một là, do sự gia tăng tự nhiên số người trong độ tuổi lao động, hiện nay
hàng năm nước ta có khoảng 80-90 vạn người bước vào tuổi lao động, trong đó lao
động nữ chiếm 55%
+ Hai là, do quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, sắp xếp lại cơ cấu tổ
chức của các ngành doanh nghiệp, đa số lao động nữ ở các cơ quan, xí nghiệp bị
giảm biên chế, không có việc làm phải quay về nông thôn làm việc.
+ Ba là, do sự tan rã của thị trường Châu Âu, Nga vào đầu những năm 90,
khiến cho các nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn Việt Nam mất nguồn tiêu thụ
hàng hóa, đa số phụ nữ làm nghề này lại chuyển về làm nghề nông nghiệp.
tương đối cao.
Có thể nói rằng, tỷ lệ phụ nữ tham gia đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp ở
địa phương là khá thấp, không đạt yêu cầu. Trong những năm gần đây, được sự
quan tâm của Đảng và nhà nước, lao động nữ đã khẳng định vai trò của mình trong
vai trò quản lý. Tuy nhiên so với nam giới tỷ lệ nữ quản lý vẫn thấp, điều này chủ
yếu do trình độ học vấn của nữ vẫn còn thấp chưa đáp ứng được các yêu cầu cao
cùng với sự phát triển của xã hội.
Bảng 2.2. Phụ nữ tham gia hội đồng nhân dân các cấp
Chức danh Tỷ lệ (%)
Nữ đại biểu HĐND (2011-2016)
- Cấp tỉnh/thành 27,17
- Cấp quận/huyện 24,62
- Cấp xã/phường 21,71
(Nguồn: Bộ lao động – thương binh xã hội)
Trong hơn 10 năm qua Việt Nam luôn có nữ Phó Chủ tịch nước. Tỷ lệ lãnh
đạo nữ ở cấp Trung Ương đã tăng nhưng chậm và ở mức thấp, dưới 10%. Tính đến
hết tháng 2/2013, có 14/30 bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có nữ
15
cán bộ đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo chủ chốt, chiếm tỷ lệ 46,6%, có 23/63 tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương có nữ đảm nhiệm chức vụ Chủ tịch, Phó Chủ tịch
UBND, đạt tỷ lệ 36,5% (giảm 1,59% so với năm 2011). Cũng trong nhiệm kỳ 2011-
2016, tỷ lệ nữ giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp tỉnh là 4,76% (tăng
3,2% so với nhiệm kỳ 2004-2009, trước khi có Luật Bình đẳng giới), cấp huyện là
6% (tăng 2,1%), cấp xã là 5,67% (tăng 1,58%), tỷ lệ nữ giữ chức vụ Phó Chủ tịch
Hội đồng nhân dân cấp tỉnh là 19,05% (giảm 7,51%), cấp huyện 14,09% (giảm
5,55%), cấp xã là 13,06% (tăng 3%). Đặc biệt, lần đầu tiên Việt Nam có 2 ủy viên
Bộ Chính trị là nữ [14].
Đối với lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh thì tỷ lệ lao động nữ tham gia
quản lý điều hành tập trung chủ yếu vào loại hình kinh tế tư nhân, mà loại này
thường là các doanh nghiệp mang tính chất của gia đình, rơi vào những hộ có vốn,
hội từ năm 2011 đến 2013.
3.3. Nội dung nghiên cứu
3.3.1.Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên
- Điều kiện kinh tế - xã hội
3.3.2.Thực trạng vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế xã Hoàng Tung
- Khái quát về thực trạng vai trò của phụ nữ trên địa bàn xã Hoàng Tung
- Thực trạng vai trò của phụ nữ trong các hộ nghiên cứu.
- Một số yếu tố thuận lợi và cản trở việc nâng cao vai trò của phụ nữ nông
thôn trong phát triển kinh tế.
- Đánh giá chung vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ gia
đình theo giai đoạn phát triển tại địa bàn nghiên cứu
3.3.3. Một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát
triển kinh tế hộ gia đình
3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1.Phương pháp thu thập thông tin
3.4.1.1 Số liệu thứ cấp
* Nguồn số liệu: Được thu thập số liệu thống kê, báo cáo sơ kết, tổng kết hằng
năm, nhiệm kỳ của: UBND xã, hội phụ nữ xã. Phòng thống kế huyện Hòa An,
17
phòng thống kê xã Hoàng Tung. Các báo cáo chuyên ngành, tài liệu do UBND xã
cung cấp. Một số sách, báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu có liên quan đến vai
trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn.
Các tài liệu trên giúp đề tài có cái nhìn tổng quan về tình hình lao động, việc
làm nói chung và của phụ nữ nông thôn xã Hoàng Tung. Vai trò của phụ nữ trong
phát triển kinh tế hộ gia đình tại xã Hoàng Tung.
