Một số giải pháp phát triển dịch vụ chăm sóc sức khỏe vật nuôi ở khu vực đồng bằng sông Hồng - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
***** NGUYỄN VĂN THẮNG MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC KHOẺ VẬT NUÔI
Ở KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ: 60 34 05
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH


1.2.3 Nhóm các nhân tố về kinh tế 26
1.2.4 Một số nhân tố khác 32
1.3. Kinh nghiệm tổ chức chăm sóc sức khoẻ vật nuôi của một số nƣớc châu
Á
32

1.3.1 Hoạt động chăm sóc sức khoẻ vật nuôi tại một số nước châu
á 33
1.3.2 Hệ thống chính sách nhà nước về dịch vụ chăm sóc sức khoẻ vật
nuôi 36
CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CUNG CẤP DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC
KHOẺ VẬT NUÔI Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
39
2.1. Đặc điểm ngành chăn nuôi ở đồng bằng sông Hồng
39

2.1.1 Vị trí của đồng bằng sông Hồng so với cả nước 39
2.1.2 Điều kiện tự nhiên vùng đồng bằng sông Hồng 39
2.2. Phân tích thực trạng hoạt động cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ vật nuôi ở khu
vực đồng bằng sông Hồng
42
2.2.1 Hiện trạng chăn nuôi và các loại hình dịch vụ chăm sóc sức khoẻ vật nuôi 42
2.2.2 Các thành phần tham gia dịch vụ chăm sóc sức khoẻ vật nuôi 50
2.3. Điều tra & khảo sát thực trạng cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ vật nuôi
55

2.3.1 Mục tiêu điều tra 55

2.3.2 Đối tượng điều tra
55

đồng bằng sông Hồng 77
3.1.3 Những mục tiêu chủ yếu của phát triển dịch vụ chăm sóc sức khoẻ vật nuôi ở khu
vực đồng bằng sông Hồng 79
3.2. Một số giải pháp nhằm phát triển dịch vụ chăm sóc sức khoẻ vật nuôi ở khu vực đồng
bằng sông Hồng
80
3.2.1 Các giải pháp về kỹ thuật và áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ 81
3.2.2 Một số giải pháp hỗ trợ phát triển dịch vụ chăm sóc sức khỏe vật nuôi 83
3.2.3 Mở rộng thị trường tiêu thụ 86
3.3. Giải pháp xúc tiến liên kết: Nhà khoa học - Nhà doanh nghiệp - Nhà chăn nuôi
89
3.3.1 Nhà khoa học 89
3.3.2 Nhà doanh nghiệp 89
3.3.3 Nhà chăn nuôi 93
3.4. Một số kiến nghị với Chính phủ và các cơ quan hữu quan trong việc phát triển dịch
vụ chăm sóc sức khoẻ vật
nuôi
93
3.4.1 Chính sách quy hoạch và đầu tư chăn nuôi vùng đồng bằng sông Hồng 93
3.4.2 Chính sách tín dụng 95
3.4.3 Chính sách bảo hiểm 96 iii
3.4.4 Chính sách khuyến khích và tăng cường công tác giám sát hoạt động phát triển
dịch vụ chăm sóc sức khỏe vật nuôi 97
KẾT LUẬN
1 01
PHỤ LỤC
105 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong vòng 10 năm qua, ngành chăn nuôi tăng trưởng với tốc độ bình quân
hàng năm là 4,4%, tương đương tốc độ tăng trưởng của ngành trồng trọt, nhưng
mức đóng góp vào GDP của ngành nông nghiệp mới chỉ đạt mức 13%. Điều này
cho thấy, tiềm năng phát triển của ngành chăn nuôi sẽ còn lớn hơn nữa bởi những
lợi thế như: tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm của nước ta trong thập niên qua
luôn đạt trên 7%, chất lượng cuộc sống được nâng cao đòi hỏi những sản phẩm chế
biến từ động vật ngày càng nhiều; khả năng áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và
kiểm soát chất lượng đầu vào có tính khả thi; lợi ích kinh tế đạt giá trị cao cả về thời
gian và tính trên đơn vị diện tích sử dụng so với trồng trọt, nhất là trong bối cảnh
các nguồn tài nguyên đất đai của Việt Nam đang bị thu hẹp chuyển sang ngành
khác; thu hút số lượng lớn các lao động tham gia vào hoạt động chăn nuôi và các
dịch vụ cung ứng cho chăn nuôi hoạt động quanh năm và xa hơn nữa là khả năng
nâng cao kim ngach xuất khẩu theo định hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá của
Đảng, nhà nước và chính phủ đề ra vào năm 2020 đòi hỏi sự chuyển đổi mạnh mẽ
để ngành chăn nuôi có thể theo kịp với đòi hỏi phát triển kinh tế của đất nước.
Nghị quyết của Bộ Chính trị số 06-NQ/TW ngày 10 tháng 11 năm 1998 đã
khẳng định: “khuyến khích kinh tế hộ, hợp tác xã và trang trại chăn nuôi qui mô vừa
và lớn, chú trọng khâu giống và công nghiệp chế biến, thị trường xuất khẩu sản
phẩm chăn nuôi, thực hiện các biện pháp để nâng cao năng suất và hạ giá thành, đưa
chăn nuôi thực sự trở thành ngành sản xuất chính trong nông nghiệp”
Chăn nuôi Việt Nam đã góp phần tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu, góp phần
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, tham gia tích cực vào chương trình xoá đói
giảm nghèo ở nông thôn trên phạm vi cả nước.

