1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ THANH HÒA
TRUYỀN THÔNG CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN CHO
PHỤ NỮ DÂN TỘC THIỂU SỐ HIỆN NAY
(Nghiên cứu trường hợp tại xã Phúc Sơn và xã Tường Sơn,
huyện Anh Sơn, Nghệ An)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Hà Nội-2013
2
MỞ ĐẦU 8
1. Lý do chọn đề tài/tính cấp thiết của đề tài 8
2. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 10
3. Câu hỏi nghiên cứu 16
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 16
5. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu. 16
6. Giả thuyết nghiên cứu 17
7. Phương pháp nghiên cứu 18
8. Khung lý thuyết 22
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 23
1.1. Khái niệm công cụ 23
1.1.1. Truyền thông 23
1.1.2. Truyền thông dân số 23
1.1.3. Sức khỏe sinh sản 23
1.1.4. Chăm sóc sức khỏe sinh sản. 24
1.2. Các lý thuyết sử dụng trong đề tài nghiên cứu 25
1.2.1. Lý thuyết về hành động xã hội 25
1.2.2 Lý thuyết về truyền thông 27
1.3. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 11
1.4. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 30
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG TRUYỀN THÔNG CHĂM SÓC SKSS CHO
PHỤ NỮ DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI XÃ PHÚC SƠN VÀ XÃ TƢỜNG
SƠN, HUYỆN ANH SƠN, TỈNH NGHỆ AN HIỆN NAY 33
2.1. Mức độ truyền thông về chăm sóc sức khỏe sinh sản. 34
4
2.2. Nội dung truyền thông về chăm sóc sức khỏe sinh sản tại huyện Anh
Sơn, tỉnh Nghệ An. 37
2.3. Hình thức truyền thông về chăm sóc sức khỏe sinh sản. 45
DS-SKSS
SKSS
SKSS/KHHGĐ VIẾT ĐẦY ĐỦ
Chăm sóc sức khỏe sinh sản
Dân số - kế hoạch hóa gia đình
Dân số - sức khỏe sinh sản
Sức khỏe sinh sản
Sức khỏe sinh sản- kế hoạch hóa gia đình
năm 2011 72
7
Bảng 3.4: Tỷ lệ khám thai trong thời gian mang thai của phụ nữ dân tộc thiểu
số xă Phúc Sơn và xã Tường Sơn. 73
Bảng 3.5: Tỷ lệ khám thai lần sinh đầu tiên và gần nhất của phụ nữ dân tộc
thiểu số tại xã Phúc Sơn và xã Tường Sơn 75
Bảng 3.6: Tình hình tiêm vacxin của phụ nữ dân tộc thiểu số huyện Anh Sơn
năm 2012 76
Bảng 3.7: Tỷ lệ hiểu biết về chế độ dinh dưỡng phụ nữ khi mang thai của phụ
nữ dân tộc thiểu số huyện Anh Sơn. 77
Bảng 3.8: Nơi sinh con phụ nữ dân tộc thiểu số tại hai xã Phúc sơn, xã
Tường Sơn 78
Bảng 3.9: Đánh gia tình hình kiêng kỹ trong quan hệ tình dục sau khi sinh
của phụ nữ dân tộc thiểu số tại hai xã Phúc Sơn, Tường Sơn. 81
Bảng 4.0: Chế độ nghỉ ngơi sau khi sinh của phụ nữ dân tộc thiểu số tại hai xã
Phúc Sơn và xã Tường Sơn. 82
Bảng 4.1: Hiệu biết nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu tiên của phụ nữ
dân tộc thiểu số tại hai xã Phúc Sơn, xã Tường Sơn 83
8
MỞ ĐẦU
triển nguồn nhân lực cho nước ta. Hơn nữa chăm sóc SKSS là một trong
những mục tiêu và nội dung quan trọng của công tác dân số. Đối với chiến
lược Dân số - kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc SKSS là một bộ phận tối quan
trọng. Nó có vai trò quyết định tới sự thành công hay thất bại của chiến lược
quốc gia này. Tuy nhiên mỗi vùng, mỗi dân tộc khác nhau, chính vì vậy kết
quả thực hiện chăm sóc SKSS cũng khác nhau.