* Phương pháp thu thập: thông qua ghi chép, thống kê các dữ liệu cần thiết
cho đề tài với các chỉ tiêu được chuẩn bị sẵn.
3.4.1.2. Số liệu sơ cấp
a, Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Hòa Lịch 20 10 7 3
Bản Giài 20 6 13 1
Bến Đò 20 10 8 2
Tổng 60 26 28 6
c, Nội dung điều tra
Nôi dung điều tra có các thông tin chủ yếu như: Lao động, trình độ văn hóa,
trình độ chuyên môn của phụ nữ nông thôn. hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ,
sử dụng thu nhập và phúc lợi gia đình, tiếp cận các dịch vụ trợ giúp sản xuất, tình
hình sản xuất các ngành trồng trọt, chăn nuôi… Các thông tin liên quan đến toàn bộ
hoạt động của phụ nữ trong quản lý và điều hành sản xuất, phụ nữ trong hoạt động
sản xuất tạo thu nhập, phụ nữ trong tiếp cận khoa học kỹ thuật, phụ nữ trong quản
lý vốn, phụ nữ trong kiểm soát các nguồn lực của hộ (đất đai, tài chính), được thể
hiện bằng những câu hỏi cụ thể để phụ nữ hiểu và trả lời chính xác, đầy đủ.
3.4.2. Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu
Để có thể quan sát được những thông tin đã thu thập từ những người đã được
phỏng vấn điều tra, tôi sử dụng đồ thị nhằm mục đích đưa tới cho người nghiên cứu,
người đọc cái nhìn trực quan về mức độ phân bố của bộ số liệu và thông tin đã thu thập.
- Phương pháp thống kê, so sánh: Có được các chỉ tiêu nghiên cứu tổng hợp
thành các bảng số liệu, các số liệu được so sánh qua các năm, các nhóm hộ khá,
trung bình, nghèo để thấy được sự khác nhau về thực trạng vai trò của người phụ nữ
qua các năm cũng như trong từng nhóm hộ. Từ đó có thể đưa ra những nhận xét.
- Phương pháp phân tích SWOT: Để phân tích các yếu tố thuận lợi và cản trở
việc nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn trên địa bàn
nghiên cứu.
- Phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm Microsoft Office Excel 2007
để xử lý số liệu.
3.4.3. Hệ thống các chỉ tiêu phân tích
3.4.3.1. Nhóm các chỉ tiêu chung
+ Tổng số hộ, số khẩu, số khẩu nữ
19
đất, xem kẽ giữa đồi là các thung lũng nhỏ hẹp nên có độ dốc cao thấp, biến đổi đa
dạng mang đặc thù của xã miền núi. Địa hình đồi núi đất cao tập trung ở phía Tây
và Tây Nam của xã. Dạng địa hình thung lũng chạy dọc theo sông Bằng Giang nơi
đây đất đai tương đối màu mỡ chủ yếu là trồng lúa được tưới tiêu bởi con sông
Bằng Giang rất thuận lợi cho phát triển cây nông nghiệp.
4.1.1.3. Đặc điểm khí hậu, thủy văn
Nhìn chung khí hậu ôn hòa dễ chịu, với khí hậu cận nhiệt đới ẩm, địa hình đón
gió nên chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các đợt không khí lạnh từ phương Bắc. Mùa hè
ở đây có đặc điểm nóng ẩm, nhiệt độ trung bình hằng năm 26,2ºC, nhiệt độ cao nhất
21
38ºC. Vào mùa đông, do địa hình đón gió nên nhiệt độ thấp nhất xuông -3ºC. Độ ẩm
không khí trung bình 80%, độ ẩm cao nhất 85%, độ ẩm thấp nhất 30%, hằng năm có
sương mù xuất hiện từ tháng 11 năm trước đến tháng 2 năm sau, cứ 2 đến 3 năm lại
xuất hiện 1 đợt sương muối.
Lượng mưa trung bình năm từ 1.500 – 1.800mm. Mùa mưa từ tháng 5 đến
tháng 10, tập trung vào các tháng 6, 7, 8 chiếm 80% luợng mưa, mưa ít nhất trong
các tháng 1, 2, 3.
4.1.1.4. Tình hình sử dụng đất giai đoạn 2011-2013
Hoàng Tung là một xã miền núi với tổng diện tích đất tự nhiên của xã là
2.490,43 ha, với gần 74,56% diện tích là đồi núi, do vậy lâm nghiệp là ngành chiếm
phần lớn diện tích đất tự nhiên. Theo bảng 3.1 có thể thấy trong giai đoạn 2011-
2013 diện tích đất lâm nghiệp có xu hướng giảm nhẹ qua các năm, do chưa làm tốt
công tác bảo vệ rừng và ý thức của người dân chưa cao, thêm vào đó hiện tượng
khai thác quặng sắt ngày càng cao cũng làm giảm diện tích rừng. Đất sản xuất nông
nghiệp và đất chưa sử dụng có xu hướng giảm, đất phi nông nghiệp tăng lên nhưng
không đáng kể. Do các ngành công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn xã giai đoạn này
chưa phát triển, nên sự phân bố và sử dụng đất đai của xã ít có sự biến động.
