Tri thức của đồng bào dân tộc thiểu số về y học cổ truyền trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng (Qua khảo sát dân tộc Thái ở tỉnh Điện Biên, Dao ở Lào Cai và Mường - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HUỆ TRI THỨC CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VỀ Y HỌC
CỔ TRUYỀN TRONG CHĂM SÓC SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG
(Qua khảo sát dân tộc Thái ở tỉnh Điện Biên, Dao ở Lào Cai và Mường
ở Hòa Bình)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

Hà Nội – 2013 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ HUỆ


9. Bố cục của luận văn 27
NỘI DUNG 29
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 29
1.1. Sơ lược về địa bàn và dân tộc được khảo sát 29
1.2. Một số khái niệm công cụ 37
1.3. Lý thuyết áp dụng 43
1.4. Một số chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về chăm sóc sức
khỏe và y học cổ truyền vùng đồng bào dân tộc thiểu số 52
Tiểu kết chương 1 56
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG TRI THỨC Y HỌC CỔ TRUYỀN 57
TRONG CHĂM SÓC SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG 57
2.1. Hiểu biết của người dân về YHCT và thực trạng bệnh tật 57
2.2. Tri thức YHCT trong chẩn đoán bệnh và chữa bệnh 70
2.3. Truyền nghề và các nghi lễ liên quan đến chăm sóc sức khỏe 75
Tiểu kết chương 2 83
CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP CƠ BẢN BẢO TỒN, PHÁT HUY TRI THỨC
YHCT TRONG CSSK CỘNG ĐỒNG 86
3.1. Một số quan điểm định hướng 86
3.2. Một số giải pháp cơ bản 98
Tiểu kết chương 3 108
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 109
1. Kết luận 109
2. Khuyến nghị 110
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 111 DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1.1. Hiểu biết của các dân tộc về giá trị của YHCT 58

ngày mà nó còn là quan niệm của người dân địa phương trong việc sử dụng
cây cỏ, nguồn dược liệu làm thuốc phòng bệnh và chữa bệnh. Hai yếu tố này
tạo thành bản sắc văn hóa tộc người của mỗi cộng đồng dân tộc.
Việt Nam có một nền YHCT lâu đời và được đánh giá là có tiềm năng
to lớn. Cội nguồn của nền YHCT Việt Nam là những kinh nghiệm dân gian
hình thành do kết quả đấu tranh sinh tồn giữa con người với những tác nhân
gây bệnh, được lưu truyền và liên tục được bổ sung bởi kinh nghiệm của các
thế hệ, để ngày một hoàn thiện và khoa học hơn, góp phần đáng kể trong sự
nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân.
Tuy nhiên từ những năm 1990, sự chuyển đổi cơ chế kinh tế từ tập
trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước,
bên cạnh những cải thiện lớn mà cơ chế này mang lại cho sự nghiệp chăm sóc
sức khoẻ, đã xuất hiện nhiều khó khăn do không thích ứng được với cơ chế
mới, trong đó YHCT đã bị thu hẹp đáng kể. Để thực hiện quan điểm, đường
lối của Đảng và Nhà nước về YHCT, đồng thời để khắc phục những tồn tại trên, Bộ Y tế tiếp tục khẳng định đường lối phát triển YHCT trong chăm sóc
sức khoẻ là: "Phát triển sử dụng thuốc nam và các phương pháp không dùng
thuốc của YHCT tại cộng đồng vẫn là mục tiêu chiến lược của ngành Y tế
trong những thập kỷ tới để bảo đảm sức khoẻ cho nhân dân"
1
. Gần đây Đảng,
Chính phủ đã ban hành một số văn bản quan trọng để đẩy mạnh công tác
YHCT trong chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân đó là:
Ngày 3/11/2003, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
222/2003/QĐ-TTg về việc phê duyệt chính sách Quốc gia về YDHCT đến
năm 2010;
Ngày 23/02/2005, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 46-NQ/TW về
công tác bảo vệ và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới;

