LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận
này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận
này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều được chỉ
rõ nguồn gốc. Đồng thời tôi xin cam đoan rằng trong quá trình thực hiện đề
tài này tại địa phương tôi luôn chấp hành đúng mọi quy định của địa phương
nơi thực hiện đề tài.
Hà Nội, ngày 4 tháng 6 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Hải Yến
i
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian thực tập tốt nghiệp tốt nghiệp, để hoàn thành Khóa
luận tốt nghiệp này ngoài sự cố gắng của bản thân tôi đã nhận được sự giúp
đỡ nhiệt tình về nhiều mặt của các tổ chức và các cá nhân trong và ngoài
trường.
Trước tiên, tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến Ban giám hiệu
trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Khoa Kinh tế và PTNT, Bộ môn Phát
triển nông thôn và các thầy, cô giáo đã tạo đã trang bị cho tôi những kiến thức
và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành Khóa luận này.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo PGS.TS.
Nguyễn Thị Minh Hiền, người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Khóa luận.
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của lãnh đạo UBND xã Đồng
Tuyển, các bác, các chú, các anh, chị trong UBND xã, và các hộ gia đình
trong xã Đồng Tuyển đã tạo điều kiện, giúp đỡ, cung cấp số liệu báo cáo, tư
liệu khách quan và nói lên những suy nghĩ của mình để giúp tôi hoàn thành
Khóa luận này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã ủng hộ và giúp
đỡ tôi nhiệt tình trong quá trình học tập và nghiên cứu của mình.
trồng trọt, chăn nuôi và tiểu thủ công nghiệp. Tuy nhiên việc tiếp cận nguồn
lực sản xuất còn có nhiều khó khăn. Chỉ có 6,25% Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất có tên cả vợ và chồng. Nguồn vốn chủ yếu là đi vay ở ngân hàng
nhưng phải có sự đồng ý của chủ hộ (thường là nam giới). Về việc tiếp cận,
iii
quản lý và sử dụng nguồn tài chính trong gia đình thì chủ yếu là thuộc về
người chồng, đặc biệt trong những việc lớn thì người chồng là người có quyết
định cuối cùng quan trọng nhất.
Những công việc gia đình dường như là dành riêng cho phụ nữ, họ
cũng đã nhận được sự giúp đỡ từ chồng nhưng vẫn còn hạn chế. Phụ nữ dân
tộc thiểu số ở xã cũng đã tham gia nhiều hơn vào các tổ chức đoàn thể nhưng
còn ở vị trí thứ yếu, tỷ lệ phụ nữ tham gia vào Hội phụ nữ là khá lớn Thời
gian làm việc của phụ nữ trong một ngày nhiều hơn nam giới (trung bình là
13,1 giờ/ngày) và phụ nữ dân tộc Giáy, Dao làm nhiều thời gian hơn phụ nữ
dân tộc Kinh (thời gian làm việc/ngày của phụ nữ dân tộc Giáy, Dao và Kinh
lần lượt là 13,6 giờ/ngày, 13,5 giờ/ngày và 12,2 giờ/ngày). Mặc dù phụ nữ
làm nhiều việc hơn và đóng góp nhiều sức lực hơn cho gia đình nhưng người
chồng lại là người đóng góp nhiều tiền nhất vào thu nhập gia đình.
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong
phát triển kinh tế gia đình như quan niệm của xã hội vẫn còn có định kiến
giới, khả năng tiếp cận thông tin còn thấp, sự giúp đỡ của chồng còn hạn chế,
trình độ của chị em còn hạn chế… và đặc biệt là ý thức về vai trò của bản
thân của nhiều chị em vẫn chưa cao.
