Vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế hộ tại xã Hoàng Đồng - thành phố Lạng Sơn - tỉnh Lạng Sơn. - Pdf 29

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VŨ THỊ HÀ LINH Tên đề tài:
“VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG PHÁT TRIỂN
KINH TẾ HỘ TẠI XÃ HOÀNG ĐỒNG - THÀNH PHỐ LẠNG SƠN -
TỈNH LẠNG SƠN” KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chinh quy
Chuyên ngành : Phát triển nông thôn
Khoa : Kinh tế & Phát triển nông thôn
Khóa học : 2010 - 2014


Khoa Kinh tế & PTNT - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Thái Nguyên - 2014 LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận này là do chính tôi thực hiện dưới sự
hướng dẫn khoa học của cô giáo PGS TS. Đinh Ngọc Lan.
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực và chưa
hề được công bố hoặc sử dụng để bảo vệ một học hàm nào.
Khóa luận đã sử dụng thông tin từ nhiều nguồn khác nhau. Các thông
tin trích dẫn trong khóa luận này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 5 năm 2014
Sinh viên Vũ Thị Hà Linh LỜI CẢM ƠN

Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cần thiết và hết sức quan trọng của mỗi
sinh viên, giúp sinh viên bước đầu tiếp cận với thực tế, nhằm củng cố và vận
dụng những kiến thức mà mình đã học được trong nhà trường vào thực tế, tạo
điều kiện cho sinh viên khi ra trường được trang bị đầy đủ cả kiến thức lý luận
và thực tiễn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Xuất phát từ nguyện vọng bản thân và được sự đồng ý của ban Giám hiệu

UBND Ủy ban nhân dân
HĐND Hội đồng nhân dân
KHKT Khoa học kinh tế
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
HTX Hợp tác xã
THCS Trung học cơ sở
KHHGĐ Kế hoạch hóa gia đình
ATGT An toàn giao thông
TDTT Thể dục thể thao
DTTS Dân tộc thiểu số
CNH-HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
PN Phụ nữ
ND Nhân dân
TV Tivi
THCS Trung học cơ sở
DT Dân tộc
THPT Trung học phổ thông DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang
Bảng số 3.1: Hiện trạng sử dụng đất đai của xã Hoàng Đồng năm 2013 39
Bảng số 3.2: Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính

Hình 3.1: Biểu đồ cơ cấu sử dụng đất xã Hoàng Đồng năm 2013 39
Hình 3.2: Biểu đồ cơ cấu phụ nữ DTTS tham gia sinh hoạt đoàn thể
năm 2013 49
Hình 3.3: Biểu đồ trình độ văn hóa của phụ nữ trong các nhóm hộ 56
Hình 3.4: Biểu đồ nguồn tiếp cận thông tin của phụ nữ DTTS 64
Hình 3.5: Biểu đồ việc phụ nữ đứng tên trong giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất 65

MỤC LỤC

Trang
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1. Mục tiêu chung 2

1.1.3. Quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng
ta về giải phóng phụ nữ 11

1.1.3.1. Quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về giải phóng phụ nữ 11

1.1.3.2.Tư tưởng của Hồ Chí Minh và Đảng ta về giải phóng phụ nữ 13

1.1.4. Quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng
ta về bình đẳng giới 15

1.1.4.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về bình đẳng giới 15

1.1.4.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới 16
1.1.4.3. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về bình đẳng giới 18

1.2. Cơ sở thực tiễn 21
1.2.1. Khái quát thực trạng vai trò của phụ nữ dân tộc ít người ở một số nước
trên thế giới 21

1.2.2. Thực trạng vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế ở
nước ta hiện nay 23

1.2.3. Những chính sách trong phát triển phụ nữ DTTS ở Việt Nam 24

1.2.4. Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội của DTTS (dân tộc Tày, Nùng) 27

1.2.4.1. Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội của dân tộc Tày 27

2.4.3.1. Phương pháp xử lý số liệu 35

2.4.3.2. Phương pháp phân tổ thống kê 36

2.4.3.3. Phương pháp thống kê so sánh 36

2.4.3.4. Phương pháp phân tích giới 36
PHẦN 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37
3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 37
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 37