trở đáng kể. Nếu không được sưu tầm, lưu giữ dưới dạng văn bản thì các tri
thức quý giá đó có nguy cơ bị thất truyền. Do đó, việc nghiên cứu, bảo tồn tri
thức về YHCT trong phòng bệnh và chữa bệnh ở đồng bào DTTS vừa cần
thiết vừa mang tính thời sự, không chỉ góp phần bảo tồn tri thức văn hóa dân
tộc mà còn thúc đẩy sự phối kết hợp giữa y học hiện đại (YHHĐ) và YHCT
trong công tác y tế ở nước ta hiện nay.
Dưới góc độ nghiên cứu xã hội học thì những nghiên cứu về xã hội học
tộc người (Ethnic Sociology) nói chung và xã hội học về y tế tộc người nói
riêng chưa nhiều. Sự cần thiết phải nghiên cứu vấn đề này ở nước ta trở nên
thiết thực hơn bao giờ hết khi đặt trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Bởi lẽ, với 54 dân tộc anh em trong cộng
đồng các dân tộc Việt Nam, trong công cuộc xây dựng đất nước nước vì mục
tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh, đặc biệt
trong xu thế hội nhập với thế giới như hiện nay thì “tài nguyên” con người
Việt Nam cần được phát huy hơn nữa trên tất cả các phương diện trí tuệ, phẩm chất chính trị, đủ sức khoẻ nhằm tiến tới thực hiện thành công các mục
tiêu phát triển kinh tế – xã hội. Song song với việc sử dụng nguồn nhân lực,
việc tăng cường bồi dưỡng và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân là một việc
làm có ý nghĩa quyết định. Vì vậy, đảm bảo sức khoẻ cho cộng đồng không
chỉ là mục tiêu của tổ chức y thế thế giới, mà còn là mục tiêu tổng quát, mục
tiêu chiến lược của từng quốc gia và là thước đo của một xã hội văn minh.
Đề tài luận văn “Tri thức của đồng bào dân tộc thiểu số về y học cổ
truyền trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng” được hình thành khi tác giả
công tác và tham gia nghiên cứu đề tài “Những biện pháp bảo tồn và phát
triển Y học cổ truyền của một số dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc
Việt Nam” do Trung tâm nghiên cứu Sức khỏe cộng đồng thuộc Viện Dân tộc
học, Viện Hàn Lâm Khoa học Xã hội Việt Nam thực hiện. Trong luận văn này,
học viên nghiên cứu về tri thức của đồng bào DTTS về YHCT trong chăm sóc

Tại Trung Quốc, có hơn 3.000 xí nghiệp đang tham gia vào các hoạt động về
YHCT. Năm 2004, công nghiệp thuốc cổ truyền Trung Quốc đã thu được 90
tỷ NDT (tương đương 11,1 tỷ USD), tổng giá trị sản lượng chiếm 26% toàn
bộ khu vực dược phẩm Trung Quốc
2
.
Nền YHCT của Nhật Bản có lịch sử trên 1.400 năm. Nước này được
xem là có tỷ lệ người sử dụng YHCT cao nhất thế giới hiện nay. Thuốc cổ
truyền Nhật Bản là sự kết hợp giữa thuốc cổ truyền Trung Quốc và thuốc dân
gian Nhật Bản gọi chung là Kampo. Tính từ năm 1974 đến 1989, việc sử dụng
các loại thuốc YHCT ở Nhật Bản đã tăng 15 lần trong khi đó các loại tân
dược chỉ tăng 2,6 lần. Ít nhất 65% bác sĩ ở Nhật đã khẳng định rằng họ đã sử