Ở miền núi do điều kiện tự nhiên và xã hội có nhiều khó khăn như giao
thông đi lại khó khăn, các dịch vụ sức khỏe và thuốc men, trang thiết bị y tế
còn thiếu, trình độ dân trí thấp (đặc biệt là phụ nữ) đã hạn chế cơ hội chăm
sóc sức khỏe cho bà mẹ và trẻ em. Đặc biệt, là vấn đề chăm sóc SKSS đối với
phụ nữ thiểu số, thực trạng mức sinh cao và phong tục tập quán lạc hậu là một
trong nguyên nhân gây nên tình trạng tử vong ở sản phụ và trẻ sơ sinh hoặc
ảnh hưởng sức khỏe cho họ sau này. Bên cạnh đó, hệ thống chăm sóc y tế và
dịch vụ cung cấp các biện pháp tránh thai còn hạn chế so với tình hình chung
cả nước. Mục tiêu chăm sóc SKSS phụ nữ dân tộc thiểu số là vấn đề giải
quyết lâu dài.
Truyền thông chăm sóc SKSS cho phụ nữ dân tộc thiểu số đã được chú
trọng song bên cạnh một số thành tựu đạt được vẫn còn một số khó khăn,
huyện Anh Sơn, Nghệ An là một ví dụ, ở Anh Sơn hiện nay có mức sinh còn
cao, trường hợp tảo hôn, nạo phá thai chui không an toàn còn xảy ra, tỷ lệ áp
dụng BPTT kém hiểu quả vẫn còn cao, chăm sóc sức khỏe sinh trước sinh và
sau sinh còn nhiều hạn chế.
Do đó, nghiên cứu truyền thông chăm sóc SKSS và tác động của nó đến
nhận thức, hành vi chăm sóc SKSS đến nhóm đối tượng là phụ nữ dân tộc
10
thiểu số là hết sức cần thiết để điều chỉnh kế hoạch, nội dung truyền thông có
hiệu quả góp phần nâng cao chất lượng dân số trong giai đoạn hiện nay.
Với mong muốn tìm hiểu thực trạng hoạt động truyền thông chăm sóc
SKSS và các yếu tố tác động hoạt động truyền thông, đồng thời tìm hiểu nhận
tỉnh Nghệ An hiện nay.
3. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu về truyền thông chăm sóc SKSS được tiến hành rất sớm trên
thế giới, chủ yếu là ở các quốc gia Mỹ và châu Âu. Ở nước ta, do chịu ảnh
hưởng mạnh mẽ của nên văn hóa phương đông, đặc biệt là Nho giáo cho nên
các vấn đề về sinh sản, tình dục ít được đề cập. Vì vậy nghiên cứu về sức
khỏe sinh sản là lĩnh vực mới được nghiên cứu ở nước ta.
Ở trên thế giới vào những năm 1970, chưa có những nghiên cứu cụ thể
về khía cạnh SKSS, mà nghiên cứu tập trung nghiên cứu kiến thức, thái độ và
thực hiện về KHHGĐ đó là công trình nghiên cứu của Freedmkhan. Cùng thời
gian này W.Schramm đã xuất bản cuốn truyện trong KHHGĐ. Qua khảo sát
trong 11 nước, ông đã tổng kết 3 yếu tố góp phần thành công trong chương
trình KHHGĐ. Đó là sự sẵn có của các dịch vụ, việc cán bộ dân số đến tận
nhà vận động và hoạt động của truyền thông đại chúng.
Tìm hiểu ảnh hưởng truyền thông đối với mức sinh Freedmkhan cho
rằng do sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế, văn hóa và truyền thông đã dẫn
đến sự cải thiện đáng kể về sức khỏe, vị trí và vai trò của phụ nữ, tác động
hiểu quả đến tỷ suất sinh ở các nước đang phát triển trong giai đoạn hiện nay.
Nguyên nhân giảm sinh là vô cùng phức tạp. Song lời giải thích có thể nằm
trong tư tưởng mới nảy sinh nhờ hệ thống truyền thông.
12
Năm 1992 hai chiến dịch truyền thông quốc gia đã tiến hành đồng thời ở
Nigeria nhằm thúc đẩy việc chấp nhận và sử dụng KHHGĐ trong nam giới và
phụ nữ nông thôn ở độ tuổi sinh đẻ.