Để nâng cao vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế
gia đình, cần thực hiện tốt các giải pháp như xóa bỏ tư tưởng, quan niệm cổ
hủ, định kiến giới, nâng cao khả năng tiếp cận thông tin, nâng cao trình độ
cho phụ nữ dân tộc thiểu số… và đặc biệt là mỗi chị em phụ nữ cần nâng cao
trình độ của bản thân, tiếp thu những kiến thức mới để từ đó chị em tự tin vào
bản thân, phát huy hết khả năng của mình, đóng góp vào sự phát triển của gia
đình và xã hội. Nâng cao vai trò của phụ nữ, đặc biệt phụ nữ dân tộc thiểu số
2.2.5 Những chính sách trong phát triển phụ nữ DTTS ở Việt Nam 23
2.2.6 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội của một số DTTS (dân tộc Giáy, Dao) 26
2.3 Các nghiên cứu có liên quan 31
PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 34
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 34
3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 37
3.2 Phương pháp nghiên cứu 45
3.2.1 Phương pháp tiếp cận 45
v
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 45
3.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 47
3.2.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu 47
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 48
4.1 Thực trạng vai trò của phụ nữ DTTS trong phát triển kinh tế hộ gia đình 48
4.1.1 Thông tin chung về hộ điều tra 48
4.1.2 Phụ nữ DTTS đối với vai trò sản xuất 55
4.1.3 Phụ nữ DTTS đối với vai trò tái sản xuất 70
4.1.4 Phụ nữ DTTS đối với vai trò cộng đồng 75
4.1.5 Sự đóng góp vào thu nhập gia đình và thời gian làm việc trong ngày của các hộ điều tra 82
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ DTTS trong phát triển kinh tế hộ gia đình 85
4.2.1 Nhóm nhân tố bên ngoài 85
4.2.2 Nhóm nhân tố bản thân phụ nữ 88
4.3 Định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ DTTS trong phát triển kinh tế hộ
gia đình 92
4.3.1 Định hướng 92
4.3.2 Giải pháp 93
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 99
5.1 Kết luận 99
5.2 Kiến nghị 101
Hộp 4.2 Sự chia sẻ của người chồng trong việc nhà 74
Hộp 4.3 Quyết định trong việc định hướng nghề nghiệp cho con 75
Hộp 4.4 Hoạt động của Hội phụ nữ giúp ích cho chị em trong xã 82
Hộp 4.5 Chăm sóc sức khỏe của bản thân phụ nữ còn nhiều hạn chế 91
viii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BVTV Bảo vệ thực vật
CC Cơ cấu
CNH- HĐH Công nghiệp hóa- hiện đại hóa
DTTS Dân tộc thiểu số
ĐVT Đơn vị tính
HĐT Hộ điều tra
KHKT Khoa học kỹ thuật
KHHGĐ Kế hoạch hóa gia đình
LĐ Lao động
SX Sản xuất
TC- CĐ- ĐH Trung cấp- Cao đẳng- Đại học
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
TM- DV- TTCN Thương mại - Dịch vụ- Tiểu thủ công nghiệp
UBND Ủy ban nhân dân
ix
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, kinh tế nông thôn Việt Nam đã có sự
chuyển biến đáng kể, và đảm bảo vai trò quan trọng trong việc cung cấp
lương thực cho toàn xã hội. Sự phát triển của các thành phần kinh tế nông
thôn là một trong những động lực tạo ra sự phát triển đó của kinh tế nông
vẫn còn chịu nhiều thiệt thòi, những định kiến truyền thống về giới vẫn ăn sâu
trong tiềm thức của mỗi con người, phụ nữ là nạn nhân của những hủ tục, tập
quán truyền thống lạc hậu, của tệ phân biệt đối xử trọng nam, khinh nữ vẫn
tồn tại thâm căn cố đế trong xã hội nông thôn, điều này được dư luận xã hội
phần nào ủng hộ nên nó trở thành lực cản đối với nữ giới trong quá trình phát
huy năng lực vốn có đối với đời sống gia đình và xã hội. Bản thân người phụ
nữ nông thôn vẫn giữ lối sống khép kín, chưa thực sự mạnh dạn tham gia các
hoạt động văn hóa xã hội (giải trí, nghỉ ngơi, trau dồi tri thức, tham gia vào
công tác xã hội, chăm lo sức khỏe…)
Cùng chung một thực trạng trên nhưng vấn đề này càng được thể hiện
rõ nét ở các vùng sâu, vùng xa của đất nước. Bởi điều kiện về dân trí, nhận
thức của người phụ nữ còn nhiều lạc hậu. Ngoài ra tại những vùng này vẫn
còn nhiều hủ tục, những lối suy nghĩ phong kiến về vai trò của người phụ nữ
trong gia đình.