3.1.1.1. Vị trí địa lý 37

3.1.1.2. Địa hình, địa mạo 37

3.1.1.3. Khí hậu 38

3.1.1.4. Thủy văn 38

3.1.1.5. Tình hình phân bổ và sử dụng đất năm 2013 38

3.1.2. Tình hình sản xuất và phát triển kinh tế - xã hội 40

3.1. 2.1. Tình hình sản xuất nông nghiệp 40

3.1.2.2. Tình hình thực hiện xây dựng nông thôn mới tại xã Hoàng Đồng 42


3.2.2.5. Khả năng tiếp cận nguồn thông tin của phụ nữ DTTS ở các hộ
nghiên cứu. 63

3.2.2.6. Vai trò của phụ nữ DTTS trong kiểm soát nguồn lực của hộ 65
3.2.3. Những thành tựu và hạn chế trong việc khai thác, phát huy vai trò của
phụ nữ dân tộc thiểu số 67

3.2.3.1. Mặt thành tựu 67

3.2.3.2 Mặt hạn chế 68

3.2.4. Nguyên nhân của sự hạn chế việc phát huy vai trò của phụ nữ dân tộc
thiểu số trong quá trình phát triển kinh tế 69

3.2.4.1. Yếu tố tự nhiên 69

3.2.4.2. Yếu tố kinh tế 69

3.2.4.3. Yếu tố văn hóa xã hội 69

3.2.4.4. Bản thân người phụ nữ 70

3.2.4.5. Sự quan tâm của chính quyền, đoàn thể 71

3.3. Những phương hướng cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò
của phụ nữ dân tộc thiểu số trong quá trình phát triển kinh tế hộ tại địa bàn
nghiên cứu 71

dân tộc Kinh chiếm đa số, trong đó có tới 53 dân tộc ít người, họ sống trải dài
trên mảnh đất hình chữ S.

Phụ nữ DTTS nước ta là những chủ nhân của đất
nước, có tiềm năng lớn tác động trực tiếp đến sự phát triển ngay trên chính
quê hương họ. Nhưng thực trạng hiện nay cho thấy, vấn đề việc làm, thu
nhập, địa vị của người phụ nữ là những vấn đề bức xúc đối với phụ nữ vùng
dân tộc thiểu số. Bởi vì, đại bộ phận các gia đình ở các dân tộc thiểu số đang
sống ở mức nghèo đói, nhất là ở vùng cao, vùng sâu, miền núi. Trong bộ phận
dân cư ấy, phụ nữ lại là nhóm xã hội cực khổ nhất. Họ vừa tham gia lao động
sản xuất ngoài xã hội, cộng đồng, lại vừa trực tiếp chăm lo công việc gia đình
nên cường độ lao động và thời gian lao động đối với họ là quá tải trong khi
mức thu nhập lại thấp, thậm chí họ lao động vất vả nhưng ít được cộng đồng,
xã hội quan tâm. Bên cạnh đó, điều kiện để phát triển sản xuất, nâng cao đời
sống còn rất nhiều hạn chế, yếu kém: trình độ sản xuất, tư liệu lao động, kết
cấu hạ tầng, nguồn vốn Hơn thế nữa, phụ nữ vùng dân tộc thiểu số chính là
người trực tiếp tham gia các hoạt động kinh tế, trực tiếp sản xuất nhưng ít có
cơ hội, điều kiện tiếp thu khoa học kỹ thuật. Trình độ học vấn nói chung là
thấp, công việc nội trợ gia đình, sinh đẻ và nuôi dạy con cái cũng làm hạn chế
năng lực sản xuất của phụ nữ. Do đó cần quan tâm hơn tới họ, tạo điều kiện
cho họ phát huy được vai trò của mình trong phát triển kinh tế cũng như vai 2
trò đối với xã hội. Nhằm từng bước đẩy lùi bất bình đẳng giới, thay đổi nhận
thức của người dân về vai trò của người phụ nữ, phát triển kinh tế xã hội và
giữ vững an ninh quốc phòng.
Hoàng Đồng là một xã có điều kiện tương đối phát triển là một xã trực
thuộc thành phố Lạng Sơn, xã có cơ sở hạ tầng còn kém phát triển, nhất là
giao thông đường bộ ở một số xã xa trung tâm còn gây khó khăn cho việc đi