2
Vũ Tuệ Anh (2005), “Y học cổ truyền Trung Quốc thu hút được sự ưa thích trên toàn thế giới”, Bản tin
dược liệu số 12 tập IV, tr. 382.
dụng phối hợp đồng thời thuốc YHCT và thuốc YHHĐ.
Ở Đông Nam Á, các nước Inđônesia, Malaisia, đặc biệt là Thái Lan, v.v.
đều có truyền thống sử dụng YHCT để bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức
khoẻ. Từ năm 1950 đến 1980, YHCT Thái Lan gần như bị tê liệt hoàn toàn do
quá coi trọng YHHĐ, làm ảnh hưởng đến chất lượng CSSKBĐ ở đây. Từ năm
1980, Chính phủ và ngành y tế Thái Lan đã kịp nhận ra sai lầm này và đã có
những biện pháp hữu hiệu khôi phục lại nền YHCT như khẩn trương thiết lập
chính sách phát triển thuốc thảo mộc, điều tra về cây thuốc, nghiên cứu dược
học, y xã hội học và đồng thời triển khai kế hoạch thành lập các trung tâm
YHCT tại các tỉnh nhằm từng bước đưa YHCT vào hệ thống y tế quốc gia
phục vụ CSSKBĐ cho nhân dân.

1:50,000
Nguồn: Vũ Tuệ Anh (2005). Theo kết quả thống kê từ một số nghiên cứu năm 1995 ở Australia,
48,5% dân số sử dụng ít nhất một loại hình chữa bệnh bằng YHCT, 90%
(370/400) các bác sỹ thực hành đã khuyến cáo người dân có thể sử dụng một
trong 10 liệu pháp điều trị thay thế: Châm cứu, thôi miên, ngồi thiền, tác động
cột sống, thể dục nhịp điệu, yoga, vi lượng đồng căn, thuốc thảo dược, xoa
bóp, ngửi hoa. Chính phủ đã có những chính sách phổ cập các biện pháp thay
thế này đến toàn cộng đồng. Kết quả là hầu hết người dân được chăm sóc sức
khoẻ từ 2 hệ thống y tế là YHHĐ và YHCT, trong đó YHHĐ hay YHCT đều
có tầm quan trọng như nhau, nhưng YHCT đặc biệt được quan tâm trong
CSSK người cao tuổi.
Trong 10 năm qua mối quan tâm đối với thuốc YHCT ngày càng được
tăng lên ở nhiều quốc gia phát triển; 1/3 số người Mỹ đã sử dụng thuốc
YHCT; năm 1991 doanh số bán thuốc YHCT ước khoảng 1 tỉ USD; 60% dân
số Hà Lan và Bỉ, 74% dân số Anh hài lòng với phương pháp chữa bệnh bằng
YHCT
3
.
Năm 1999, hội nghị quốc tế về YHCT được tổ chức tại Xenegan đã đưa
ra tuyên bố về sự khẩn cấp bảo vệ YHCT ở các quốc gia trên thế giới. Hội
nghị khuyến cáo tất cả các cơ sở y tế địa phương của các quốc gia cần thiết
lập lại các dịch vụ YHCT bên cạnh các dịch vụ YHHĐ trong CSSKBĐ cho
nhân dân
4
.
Trong chiến lược phát triển YHCT những năm 2002-2005, WHO tiếp
tục khẳng định vai trò và giá trị của YHCT trong CSSKBĐ. WHO đã tích cực

học, các tác phẩm YHCT có giá trị to lớn trong nền YHDT và văn hoá dân
tộc.
Đại danh y thiền sư Tuệ Tĩnh (thế kỉ XIV)
6
đã chăm chú nghề thuốc:
trồng cây thuốc, sưu tầm kinh nghiệm chữa bệnh trong dân gian, huấn luyện y
học cho các tăng đồ. Ông đã tổng hợp y dược dân tộc cổ truyền trong bộ sách
giá trị là bộ Nam dược thần hiệu chia làm 10 khoa. Đặc biệt, ông có bộ Hồng