cao tổ chức và phát triển dịch vụ chăm sóc sức khoẻ trong chăn nuôi ở vùng đồng
bằng sông Hồng, đồng thời tăng cường sự đóng góp thiết thực đối với ngành chăn
nuôi Việt Nam
2. Tình hình nghiên cứu
Ở Việt Nam vấn đề tăng cường hoạt động dịch vụ vật nuôi nhằm phát triển
ngành chăn nuôi chưa được nghiên cứu một cách hoàn chỉnh và đầy đủ. Các nghiên
cứu về phát triển chăn nuôi mới chỉ được nghiên cứu ở một vài khía cạnh khác
nhau. Trong đó có một số cách tiếp cận cơ bản sau:
a/ Cách tiếp cận theo giác độ kinh tế- kỹ thuật 3
Cách tiếp cận này dựa trên những áp dụng thực tế của các qui trình tổng hợp
vào quá trình thúc đẩy sản xuất chăn nuôi phát triển. Các đề tài khoa học theo xu
hướng này chủ yếu được thực hiện bởi các Trường Đại học Nông nghiệp 1, Trường
Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội, Viện nghiên cứu Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí
Minh với kết quả nghiên cứu được ứng dụng vào thực tiễn đem lại hiệu quả cao
như:
- Đề tài: “Thực trạng & những giải pháp chủ yếu để phát triển chăn nuôi bò sữa
trong các hộ nông dân ngoại thành Hà Nội”, Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp; Mã số:
5.02.07/ Phạm Thị Minh Nguyệt, Trường ĐH Nông nghiệp 1 Hà Nội
- Đề tài: “Nghiên cứu mô hình chăn nuôi bò sữa ở một số vùng trọng điểm thuộc
Bắc bộ”, Luận án Tiến sĩ Kinh tế; Mã số: 5.02.07/ Dương Văn Hiểu, Trường ĐH
Nông nghiệp 1 Hà Nội
- Đề tài: “Những vấn đề kinh tế chủ yếu của thị trường tiêu thụ sản phẩm nông
nghiệp Việt Nam” Luận án Phó tiến sĩ Kinh tế; Mã số: 5.02.05/ Trần Đình Hiền,
Trường ĐH Kinh tế quốc dân Hà Nội
- Đề tài: “Kinh tế hợp tác trong nông nghiệp ở miền Bắc nước ta; diễn biến, thực
trạng và hướng đổi mới” Luận án Phó tiến sĩ Khoa học Kinh tế; Mã số: 5.02.04/
Chu Thị Lan, Trường ĐH Kinh tế quốc dân Hà Nội