- Tìm hiểu mặt được và mặt hạn chế, cơ hội và thách thức trong việc
phát huy vai trò của phụ nữ DTTS trong phát triển kinh tế hộ, xây dựng được
giải pháp đẩy mạnh vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình.
3. Ý nghĩa của đề tài
3.1. Ý nghĩa về mặt học tập
Đề tài là cơ hội cho em được học tập, rèn luyện, đi sâu vào thực tế,
được áp dụng kiến thức đã học vào thực tế. Tích lũy thêm những kiến thức
mới cho bản thân nhằm phục vụ cho công tác sau này. Ngoài ra, đề tài còn là
cơ hội cho em được nghiên cứu, tìm hiểu về đời sống của người dân trên địa
bàn xã nơi mình đang sinh sống, từ đó hiểu thêm về tình hình tại địa phương
và có những dự định ấp ủ để phát triển quê hương.
3.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp nhìn nhận đúng hơn về vai trò
của người phụ nữ dân tộc thiểu số nói riêng và vai trò của người phụ nữ nói
chung trong phát triển kinh tế gia đình. Từ đó nâng cao nhận thức của chính
người phụ nữ và người dân về vai trò của phụ nữ, góp phần phát huy hơn nữa
vai trò của người phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế của chính
gia đình họ, đóng góp vào sự phát triển của địa phương.
4. Yêu cầu của đề tài
- Đề tài phải có số liệu chính xác, khách quan.
- Đề tài phải đánh giá đúng được vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số
trong phát triển kinh tế hộ tại địa phương.
- Đề tài phải đưa ra giải pháp phù hợp, khả thi.
5. Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận kiến nghị đề tài gồm 3 phần như sau:
Phần mở đầu
Phần 1: Tổng quan tài liệu
Phần 2: Đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Phần 3: Kết quả nghiên cứu.
Phần kết luận và kiến nghị

Giới là yếu tố luôn biến đổi cũng như tương quan về địa vị trong xã hội
của nữ giới và nam giới, không phải là hiện tượng bất biến mà liên tục thay
đổi. Nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể. "Giới là sản
phẩm của xã hội, có tính xã hội, dùng để phân biệt sự khác nhau trong quan 5
hệ nam và nữ. Đây là cơ sở để nghiên cứu sự cân bằng về giới và đảm bảo
công bằng trong xã hội.
1.1.1.2. Đặc điểm, nguồn gốc sự khác biệt về giới.
 Đặc điểm về giới
- Không tự nhiên mà có
- Học được từ gia đình và xã hội
- Đa dạng (khác nhau giữa các vùng miền)
- Có thể thay đổi được
 Nguồn gốc giới
- Trong gia đình, bắt đầu từ khi sinh ra, đứa trẻ được đối xử tuỳ theo nó
là trai hay gái. Đó là sự khác nhau về đồ chơi, quần áo, tình cảm của ông bà,
bố mẹ, anh chị. Đứa trẻ được dạy dỗ và điều chỉnh hành vi của chúng theo
giới tính của mình.
- Trong nhà trường, các thầy cô giáo cũng định hướng theo sự khác biệt
về giới cho học sinh. Học sinh nam được hướng theo các ngành kỹ thuật, điện
tử, các ngành cần có thể lực tốt. Học sinh nữ được hướng theo các ngành như
may, thêu, trang điểm, các ngành cần sự khéo léo, tỷ mỷ.
 Sự khác biệt về giới
Phụ nữ được xem là phái yếu, vì họ sống thiên hơn về tình cảm, họ là
thành phần quan trọng tạo nên sự yên ấm trong gia đình. Thiên chức của phụ
nữ là làm vợ, làm mẹ, nên họ gắn bó với con cái, gia đình hơn nam giới và
cũng từ đấy mối quan tâm của họ cũng có phần khác nam giới. [16]
Nam giới được coi là phái mạnh, là trụ cột gia đình. Họ cứng rắn hơn