5
WHO (2002-2005), World Health Organization Traditional Medicine Strategy 2002-2005, pp 2-7.

6
Nguồn: Nghĩa giác tư y thư (2 quyển) biên soạn bằng quốc âm, trong đó có bản thảo
500 vị thuốc nam, viết bằng thơ Nôm Đường luật, và bài "Phú thuốc Nam"
630 vị cũng bằng chữ Nôm. Từ bao đời nay, giới y học Việt Nam và nhân dân
đều công nhận Tuệ Tĩnh có công lao to lớn trong việc xây dựng một quan
điểm y học độc lập, tự chủ, sát với thực tế Việt Nam. Câu nói của ông: "Nam
dược trị Nam nhân" thể hiện quan điểm đầy biện chứng về mối quan hệ mật
thiết giữa con người với môi trường sống xung quanh. Quan điểm ấy dẫn dắt
ông lên ngôi vị cao nhất của nền y học cổ truyền Việt Nam: Ông Thánh thuốc
Nam! Trong trước tác của mình, ông không rập khuôn theo các trước tác của
các đời trước, Ông không đưa kim, mộc, thủy, hỏa, thổ lên đầu mà xếp các
cây cỏ trước tiên! Ông cũng phê phán tư tưởng dị đoan của những người chỉ
tin vào phù chú mà không tin thuốc. Ông đã nêu ra nhiều phương pháp khác
nhau để chữa bệnh như: châm, chích, chườm, bóp, xoa, ăn, uống, hơ, xông,
v.v.

trường, khí hậu, phong tục tập quán khác nhau để có cách chữa bệnh phù
hợp. Phát huy truyền thống của Tuệ Tĩnh, ông thừa kế “Nam dược thần hiệu”
496 vị, bổ sung 300 vị trong tập “Lĩnh nam bản thảo”, gần 2.000 phương
thuốc gia truyền kinh nghiệm vào các tập “Bách gia Trân tàng”, “Hành giả
trận nhu”. Ông được suy tôn là Đại y Tông, đại nho, đại thiện.
Dưới triều Tây Sơn (1789-1802) lương y Nguyễn Hoành quê ở Thanh
Hoá biên soạn tập thuốc nam có trên 500 vị cỏ cây ở địa phương và 130 vị
gồm các loại động, khoáng vật làm thuốc theo kinh nghiệm dân gian.
Tư tưởng của Bác Hồ về Y học: “Y học phải dựa trên nguyên tắc: Dân
tộc, Khoa học, Đại chúng. Ông cha ta đã có nhiều kinh nghiệm quí báu chữa
bệnh bằng thuốc ta, thuốc bắc. Để mở rộng phạm vi y học, các cô, các chú

7
Nguồn: Viện Nghiên cứu Hán Nôm (2009), Thư tịch y dược cổ truyền Việt Nam, Nxb KHXH.
. cũng nên chú trọng nghiên cứu phối hợp thuốc Đông và thuốc Tây”
8
Năm
1957, Hội Đông y và Vụ Đông y được thành lập với mục đích đoàn kết giới
lương y và những người hành nghề y dược đông y và tây y, đồng thời phát
huy các cơ sở YHCT, tạo điều kiện kết hợp YHCT với YHHĐ. Đến năm
1978, 33/34 tỉnh, thành có bệnh viện YHCT, hầu hết các cơ sở y tế đều có sự
kết hợp giữa YHCT với YHHĐ trong phòng và chữa bệnh.
Tác phẩm Y học cổ truyền dân tộc của Trần Thuý, Phạm Duy Nhạc
1985, Vũ Văn Chuyên hiệu đính đã tập hợp những bài giảng trên cơ sở kế
thừa những kinh nghiệm, lý luận về y học cổ truyền của các danh y như Tuệ
Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông và những kinh nghiệm phòng chữa bệnh có chọn
lọc trong nhân dân.

có kết hợp cách chẩn đoán, điều trị của YHHĐ.
Các tác phẩm nêu trên tập trung nghiên cứu lý luận và phương pháp
điều trị của YHCT, sự kết phối hợp giữa YHCT với YHHĐ trong khám chữa
bệnh.
Theo tác giả Hoàng Nhung, có ý kiến cho rằng YHCT của chúng ta
đang suy, nếu các cơ quan chức năng không có một nghiên cứu, đánh giá và
đầu tư đúng mức thì không biết YHCT sẽ đi về đâu, hiện nay không có người
nghiên cứu, thiếu phương pháp, thiếu chuyên sâu và thiếu chiến lược phát
triển; thế hệ sau ít nghiên cứu cơ bản, chuyên môn không giỏi và không
chứng minh được bệnh nào chữa dứt điểm bằng những phác đồ điều trị khỏi
bệnh 100%; các viện YHDT và bệnh viện YHCT cũng ít có công trình nghiên
cứu và cũng ít mời những người có kinh nghiệm tham gia nghiên cứu hay nói
chuyện về các bài thuốc
9
.
Trong các công trình nghiên cứu đầu thế kỷ XX phải kể đến nhiều công