Qua bảng 3.1 cho thấy, diện tích đất sản xuất nông nghiệp chiếm phần lớn
(93,42%), nhưng phần lớn diện tích này là đất lâm nghiệp, chiếm 79,77% diện tích
đất sản xuất nông nghiệp. Chỉ có 19,44% diện tích đất trồng cây hằng năm và cây
1.2.Đất lâm nghiệp 1856,97 80,29 1856,87 80,28 1855,77 79,77 99,99 99,94 99,96
1.3.Đất nuôi trồng thuỷ sản
0,92
0,04
0,93
0,04 18,53 0,79 101,08 1992,47 1046,7
2.Đất phi nông nghiệp 169,38 6,80 169,92 6,82 156,43 6,28 100,31 92,06 96,18
2.1. Đất ở 32,01 18,90 33,86 19,93 33,84 21,63 105,77 99,94 102,85
2.2. Đất chuyên dùng* 137,37 81,10 136,06 80.07 122,59 78,37 99,04 90,09 94,56
3.Đất chưa sử dụng 8,36 0,34 7,49 0,3 7,49 0,3 89,59 100 94,79
(* Đất chuyên dùng gồm cả đất tôn giáo tín ngưỡng, đất nghĩa trang nghĩa địa, đất sông suối mặt nước chuyên dùng)
(Nguồn: Phòng địa chính xã Hoàng Tung)
23
4.1.1.5. Tài nguyên khoáng sản
Hoàng Tung có mỏ quặng sắt ở Bó Lếch và Hoà Lịch với trữ luợng khoảng
300.000 tấn. Mỏ Hào Lịch đã khai thác hết và đã được hoàn thổ để chuyển xang
trồng cây lâu năm. Trên địa bàn xã còn có mỏ quặng sắt Bó Bủn, cát sỏi ở xóm
Làng Đền, Na Lữ…
4.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội
4.1.2.1. Dân số và lao động
* Dân số:
Qua bảng 4.2. cho thấy, năm 2013 toàn huyện có 3.347 người, trong đó có tới
85,01% người dân hoạt động trong lĩnh vực nông lâm nghiệp, dân số hoạt động ở
lĩnh vực phi nông nghiệp chỉ chiếm có 14,99%. Số nhân khẩu hoạt động nông
nghiệp và phi nông nghiệp qua các năm đều tăng nhưng tốc độ tăng của nhân khẩu
phi nông nghiệp cao hơn. Số nhân khẩu trong 1 hộ khoảng 4 người, số nhân khẩu
nông nghiệp/hộ nông nghiệp là 4,06 người/hộ.
Trong những năm qua, dân số vẫn không ngừng tăng lên (từ 3.184 người năm
2011, 3.321 người năm 2012 lên đến 3.347 người năm 2013).
Tốc độ tăng dân số của năm sau cao hơn năm trước. Điều này đã đặt ra nhiều
bình
quân
1. Tổng số hộ Hộ 805 100 815 100 826 100 101,24 101,35 101,29
- Hộ nông nghiệp Hộ 749 93,04 754 92,52 738 89,35 101,66 97,88 99,77
- Hộ phi nông nghiệp Hộ 56 6,96 61 7,48 88 10,65 108,92 144,26 126,59
2. Tổng số khẩu Người 3.184 100 3.321 100 3.347 100 104,30 100,78 102,54
- Nhân khẩu nông nghiệp Người 2932 92,08 3045 91,69 2.996 89,51 103,85 98,39 101,12
- Nhân khẩu phi nông nghiệp Người 252 7,91 276 8,31 351 10,49 109,52 127,17 118,34
3. Tổng số lao động Người 1871 100 1941 100 2.141 100 103,74 110,30 107,02
- Lao động nông nghiệp Người 1.675 89,52 1722 88,72 1.820 85,01 102,80 105,69 104,24
- Lao động phi nông nghiệp Người 196 10,48 219 11,28 321 14,99 111,73 146,57 129,15
4. Các chỉ tiêu khác
- Tỷ lệ tăng dân số % 1,22 1,23 1,25
- Bình quân khẩu/hộ Người/hộ 3,95 4,07 4,05
- Bình quân khẩu NN/hộ NN Người/hộ 3,92 4,03 4,06
(Nguồn: Phòng thống kê xã Hoàng Tung năm 2011, 2012, 2013)
25