kém hơn của mỗi giới, chúng có thể thay đổi theo hoàn cảnh xã hội, chính trị
và văn hóa cụ thể.
 Bình đẳng giới
Bình đẳng giới có nghĩa là phụ nữ và nam giới có được địa vị như nhau,
có cơ hội như nhau để phát triển tiềm năng và được hưởng thụ bình đẳng và
công bằng những lợi ích của sự phát triển.
Bình đẳng giới không có nghĩa là nam giới và phụ nữ phải như nhau,
mà là sự giống và khác nhau giữa nam giới và phụ nữ phải được công nhận và
đánh giá một cách bình đẳng. [1]
1.1.1.4. Vai trò giới
- Vai trò sản xuất: là những hoạt động do phụ nữ và nam giới thực hiện
để làm ra của cải vật chất hoặc tinh thần đem lại thu nhập hoặc để tự tiêu
dùng. Ví dụ: trồng lúa, nuôi gà, dạy học, … 7
- Vai trò tái sản xuất (còn gọi là công việc gia đình): Bao gồm các hoạt
động nhằm duy trì nòi giống, tái tạo sức lao động. Vai trò này không chỉ đơn
thuần là tái sản xuất sinh học, mà còn cả việc chăm lo, duy trì, phát triển lực
lượng lao động cho hiện tại và tương lai như: nuôi dạy con cái, nuôi dưỡng
các thành viên trong gia đình, làm công việc nội trợ…vai trò này hầu như của
người phụ nữ.
- Vai trò cộng đồng: Thể hiện ở những hoạt động tham gia thực hiện ở
mức cộng đồng nhằm duy trì và phát triển các nguồn lực cộng đồng, thực hiện
các nhu cầu, mục tiêu chung của cộng đồng. Những hoạt động tự nguyện
mang lại phúc lợi cho cộng đồng như: dọn đường sạch sẽ, bảo vệ nguồn nước
sạch, hoạt động từ thiện,…Hoạt động lãnh đạo ra quyết định như: tham gia
cấp ủy Đảng, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, lãnh đạo đoàn thể.
Tuy phụ nữ và nam giới thực hiện ba vai trò, xong lại được phân công
lao động khác nhau.

là quá trình thay đổi toàn diện nền kinh tế, bao gồm sự tăng thêm về
quy mô sản lượng, cải thiện về cơ cấu, hoàn thiện thể chế nhằm nâng cao chất
lượng cuộc sống. [10]
 Phát triển kinh tế
Là quá trình lớn lên, tăng tiến mọi mặt của nền kinh tế. Nó bao gồm
sự tăng trưởng kinh tế và đồng thời có sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể chế
kinh tế, chất lượng cuộc sống. [8]
 Xã hội
Xã hội là một tập thể hay một nhóm những người được phân biệt với
các nhóm người khác bằng các lợi ích, mối quan hệ đặc trưng, chia sẻ cùng
một thể chế và có cùng văn hóa. [8]
 Phát triển xã hội
Là sự biến đổi xã hội về mặt chất lượng bao gồm tăng trưởng kinh tế,
đẩy mạnh giáo dục, y tế về số lượng cũng như chất lượng và các chỉ số về cơ
sở hạ tầng, các dịch vụ và có sự biến đổi theo hướng tiến bộ hơn, đẹp hơn, tốt
hơn. [11]
 Hộ
Là một nhóm người cùng huyết tộc hay không cùng huyết tộc, họ cùng
sống chung hay không cùng sống chung dưới một mái nhà, có chung một
nguồn thu nhập và ăn chung, cùng tiến hành sản xuất chung. [3]
 Hộ nông dân
Là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp, theo nghĩa rộng hơn bao
gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn. [3] 9
 Kinh tế hộ nông dân
Là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội, trong đó các
nguồn lực như đất đai, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi là của chung để
tiến hành sản xuất. Mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống là