9
Hoàng Nhung, Lối nào cho YHCT Việt Nam, sgtt.vn, ngày 13/8/2012. trình nghiên cứu dân tộc học về YHCT dân tộc đã được tiến hành bởi các cán
bộ thuộc Viện Dân tộc học và các cơ quan liên quan. Điển hình có thể nêu
một số công trình đã được tổng kết hoặc đăng tải trên tạp chí của Viện Dân
tộc học như:
Đề tài tiềm năng “Tiếp cận và sử dụng y học cổ truyền trong chữa bệnh
ở người Mường xã Phú Mãn huyện Thạch Thất, Hà Tây” của Nguyễn Bảo
Đồng (2004), Viện Dân tộc học; Sử dụng Y học cổ truyền ở người Mường xã
Phú Mãn huyện Thạch Thất, Hà Tây của Nguyễn Bảo Đồng đăng trên tạp chí
dân tộc học, số 5 năm 2005; Đề tài “Y học cổ truyền của người Dao xã Ba Vì,

những hạn chế của YHCT, từ đó tìm ra các giải pháp để thúc đẩy bảo tồn, phát
triển YHCT trong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe con người và đóng góp hiệu
quả vào đời sống kinh tế, văn hóa xã hội tộc người. Qua đó, ta thấy rõ đề tài
luận văn “Tri thức của đồng bào DTTS về YHCT trong chăm sóc sức khỏe
cộng đồng” không trùng lặp với công trình nghiên cứu nào ở trong nước cũng
như ngoài nước.
3. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
3.1. Ý nghĩa lý luận:
Đề tài góp phần làm sáng tỏ tri thức của đồng bào DTTS về YHCT
trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng trong giai đoạn hiện nay. Tìm hiểu tri
thức và kinh nghiệm của người dân về bệnh tật và nguyên nhân bệnh tật cũng
như cách chữa trị và các phương thức trao truyền nhằm bảo tồn những giá trị
quý báu của YHCT trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng, đồng thời nghiên
cứu này góp phần tô điểm thêm cho những nghiên cứu về xã hội học y tế ở
Việt Nam.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn:
Cung cấp thông tin khoa học về tri thức của đồng bào DTTS về YHCT
trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng trong giai đoạn hiện nay thông qua việc
nghiên cứu ba dân tộc Thái, Mường và Dao tại Điện Biên, Hòa Bình và Lào
Cai. Trên cơ sở đó đề xuất một số khuyến nghị về đổi mới chính sách và
khuôn mẫu hành vi nhằm bảo tồn và phát huy tri thức của đồng bào dân tộc
thiểu số về YHCT giúp nâng cao sức khỏe nhân dân.
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được dùng làm tài liệu tham khảo
cho các cá nhân, tổ chức quan tâm.
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
 Làm rõ những tri thức của đồng bào DTTS về YHCT trong CSSK cộng

+ Không gian: nghiên cứu tại 3 tỉnh Điện Biên, Hòa Bình và Lào Cai.
+ Thời gian: Từ tháng 02/2011 đến tháng 12/2012
6. Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
6.1. Câu hỏi nghiên cứu
 Tri thức của đồng bào DTTS về YHCT có vai trò như thế nào trong
chăm sóc sức khỏe cộng đồng ?
 Trong cuộc sống hàng ngày, đồng bào vận dụng vốn tri thức về YHCT
vào chăm sóc sức khỏe ra sao?  Cần phải có những giải pháp cơ bản gì để bảo tồn và phát huy vốn tri
thức của đồng bào DTTS về YHCT trong chăm sóc sức khỏe cộng
đồng?
6.2. Giả thuyết nghiên cứu
 Đồng bào DTTS đã vận dụng có hiệu quả vốn tri thức về YHCT vào
chăm sóc sức khỏe của bản thân, gia đình và cộng đồng.
 Do địa bàn sinh sống của đồng bào dân tộc thưa thớt, giao thông đi lại
khó khăn nên khó tiếp cận được dịch vụ y tế công, vì vậy, đa số đồng
bào vẫn sử dụng tri thức về y học cổ truyền trong chăm sóc sức khỏe
của bản thân, gia đình và cộng đồng.
 Cần phải có giải pháp đồng bộ thì mới bảo tồn và phát huy vốn tri thức
của đồng bào DTTS về YHCT trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng;
trong đó, quan trọng nhất là sự kết hợp chặt chẽ giữa Gia đình, Cộng
đồng và Nhà nước.
7. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp luận
Phép biện chứng là phương pháp luận hết sức quan trọng và cần thiết
giúp nhà nghiên cứu trong quá trình nhìn nhận và đánh giá vấn đề nghiên cứu
của mình. Về mặt lý thuyết, quan điểm biện chứng cho rằng mọi sự vật, hiện
tượng đều nằm trong mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, không có sự vật,