Tại hội nghị dân số thề giới Cairo (Ai cập) và hội nghị thế giới lần thứ tư
tại Bắc kinh (Trung Quốc) các đại biểu của nhiều quốc gia đã nhất trí cho rằng
bình đẳng giới và vấn đề sức khỏe sinh sản phụ nữ có mối liên hệ mất thiết
với nhau. Đây là vấn đề then chốt đánh giá sự tiến bộ của từng nước đối với
vấn đề phụ nữ.
trẻ em Việt Nam. Cùng thời gian này,Viện xã hội học đã tiến hành nghiên
cứu: "Hoạt động và ảnh hưởng của các kênh truyền thông dân số-kế hoạch
hóa gia đình và chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) đối với đồng bào dân
tộc Mông và Dao sống ở miền núi phía Bắc "Công trình đã khảo sát về đặc
điểm kinh tế-xã hội và nhân khẩu của cộng đồng dân tộc Mông và Dao ở hai
tỉnh Tuyên Quang và Lào Cai. Hoạt động của các kênh truyền thông hiện có
về dân số-kế hoạch hóa gia đình và CSSKSS và mức độ tiếp cận nội dung
thông điệp quan các kênh truyền thông của đồng bào dân tộc Mông và Dao.
Hiểu biết và thực hiện CSSKSS và KHHGĐ của đồng bào dân tộc Mông và
Dao .
Phạm Tất Dong và Nguyễn Thị Kim Hoa đã nghiên cứu ảnh hưởng của
các yếu tố văn hoá địa phương đến việc tiếp nhận thông tin-giáo dục-truyền
thông về SKSS/KHHGĐ của một số nhóm dân tộc ở Tây Nguyên. Kết quả
cho thấy: số liệu cho thấy khả năng nói và hiểu tiếng Kinh của các nhóm phụ
nữ rất thấp, đặc biệt là nhóm phụ nữ Ba-na (71 phần trăm không biết tiếng
Kinh). Hai nhóm dân tộc có vẻ thạo tiếng Kinh hơn cả là nhóm dân tộc Ê-đê
và M'nông. Mặc dù các nhóm dân tộc vẫn được coi là theo chế độ mẫu hệ,
nam giới vẫn có vai trò chủ gia đình thông qua việc ra các quyết định quan
14
trọng. Có sự thay đổi trong phong tục, tập quán, quan niệm của các nhóm dân
tộc đối với những vấn đề liên quan đến hôn nhân, gia đình, con cái. Mô hình
gia đình hạt nhân ngày càng phát triển, rất ít gia đình có nhiều thế hệ cùng
chung sống dưới một mái nhà. Đa số phụ nữ thiếu các kiến thức cơ bản về
chăm sóc khi có thai, trước, trong và sau khi sinh con. Phương tiện thông tin
đại chúng là nguồn cung cấp thông tin quan trọng trong chương trình TT-GD-
TT. Nhóm phụ nữ Êđê có tần suất tiếp xúc với các PTTTĐC nhiều hơn so với
các nhóm còn lại. (19,0 % đọc báo ít nhất 1 lần, 73,0 % xem tivi ít nhất 1 lần,
51,0 % nghe radio ít nhất 1 lần và 59,0 % nghe loa truyền thanh ít nhất 1 lần
trong 1 tháng trước thời điểm nghiên cứu). Các tỷ lệ này ở nhóm phụ nữ
thai, hành vi đẻ dày, đẻ nhiều của phụ nữ khu vực nghiên cứu; trình độ học
vấn của phụ nữ liên quan đến quá trình nhận thức tác hại của việc sinh con
sớm và sinh con thứ 3 trở lên; kinh tế hộ gia đình có liên quan đến tình hình
áp dụng các biện pháp tránh thai của các hộ gia đình trong khu vực nghiên
cứu.
Trên cơ sở tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước và thế giới
liên quan vấn đề sức khỏe sinh sản và truyền thông chăm sóc SKSS, đồng thời
kết hợp tình hình cụ thể huyện Anh Sơn tỉnh Nghệ An, tôi đã quyết định đề tài
nghiên cứu: "Truyền thông về chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ dân tộc
thiểu số hiện nay. (Nghiên cứu trường hợp tại xã Phúc Sơn và Tường Sơn,
huyện Anh Sơn tỉnh Nghệ An)". Qua đó nghiên cứu thực trạng truyền thông
chăm sóc SKSS và tìm hiểu các yếu tố tác động hoạt động truyền thông, phân
tích nhận thức, hành vi chăm sóc SKSS của phụ nữ dân tộc thiểu số hiện nay
và trên cơ sở đó so sánh với công trình nghiên cứu trước đây về vấn đề này.