10
mình, chị đã trở thành người dân tộc Pu Péo đầu tiên học đại học. Chị là tấm
gương sáng cho đồng bào dân tộc Pu Péo và đồng bào các dân tộc khác nói
chung và là tấm gương cho người phụ nữ dân tộc thiểu số nói riêng cố gắng
vượt lên hoàn cảnh để giúp chính mình và những người khác cùng tiến bộ. Có
thể nhận thấy rằng nâng cao năng lực cho người phụ nữ DTTS có ý nghĩa rất
to lớn trong công cuộc xóa đói giảm nghèo.Và việc xóa đói giảm nghèo cũng
có tác động tích cực đối với sự phát triển, tiến bộ và bình đẳng của phụ nữ,
nhất là phụ nữ DTTS. Trong những năm qua, Trung ương Hội Liên Hiệp phụ
nữ Việt Nam đã tập trung nguồn lực, hướng mạnh các hoạt động về cơ sở,
nhất là về vùng sâu, vùng xa nơi có đông đảo phụ nữ dân tộc thiểu số sinh
sống nhằm xóa đói giảm nghèo, phát triển bền vững thông qua các hoạt động
như: làm nhà tình thương, hỗ trợ vốn kiến thức và xây dựng các mô hình xóa
đói giảm nghèo để phụ nữ DTTS có vốn phát triển sản xuất, Hội LHPN Việt
Nam đã và đang quản lý nguồn vốn trên 42 nghìn tỷ đồng, giúp cho gần 17
triệu lượt phụ nữ vay, đã có trên 8 nghìn gia đình phụ nữ DTTS thoát nghèo.
Đã có nhiều tấm gương phụ nữ DTTS không chỉ làm tốt công tác xã
hội, làm kinh tế giỏi mà còn giúp đỡ các chị em khác vươn lên thoát nghèo.
Điển hình như chị Mơ Nga, chủ tịch Hội phụ nữ xã Phan Sơn ( Bắc Bình -
Bình Thuận), dân tộc Cơ - Ho đã cho chị em nghèo vay vốn không lấy lãi với
số tiền trên 75 triệu đồng, và giúp đỡ nhiều chị em khác. Chị Y Nom, dân tộc
Vân Kiều (Quảng Trị) đã vươn lên thoát nghèo và hỗ trợ 15 chị khác vốn,
cây, con giống để sản xuất; chị Siu Nhép dân tộc Jrai (Gia Lai)hỗ trợ chị em
cùng tổ vốn để trồng cà phê; chị Tăng Thị Đi Len (Sóc Trăng) giúp vốn,
tương trợ cho 30 phụ nữ nghèo và đã có 25 hộ thoát nghèo; chị Neáng Kim
Lương (An Giang) đã đầu tư khôi phục nghề dệt truyền thống của phụ nữ
Khmer, giúp 126 chị có thu nhập ổn định những việc làm đó đã tác động sâu
sắc đến vùng đồng bào DTTS, giúp nhiều chị em học tập lẫn nhau và vươn
lên thoát nghèo. Cũng thông qua những hành động giúp đỡ lẫn nhau trong
phát triển kinh tế như trên, người phụ nữ DTTS đã tự khẳng định được vai trò