Đồng Tuyển là 1 xã giàu truyền thống cách mạng, sản xuất nông
nghiệp là chủ yếu. Trong xã có 3 dân tộc Giáy, Dao, Kinh cùng sinh sống.
Những năm gần đây, nhờ thực hiện đường lối của Đảng, xã đã chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp có hiệu quả, tăng thu nhập, đời sống vật chất và tinh
thần của người dân thực sự được nâng cao. Để đạt được những thành tựu đó
không thể không kể đến vai trò của những người phụ nữ dân tộc thiểu số. Họ
2
có nhiều đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế hộ gia đình và phát triển
kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương. Tuy có vai trò quan trọng như vậy
nhưng vai trò quan trọng của họ vẫn chưa được nhìn nhận một cách đúng đắn
mà chỉ đơn thuần là người nội trợ trong gia đình.
Vậy, người phụ nữ dân tộc thiểu số xã Đồng Tuyển đã có những đóng
góp gì cho sự phát triển của kinh tế hộ gia đình? Làm thế nào để có thể nâng
cao vai trò của người phụ nữ dân tộc thiểu số trên địa bàn?
Xuất phát từ thực trạng đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Vai
Thời gian thu thập số liệu thứ cấp: Các số liệu đã công bố trong khoảng
thời gian từ 2010 – 2013 và các số liệu từ 2013 trở về trước.
Thời gian thu thập số liệu sơ cấp: Các số liệu thu thập trong năm 2014
Thời gian thực hiện đề tài: từ 23/01 đến 24/05 năm 2014
-Phạm vi về không gian
Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại xã Đồng Tuyển, thành phố Lào Cai,
tỉnh Lào Cai.
4
PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản
2.1.1.1 Khái niệm giới, giới tính
* Khái niệm về giới
Giới là sự khác biệt giữa nam và nữ về góc độ xã hội, các đặc điểm
khác nhau do xã hội quyết định, các mối quan hệ giữa nam và nữ do xã hội
lập nên. Các vai trò của giới được xác định bởi các đặc tính xã hội, văn hóa và
kinh tế, được nhận thức bởi các thành viên trong xã hội đó. Do đó vai trò của
giới có sự biến động và thay đổi qua thời gian và không gian (Trần Thị Quế,
1999 và Nancy J. Hafkin, 2002).
Giới là các mối quan hệ và tương quan về vai trò, trách nhiệm, quyền
lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ, bao gồm việc phân công lao động, các
kiểu phân chia các nguồn lợi ích, khả năng tiếp cận tới nguồn lực. Giới được
quy định bởi các đặc điểm và điều kiện kinh tế, văn hóa và xã hội của từng
địa phương, từng dân tộc và quốc gia.
* Khái niệm về giới tính
Giới tính là những sự khác biệt về đặc tính sinh học giữa phụ nữ và
nam giới. Sự khác biệt này chủ yếu liên quan đến quá trình tái sản xuất nòi
giống. Vai trò sinh học đó là đồng nhất, phổ biến và không thay đổi.
Như vậy, các các nhân và các tổ chức khi nhìn nhận và quan niệm về
hộ không giống nhau. Tuy nhiên trong đó cũng có những nét chung để phân
biệt về hộ đó là:
- Chung hay không chung huyết tộc
- Cùng sống chung dưới một mái nhà
- Cùng chung nguồn thu nhập (ngân quỹ)
- Cùng ăn chung
6
- Cùng tiến hành sản xuất chung.
(Đỗ Văn Viện – Đặng Văn Tiến, 2006, Bài giảng Kinh tế hộ nông dân,
Đại học Nông nghiệp I, NXB Nông nghiệp).
* Khái niệm gia đình
Gia đình là một nhóm xã hội được hình thành trên cơ sở hôn nhân và
quan hệ huyết thống, những thành viên trong gia đình có sự gắn bó và ràng
buộc với nhau về trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ có tính hợp pháp được nhà
nước thừa nhận và bảo vệ ().