16
4. Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng hoạt động truyền thông về chăm sóc SKSS cho phụ nữ dân
tộc thiểu số như thế nào?
- Phụ nữ dân tộc thiểu số đâ có nhận thức và hành vi chăm sóc sức khỏe
sinh sản ra sao?
- Những nhân tố nào ảnh hưởng đến hoạt động truyền thông về chăm sóc
sức khỏe sinh sản cho phụ nữ dân tộc thiểu số?
5. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
5.1. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài này hướng tới làm sáng tỏ thực trạng
hoạt động truyền thông về chăm sóc SKSS cho phụ nữ dân tộc thiểu số huyện
Anh Sơn, tỉnh Nghệ An hiện nay.
5.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Tìm hiểu hình thức, nội dung, phương pháp, mức độ truyền thông về
hút thai.
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 10 năm 2013.
Giới hạn địa bàn khảo sát là hai xă Phúc Sơn và Tường Sơn thuộc huyện
Anh Sơn , Nghệ An.
7. Giả thuyết nghiên cứu
- Hoạt động Truyền thông về chăm sóc SKSS cho phụ nữ dân tộc thiểu
số tại hai xã Phúc Sơn, xã Tường Sơn được tổ chức thường xuyên với nhiều
nội dung khác nhau với các phương pháp, hình thức đa dạng tuy nhiên do
trình độ học vấn, điều kiện sống của phụ nữ dân tộc thiểu số còn thấp, cán bộ
làm công tác truyền thông còn thiếu tính chuyên nghiệp với còn tồn tại nhiều
18
phong tục lạc hậu là rào cản đối với công tác truyền thông chăm sóc sức khỏe
sinh sản.
- Hoạt động truyền thông về chăm sóc SKSS đã phần nào đó làm thay
đổi nhận thức, hành vi chăm sóc SKSS của phụ nữ dân tộc thiểu số.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
8.1. Phương pháp luận
Nghiên cứu dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Theo phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng yêu cầu
phải nhìn các sự vật hiện tượng trong mối quan hệ biện chứng. Nghĩa là
phải nhìn mọi sự vật, hiện tượng không tồn tại riêng biệt tách rời mà luôn
luôn trong mối quan hệ tương tác quyết định lẫn nhau. Trong quá trình xem
xét, đánh giá mọi hiện tượng, sự kiện xã hội phải đặt trong mối quan hệ
toàn diện với điều kiện kinh tế- xã hội đang vận động, biến đổi trên địa bàn
nghiên cứu. Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử yêu cầu người
nghiên cứu khi nghiên cứu các sự vật, hiện tượng xã hội cần phải đặt trong
một giai đoạn lịch sử nhất định, trên quan điểm kế thừa và phát triển.
Nghiên cứu này được xuất phát từ thực tế lịch sử xã hội cụ thể ở trong
Số lƣợng
Tỷ lệ(%)
1
Độ tuổi
200
100
1.2
15 - 49
200
100
2
Bản
200
100
2.1
Bản Ồ Ồ xã Tường Sơn
50
25,0
2.2
Bản Gia hóp xã Tường Sơn
50
25,0
2.3
Bản Tiền xã Phúc Sơn
50
25,0
2.4
Bản Vều xã Phúc Sơn
50
25,0
chưa trả lời được.
Đối tượng được phỏng vấn: Phụ nữ dân tộc thiểu số trong độ tuổi sinh đẻ,
cán bộ chuyên trách dân số, Cộng tác viên dân số, giám đốc trung tâm dân số
và giám đốc trạm y tế.
21
Nội dung phỏng vấn liên quan đến các vấn đề về thực trạng truyền thông
chăm sóc sức khỏe sinh sản, các tác động hoạt động truyền thông đến nhận
thức, hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản và các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt
động truyền thông đó.
Số lượng phỏng vấn: 11 phỏng vấn sâu trong đó 8 phụ nữ dân tộc thiểu
số, giám đốc trung tâm DS-KHGĐ, giám đốc trạm y tế.