đình gia trưởng. Kể từ khi V.I Lênin trở thành người lãnh đạo, tổ chức và điều
hành cao nhất công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, vấn đề giải
phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam - nữ được V.I Lênin thể hiện trong
đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở Liên Xô. 12
Trước hết V.I Lênin khẳng định một quan điểm chung nói rằng một
trong những nét tiêu biểu nhất của xã hội văn minh đó là xác lập địa vị của
phụ nữ. V.I Lênin nhìn rõ thực trạng bất bình đẳng mà phụ nữ ở nước Cộng
hoà Xô Viết non trẻ đang còn phải gánh chịu. Đó còn là sự bất bình đẳng
trong cuộc sống gia đình, bởi vì: “ngay trong điều kiện hoàn toàn bình đẳng,
thì sự thật phụ nữ vẫn bị trói buộc, vì toàn bộ công việc gia đình đều trút lên
vai phụ nữ”. Để xoá bỏ vĩnh viễn tình trạng bất bình đẳng, cần sự nỗ lực to
lớn của Đảng, Nhà nước, toàn xã hội, nhưng trước hết và quyết định nhất là
sự nỗ lực của chính phụ nữ. “Việc giải phóng phụ nữ lao động … phải là việc
của bản thân phụ nữ lao động”.
V.I Lênin cho rằng bình đẳng nam - nữ trước hết là bình đẳng về kinh
tế, bình đẳng về địa vị của nam và nữ trong hệ thống phân công lao động xã
hội. Do đó biện pháp cơ bản nhất để xoá bỏ tình trạng bất bình đẳng đối với
phụ nữ là xây dựng nền kinh tế mà thích hợp với nó là sự phân công lao động
hợp lý để phụ nữ có điều kiện tham gia như nam giới vào công việc sản xuất
của xã hội. Về vấn đề này V.I Lênin viết: “Muốn để giải phóng phụ nữ, muốn
làm cho họ thật sự bình đẳng với nam giới, thì phải có nền kinh tế chung của
xã hội, phải để cho phụ nữ tham gia lao động sản xuất chung. Như thế phụ nữ
mới có địa vị bình đẳng với nam giới”.
V.I Lênin tỏ ý khuyến khích phụ nữ tham gia những công việc kinh tế có
qui mô lớn và ý nghĩa đi đầu, khai phá: “Phụ nữ cần phải tham gia việc xây dựng
và trông nom những công tác kinh tế qui mô lớn có tính chất thí nghiệm, làm cho

Thứ hai: giải phóng phụ nữ - bản thân nó cũng là một cuộc cách
mạng. Phụ nữ có vai trò quan trọng trong xã hội, nhưng dưới chế độ thực dân
phong kiến phụ nữ là đối tượng bị bóc lột, đè nén nặng nề nhất. Vì vậy, theo
Hồ Chí Minh giải phóng phụ nữ - bản thân nó cũng là một cuộc cách mạng,
nó gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con
người. Đó là cuộc cách mạng để xóa bỏ mọi định kiến hẹp hòi, mọi hủ tục,
tàn dư của tư tưởng coi thường phụ nữ do chế độ cữ để lại. Hồ Chí Minh viết:
“Giải phóng đàn bà đồng thời phải tiêu diệt tư tưởng phong kiến tư sản trong
người đàn ông”; “ Đó là một cuộc cách mạng khá to và khó. Vì trọng trai
khinh gái là thói quen mấy nghìn năm để lại. Vì nó đã ăn sâu trong đầu óc của
mọi người, mọi gia đình, mọi tầng lớp xã hội”.
Thứ ba: giải phóng phụ nữ là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và
của toàn thể xã hội. Hồ Chí Minh đã sớm xác định trách nhiệm của Đảng và
Nhà nước trong việc giải phóng phụ nữ. Trong bản Hiến pháp đầu tiên năm
1946, do Bác chỉ đạo soạn thảo, tại điều 9 đã ghi: “Đàn bà ngang quyền với 14
đàn ông về mọi phương diện”. Có lẽ đây là lần đầu tiên quyền bình đẳng nam
nữ được ghi trong một văn bản có giá trị pháp lý cao nhất ở Việt Nam. Tiếp
theo đó, Quốc hội khóa I đã thông qua Luật hôn nhân và gia đình (19 - 12 -
1959), trong đó có nhiều nội dung nhằm bảo vệ quyền lợi của phụ nữ.
Giải phóng phụ nữ theo Hồ Chí Minh, không những là trách nhiệm của
Đảng và chính quyền mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội. Người chủ
trương giáo dục tất cả cán bộ, Đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân có nhận
thức đúng đắn về vai trò và địa vị của người phụ nữ trong xã hội, xóa bỏ ý
thức trọng nam khinh nữ.
Thứ tư: Giải phóng phụ nữ là trách nhiệm của bản thân người phụ
nữ. Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, sự quan tâm của xã hội là
những điều kiện hết sức quan trọng, song điều quyết định cuối cùng cho công


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status