d/ Cách tiếp cận trên quan điểm nền kinh tế thị trường
Cách tiếp cận này xuất phát chính từ nhu cầu tất yếu của sự phát triển nền kinh
tế thị trường và ngay trong ngành chăn nuôi. Khi qui mô chăn nuôi ngày càng phát
triển thì yêu cầu về sự chuyên nghiệp trong cung ứng các dịch vụ ngày càng lớn. Sự
xuất hiện các ngành dịch vụ không chỉ trong ngành chăn nuôi là một xu thế có tính
ràng buộc và tương hỗ cùng phát triển trong môi trường kinh doanh mới ngày nay
Dù cách tiếp cận khác nhau nhưng nét chung nhất từ kết quả nghiên cứu của
các tác giả nói trên là:
- Vận dụng các qui trình quản lý về chất lượng đầu vào trong chăn nuôi là yêu cầu
tất yếu và có ý nghĩa nhiều mặt.
- Việc vận dụng các hoạt động dịch vụ thú y vào chăn nuôi đòi hỏi phải giải quyết
hàng loạt các vấn đề quan điểm chính sách, cơ chế, những vấn đề kinh tế, kỹ thuật
và xã hội ở tầm vĩ mô và vi mô.
- Tất cả các hoạt động kinh doanh luôn đặt trong thế giữa cung và cầu xuất phát
chính từ nhu cầu thực tế của cuộc sống. Với mỗi giai đoạn phát triển kinh tế thì các
nhu cầu cũng có sự thay đổi phù hợp với hiện trạng của nền kinh tế giai đoạn đó. 5
Hiện nay, ở Việt Nam chưa có một công trình nghiên cứu khoa học nào bàn về
vấn đề đóng góp của hoạt động dịch vụ chăm sóc sức khoẻ vật nuôi đối với phát
triển ngành chăn nuôi.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận xác định rõ vai trò, sự đóng góp của các yếu tố
đầu vào hoạt động dịch vụ chăm sóc sức khoẻ vật nuôi đối với phát triển ngành
chăn nuôi
- Phân tích sự đóng góp của dịch vụ chăm sóc sức khoẻ vật nuôi đối với phát triển
ngành chăn nuôi ở đồng bằng sông Hồng để thấy được những vấn đề đang đặt ra
hiện nay.
- Đề xuất một số giải pháp phát triển dịch vụ chăm sóc sức khoẻ vật nuôi đối với

cho thấy những ưu và nhược điểm của hệ thống các dịch vụ này nhằm góp phần cải
tiến để đáp ứng hơn nữa nhu cầu thực tế của người tiêu dùng và sự hoà nhập vào
nền kinh tế thế giới của nước ta.
- Đề xuất một số giải pháp phát triển dịch vụ chăm sóc sức khoẻ vật nuôi, đồng thời
tăng cường sự đóng góp của bốn nhà: Nhà nước - Nhà khoa học - Nhà cung ứng
dịch vụ chăm sóc sức khoẻ vật nuôi - Nhà chăn nuôi đối với phát triển ngành chăn
nuôi ở vùng đồng bằng sông Hồng vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chƣơng I : Cơ sở lý thuyết của sự phát triển dịch vụ chăm sóc sức khoẻ vật nuôi
đối với phát triển chăn nuôi
Chƣơng II : Thực trạng hoạt động cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ vật nuôi
đối với chăn nuôi ở đồng bằng sông Hồng
Chƣơng III : Một số giải pháp phát triển dịch vụ chăm sóc sức khoẻ vật nuôi ở
đồng bằng sông Hồng
7
CHƢƠNG I
CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA SỰ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ CHĂM SÓC
SỨC KHOẺ VẬT NUÔI ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI
1.1. Khái niệm phát triển dịch vụ chăm sóc sức khoẻ vật nuôi trong ngành chăn
nuôi
1.1.1 Phát triển dịch vụ chăm sóc sức khỏe vật nuôi
Trước hết, việc xem xét khái niệm trong mục này được nhìn nhận trong hoạt
động của ngành chăn nuôi nói chung mà ở đó các khái niệm dịch vụ được hiểu theo
nghĩa mang tính tổ chức, thực hiện cung cấp thông qua hoạt động tư vấn, hỗ trợ
cùng với việc cung cấp sản phẩm bổ xung đi kèm, mà mục đích cuối cùng là mang