8.2.3. Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát được áp dụng trong suốt quá trình nghiên cứu, với
phương pháp này tác giả có thể nắm bắt được một số thông tin sơ bộ tại địa
bàn nghiên cứu.
Thông qua quá trình tri giác trực tiếp để thu thập thông tin cần thiết liên
quan đến đề tài, những hành động, biểu hiện bên ngoài của phụ nữ dân tộc
thiểu số, những biểu hiện trong động cơ, thái độ, hành vi chăm sóc sức khỏe
sinh sản phụ nữ dân tộc thiểu số.
8.2.4. Phương pháp phân tích tài liệu
Phương pháp phân tích tài liệu được sử dụng nhằm bổ sung thông tin đề
tài luận văn. Đề tài sử dụng những tài liệu, sách báo, công trình nghiên cứu có
nội dung liên quan tới đề tài nghiên cứu để có thể đưa ra những so sánh giữa
những kết quả nghiên cứu đã có và kết quả nghiên cứu của luận văn.
22
9. Khung lý thuyết
dân số
Phong tục
tập quán
Nhận thức
về chăm sóc
SKSS
Hành vi chăm
sóc SKSS
23
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Khái niệm công cụ
1.1.1. Truyền thông
Truyền thông là một quá trình giao tiếp trao đổi thông tin, tư tưởng,
tình cảm…chia sẻ kỹ năng, kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng
cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và
thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm, cộng đồng và
xã hội. [4].
1.1.2. Truyền thông dân số
Các tổ chức truyền thông quốc tế thống nhất sử dụng định nghĩa dưới
đây như định nghĩa về TTDS: "Truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi
và chia sẻ thông tin, kiến thức, thái độ, tình cảm và kỹ năng nhăm tạo ra sự
hiểu biết lẫn nhau giữa bên truyền và bên nhận để dẫn đến sự thay đổi trong
nhận thức và hành vi".[20,tr .1].
1.1.3. Sức khỏe sinh sản
Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển ICPD tại Cairo (Ai cập) năm
1994 đã đưa ra định nghĩa về sức khỏe sinh sản như sau:
“Sức khoẻ sinh sản là một trạng thỏi khỏe mạnh, hài hòa về thể chất,
dịch vụ góp phần nâng cao sức khỏe và hạnh phúc bằng cách phòng ngừa
và giải quyết những vấn đề về sức khỏe sinh sản. nó bao gồm : sức khỏe
tình dục với mục đích đề cao cuộc sống và các mối quan hệ riêng tư, tư
vấn, chăm sóc liên quan đến vấn đề sinh sản và các bệnh lây truyền qua
đường tình dục [1].
Những vấn đề chung áp dụng chuẩn quốc gia về dịch vụ chăm sóc
sức khỏe sinh sản c
ủ
a Bộ Y tế:
25
- Đảm bảo sự chấp nhận của hai bên cung và cầu các tiêu chuẩn quốc gia về
chăm sóc sức khỏe sinh sản.
- Thực hiện tốt mối quan hệ giữa người cung cấp dịch vụ và cộng đồng ở
các tuyến (Xã, Huyện, Tỉnh, Trung ương).
- Đảm bảo đúng về mặt nguyên tắc, yêu cầu, kỹ năng và các bước tư vấn
trong chăm sóc sức khỏe sinh sản.
- Thực hiện đúng nguyên tắc truyền máu và các dịch vụ thay máu an toàn
trong sản phụ khoa.
- Hướng dẫn sử dụng kháng sinh an toàn, đảm bảo cung cấp đầy đủ
các thuốc thiết yếu ở tất cả các tuyến cũng như các nguyên tắc vô khuẩn
trong dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản.
Làm mẹ an toàn:
Đảm bảo các chuẩn cho Trạm Y tế về chăm sóc sức khỏe sinh sản sản
phụ trước, trong và sau khi đẻ, các bất thường trong thai nghén và chuyển
dạ.[1]
Phá thai an toàn:
Đảm bảo chuẩn quốc gia về dịch vụ phá thai an toàn bao gồm: Tư vấn
và việc sử dụng các phương pháp kỹ thuật về việc phá thai an toàn. Các
chuẩn quốc gia về kiến thức, kỹ năng, trình độ chuyên môn của người tư