bằng bảng hỏi được thực hiện đối với 3 dân tộc chọn nghiên cứu là dân tộc
Thái ở Điện Biên, Mường ở Hòa Bình và Dao ở Lào Cai, mỗi dân tộc khảo
sát 60 phiếu. Với việc chọn mẫu tiến hành như sau: mỗi tỉnh chọn 1 huyện, mỗi huyện chọn 1 thị trấn và 2 xã, mỗi xã chọn 1 thôn, tại mỗi thôn và thị trấn
khảo sát chọn hộ gia đình một cách ngẫu nhiên dựa trên danh sách hộ gia đình
được cung cấp, ở mỗi gia đình phỏng vấn chủ hộ gia đình hoặc người có hiểu
biết nhất về gia đình của họ. Cụ thể như sau:
Tỉnh
Dân
tộc
Địa bàn khảo sát
Chọn mẫu
Số tuyệt
đối
%
Điện Biên
Thái
Thị trấn Tuần Giáo, xã Chiềng Sinh,
xã Quài Tở
55
34,6
Hòa Bình
Mường
Thị trấn Tân Lạc, xã Lũng Vân, xã
Phú Cường
52
32,7
Lào Cai

thu được sẽ xử lý bằng phần mềm NVIVO 7.0.
Phương pháp quan sát: Đây là một phương pháp được sử dụng nhằm
bổ sung các thông tin đã thu thập được từ bảng hỏi cũng như nhằm cung cấp
thêm thông tin cần thiết cho việc chứng minh hoặc bác bỏ giả thuyết nghiên
cứu. Việc quan sát ở đây chủ yếu là quan sát về cách thức thầy thuốc và thầy
lang hành nghề, hoạt động khám chữa bệnh cũng như vườn thuốc đông y tại
các trạm y tế và cơ sở vật chất phục vụ công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân.
8. Khung phân tích
Các biến số
Biến độc lập
+ Đặc điểm cá nhân: tuổi, giới tính, dân tộc, trình độ học vấn, nghề
nghiệp, trình độ chuyên môn.
+ Đặc điểm gia đình: quy mô gia đình, tình trạng kinh tế hộ gia đình, nhà
ở, nguồn nước sinh hoạt, phương tiện đi lại, phương tiện nghe nhìn
(đài, tivi, sách, báo…), nhà tiêu hộ gia đình.
+ Đặc điểm cộng đồng DTTS
+ Mạng lưới quan hệ xã hội: trong gia đình, trong thôn bản, cơ quan tổ
chức chính quyền nơi cư trú, trạm xá, thầy lang bà mế.
Biến phụ thuộc: Tri thức của đồng bào DTTS về YHCT trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng
+ Hiểu biết về YHCT và thực trạng bệnh tật
+ Tri thức YHCT trong chẩn đoán bệnh và chữa bệnh
+ Tri thức YHCT trong truyền nghề và các nghi lễ liên quan đến chăm
sóc sức khỏe cộng đồng
+ Tri thức bảo tồn các giá trị của YHCT trong chăm sóc sức khỏe
cộng đồng
Biến can thiệp
+ Chủ trương và Chính sách của Đảng, Nhà nước về chăm sóc sức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status