* Khái niệm hộ gia đình
Hộ gia đình được dùng để biểu thị các thành viên của nó có chung
huyết tộc, quan hệ hôn nhân và có chung một cơ sở kinh tế. Các thành viên
cùng đóng góp công sức, tài sản chung để hợp tác kinh tế chung trong hoạt
động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc trong một số lĩnh vực kinh doanh
khác do pháp luật quy định; là chủ thể trong các quan hệ dân sự đó (Điều 107.
Dự thảo luật dân sự).
* Khái niệm khái niệm kinh tế hộ gia đình
Theo Frank Ellis (1988), kinh tế hộ nông dân là “các nông hộ thu hoạch
các phương tiện sống từ đất, chủ yếu sử dụng lao động gia đình trong sản xuất
nông trại, nằm trong hệ thống kinh tế rộng hơn nhưng về cơ bản được đặc
trưng bằng việc tham gia một phần thị trường hoạt động với một tốc độ không
hoàn chỉnh”.
Do đó mà kinh tế hộ gia đình có ý nghĩa quan trọng. Phát triển kinh tế hộ gia đình
là một phần tất yếu để tạo nền tảng phát triển kinh tế đất nước.
2.1.1.4 Khái niệm về dân tộc thiểu số
Dân tộc thiểu số là một khái niệm khoa học được sử dụng phổ biến trên
thế giới hiện nay. Các học giả phương Tây quan niệm rằng, đây là một thuật
ngữ chuyên ngành dân tộc học (minority ethnic) dùng để chỉ những dân tộc có
dân số ít.
Việt Nam là một quốc gia thống nhất gồm 54 dân tộc thành viên, với
khoảng trên 80 triệu người. Trong tổng số các dân tộc nói trên thì dân tộc Việt
(Kinh) chiếm 86,2% dân số, được quan niệm là dân tộc đa số, 53 dân tộc còn
8
lại, chiếm 13,8% dân số được quan niệm là dân tộc thiểu số trong cộng đồng
các dân tộc Việt Nam.
Như vậy, khái niệm Dân tộc thiểu số dùng để chỉ những dân tộc có số
dân ít, chiếm tỷ trọng thấp trong tương quan so sánh về lượng dân số trong
một quốc gia đa dân tộc.
(ThS. Lô Quốc Toản, Quan niệm về dân tộc thiểu số và Cán bộ dân tộc
thiểu số hiện nay, Học viện Chính trị khu vực I, Học viện Chính trị - Hành
chính Quốc gia Hồ Chí Minh)
2.1.2 Vai trò giới
* Khái niệm
Vai trò giới là những công việc và những hoạt động cụ thể mà phụ nữ
và nam giới thực tế đang làm. Thông thường đây cũng là công việc mà xã hội
trông chờ ở mỗi cá nhân với tư cách là đàn ông hay đàn bà (Nguyễn Thị Minh
Hiền, Bài giảng “Giới trong phát triển nông thôn”, Khoa Kinh tế và PTNT,
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Hà Nội).
Trên thực tế thì phụ nữ và nam giới đóng vai trò khác nhau trên 3 mặt:
* Vai trò sản xuất
Vai trò sản xuất bao gồm những công việc do cả nam giới và nữ giới
đồng như các hoạt động chung của cộng đồng: xây dựng cơ sở hạ tầng, quản
lý tài sản công, tham gia vào lễ hội, văn hóa, giáo dục, y tế, quản lý nguồn
nước, quản lý và bảo vệ rừng, giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường ở cộng
đồng. Thường thì phụ nữ tham gia vào các hoạt động như lễ hội, giáo dục
mầm non, y tế cơ sở, kiếm củi, lấy nước, quản lý tài nguyên thiên nhiên. Trừ các
hoạt động y tế, giáo dục, y tế cơ sở, các hoạt động còn lại là những công việc
“không được trả công” và là việc làm có tính “tự nguyện và tự nguyện”. Đối với
phụ nữ, công việc này như là một sự mở rộng vai trò tái sản xuất của họ.
- Vai trò lãnh đạo cộng đồng
Nam và nữ có vai trò khác nhau trong tham gia các hoạt động lãnh đạo
quản lý cộng đồng. Lãnh đạo cộng đồng là lãnh đạo các tổ chức của cộng
đồng (các tổ chức chính trị - xã hội khác nhau) như Chủ tịch UBND xã, Hội
nông dân, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh… Lãnh đạo cộng đồng trong một
xã hội chính trị - dân sự phát triển được chia ra thành hai nhóm: Nhóm thuộc
hệ thống quản lý nhà nước (Chủ tịch UBND từ tỉnh trở xuống trưởng thôn,
trưởng xóm) và được ngân sách Nhà nước chi trả; Nhóm thuộc xã hội dân sự
10
(các hiệp hội, các tổ chức tự nguyện của cộng đồng) và được kinh phí tự tạo
của các tổ chức đó chi trả. Dù là ở nhóm nào thì phần lớn việc lãnh đạo cộng
đồng đều được trả tiền trực tiếp hoặc gián tiếp, bằng tiền công hoặc tăng thêm
vị thế và quyền lực. Thông thường, các công việc này do nam giới thực hiện.
Một số ít các vai trò lãnh đạo do nữ giới đảm nhiệm.
2.1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò giới
2.1.3.1 Quan điểm truyền thống từ xa xưa để lại
Việt Nam là một nước thuộc khu vực Đông Nam Á với nhiều năm dưới
ách thống trị của chế độ phong kiến, bị ảnh hưởng rất lớn của tư tưởng Nho
giáo, nên còn lưu giữ nhiều phong tục tập quán, kể cả những phong tục cổ hủ
và lạc hậu.
Ở nông thôn, đặc biệt là những vùng có DTTS sinh sống thì tư tưởng
động nữ chưa qua đào tạo là 80,9%, khu vực nông thôn gần 90%, chỉ có
3,65% lao động nữ ở nông thôn có chứng chỉ nghề. Phụ nữ bị hạn chế về trình
độ học vấn, chuyên môn nên khả năng tiếp thu và áp dụng những tiến bộ khoa
học kỹ thuật còn khó khăn, làm cho hiệu quả công việc và năng suất lao động
thấp, do đó mà đóng góp của phụ nữ đối với kinh tế hộ gia đình còn hạn chế.
2.1.3.4 Tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực sản xuất
Mặc dù đã có những tiến bộ về cải thiện địa vị của phụ nữ, nhưng vẫn
còn những chênh lệch trong việc tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực chủ yếu
như đất đai, nguồn vốn… giữa nam và nữ trong gia đình.
Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là một trong những thành
công lớn của công cuộc đổi mới chính sách giao đất ở Việt Nam. Luật đất đai
và Luật hôn nhân và gia đình đảm bảo cho phụ nữ và nam giới được hưởng
các quyền như nhau đối với nam giới và phụ nữ. Nhưng trong thực tế, Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình cũng như sổ địa chính
của địa phương chỉ đăng ký tên chủ hộ là nam giới chiếm đại đa số. Tình
trạng này đã gây khó khăn cho phụ nữ khi họ cần thế chấp quyền sử dụng đất
để vay vốn, chia đất khi ly hôn, khi lấy chồng hoặc thừa kế đất khi người
chồng qua đời. Phần lớn phụ nữ khó đáp ứng được đầy đủ các điều kiện vay
12
vốn tín dụng chính thức vì họ không phải là chủ hộ và không đứng tên trên
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Từ năm 2003 đến nay, Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đã được ghi tên cả vợ và chồng. Từ đây, phụ nữ được tiếp
cận với đất đai một cách dễ dàng hơn.
Nâng cao khả năng tiếp cận và kiểm soát nguồn lực cho phụ nữ không
chỉ tạo điều kiện phát triển mà còn là cơ hội để nâng cao vai trò và vị thế của
người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội.
2.1.3.5 Khả năng tiếp cận thông tin của phụ nữ
Ngoài thời gian làm việc để tạo ra thu nhập cho gia đình, phụ nữ còn
bận rộn với công việc nội trợ, chăm sóc con cái. Do đó mà việc tiếp cận các
hoàn thiện về các quan điểm về nâng cao vai trò của phụ nữ như “Phụ nữ
trong phát triển – Women in Development – WID”, “Phụ nữ và phát triển –
Women and Development – WAD” và “Giới và phát triển – Gender and
Development – GAD”.
* Quan điểm “Phụ nữ trong phát triển” (WID)
Quan điểm này ra đời vào những năm đầu của thập kỷ 70 của thế kỷ 20
tại Ủy ban phụ nữ thuộc tiểu ban xã hội Washington. Quan điểm này đặt trọng
tâm vào phụ nữ, trên cơ sở giải quyết các vấn đề của phụ nữ nảy sinh trong
quá trình phát triển. Cách tiếp cận WID đòi hỏi công bằng xã hội và quyền lợi
cho phụ nữ.
Các quan niệm trước đây chỉ nhìn nhận phụ nữ trong vai trò người vợ,
người mẹ nên chính sách đối với phụ nữ chỉ giới hạn ở phúc lợi xã hội và sinh
đẻ. Quan điểm WID đã chú trọng đến vai trò sản xuất của phụ nữ, chủ trương
đưa phụ nữ vào hòa nhập nền kinh tế đất nước, coi việc tiếp cận với cơ hội có
việc làm trong sản xuất và tham gia công tác xã hội là biện pháp nâng cao vai
trò, địa vị của phụ nữ.
Tuy nhiên, WID cũng bộc lộ những thiếu sót như sau (Kabeer 1994):
- WID được xây dựng trên cơ sở lý thuyết cổ điển với giả định rằng,
phụ nữ không có cơ hội tham gia vào các chương trình phát triển ở hầu hết
các nước đang phát triển.
- WID chỉ ra rằng, phụ nữ bị đối xử bất công bằng trong xã hội nhưng
14
không chỉ rõ được nguồn gốc của sự bất bình đẳng đó.
- Mặc dù mục tiêu chính của WID là đưa phụ nữ vào các chương trình
phát triển song nó không hề đặt câu hỏi rằng, tại sao phụ nữ hầu như không
được hưởng lợi từ các chương trình chiến lược đó.
- WID hầu như chỉ tập trung giải quyết sự bất bình đẳng giới trong khía
cạnh sản xuất mà quên đi các vai trò quan trọng khác của phụ nữ như tái sản
xuất và sinh hoạt cộng đồng.
vì vậy, phân tích theo quan điểm GAD đã đề xuất được các hướng giải quyết
không chỉ nhằm giải quyết các vấn đề trước mắt mà cả những nguyên nhân
sâu xa của vấn đề nghiên cứu.
Quan điểm GAD cung cấp cơ sở lý luận cho việc xem xét vai trò của
phụ nữ trong mối tương quan với vai trò của nam giới trong phát triển cộng
đồng xã hội trên mọi lĩnh vực hoạt động khác nhau. Cần đánh giá những đóng
góp của phụ nữ đối với cộng đồng, tìm hiểu nhu cầu, nguyện vọng, tạo điều
kiện để phụ nữ phát huy được năng lực của mình, chủ động cùng nam giới
tham gia các hoạt động phát triển kinh tế gia đình và cộng đồng, các hoạt
động văn hóa, chính trị, chăm sóc sức khỏe sinh sản… Quan trọng là hình
thành được thói quen, các chuẩn mực và giá trị mới về vai trò phụ nữ trong
cộng đồng ở trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn hội nhập và phát triển.
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Vai trò của phụ nữ DTTS trong phát triển kinh tế hộ
gia đình trên thế giới
Trên toàn thế giới, phụ nữ đóng vai trò then chốt trong gia đình về khả
năng sản xuất và tái sản xuất. Họ chiếm trên 50% trong tổng số lao động, số
giờ lao động của họ chiếm 2/3 tổng giờ lao động của xã hội và sản xuất ra 1/2
trong tổng sản lượng nông nghiệp. Cùng với việc đảm nhiệm nhiều công việc
khác nhau, lao động nữ chiếm tỷ lệ ngày càng cao trong các nghành công
nghiệp, dịch vụ với trình độ không ngừng được nâng cao. Tại Châu Phi, Châu
Á và Thái Bình Dương, trung bình một tuần phụ nữ làm việc nhiều hơn nam
giới 12-13 giờ và có ít thời gian để nghỉ ngơi hơn. Hầu hết mọi nơi trên thế
giới, phụ nữ được trả công thấp hơn so với nam giới cho cùng một loại công
việc. Thu nhập của phụ nữ bằng khoảng 50-90% thu nhập của nam giới (Báo
16