Dịch vụ có những đặc điểm sau đây khác với hàng hoá thông thường:
- Là sản phẩm vô hình có thể cảm nhận về chất lượng.
- Việc sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời không có khả năng lưu kho,
để dành, tích trữ làm phần đệm để điều chỉnh sự thay đổi thất thường của nhu cầu
thị trường như các hàng hoá thông thường. Dịch vụ thường không mang hình thái
độc lập, kể cả trong trường hợp nó có tính chất sản xuất vật chất, nó hoà nhập hay
gắn liền với một sản phẩm hay một giai đoạn nào đó. Tất cả các dịch vụ có ích đều
được thực hiện đồng thời với quá trình sản sinh ra nó, cho nên lao động dịch vụ
mang tính xã hội cao.
- Dịch vụ cần phải tận dụng tối đa công suất một cách có hiệu quả nhất.
- Có nhiều dịch vụ không đòi hỏi nhiều vốn, vốn lớn, không cần có tổ chức cồng
kềnh…nhưng có nhiều dịch vụ lại gắn liền với sự phát triển đồng bộ nhiều ngành
kinh tế, đòi hỏi kết cấu hạ tầng đồng bộ về giao thông, thông tin liên lạc, điện, nhà
phải đi trước một bước.
1.1.1.2. Dịch vụ chăm sóc sức khỏe vật nuôi
Dịch vụ chăm sóc ở đây là thuật ngữ để chỉ hàng loạt các hành động thực hiện
trên cả mặt thời gian, công sức và vật chất cung cấp trực tiếp trên đối tượng tiếp
nhận cụ thể nhằm mang lại lợi ích về mặt vật chất hay thoả mãn về mặt tinh thần
của người chăm sóc hoặc sở hữu. Dịch vụ chăm sóc sức khỏe vật nuôi xét trong đối
tượng tiếp nhận là vật nuôi - sinh vật sống trong trường hợp này được chia thành
theo 2 nhóm dưới đây:
- Động vật nuôi nhốt khai thác: đối tượng này được hiểu là qui lại trong các chuồng
nuôi đơn lẻ hay nuôi tập trung với qui mô lớn nhằm khai thác chính yếu về mặt kinh
tế và đảm bảo an toàn cho người chăn nuôi. Các tính toán theo qui trình luôn được
người chăn nuôi cân nhắc lựa chọn loài vật nuôi, giống nuôi và một loạt các chế độ 9
chăm sóc phù hợp. Xét trên góc độ khai thác kinh tế người chủ sở hữu khi đầu tư
cho một dự án này luôn phải tính toán đến một số khía cạnh chủ yếu sau:


10
Trong chăn nuôi, phát triển dịch vụ chăm sóc sức khỏe vật nuôi là một hoạt
động mà sự phát triển cũng gắn liền với sự phát triển của ngành chăn nuôi, bởi lẽ
dịch vụ chăm sóc sức khỏe vật nuôi chỉ xuất hiện khi ngành chăn nuôi bước sang
một giai đoạn mà các yêu cầu chất lượng và nhu cầu chuyên môn cao của ngành đòi
hỏi và xuất hiện. Sự liên quan mật thiết giữa dịch vụ chăm sóc sức khỏe vật nuôi
với bản thân trong ngành chăn nuôi và các dịch vụ liên quan nhìn nhận phát triển
dịch vụ dưới 2 góc độ sau:
 Phát triển chiều rộng: là các hoạt động gồm nhiều dịch vụ cung ứng cho nội
tại ngành chăn nuôi đóng góp trực tiếp cho sự phát triển của ngành chăn
nuôi, như các dịch vụ: thức ăn, con giống và dịch vụ ngoài ngành như dịch
vụ bảo hiểm, dịch vụ tín dụng. Các loại dịch vụ nói chung đều có những tác
động đến sự phát triển đồng đều trên các mặt của cả chu trình chăn nuôi. Do
đó, trong sự phát triển ngành chăn nuôi sự phối hợp liên kết đóng vai trò
quan trọng để mang đến kết quả cuối cùng là hiệu quả của chăn nuôi đầu ra
 Phát triển chiều sâu: là dịch vụ chuyên môn gắn chặt từng công đoạn và qui
trình chăm sóc sức khỏe vật nuôi (dịch vụ thú y). Nổi bật nhất là: dịch vụ tư
vấn - hỗ trợ điều trị và dịch vụ cung ứng sản phẩm thuốc bao hàm đồng thời
tư vấn, hỗ trợ chăm sóc sức khỏe vật nuôi kết hợp cùng các hoạt động mua
bán đóng vai trò tương hỗ duy trì và tạo sự phát triển của hoạt động dịch vụ
cũng như hiệu quả trên từng vật nuôi nhận được dịch vụ chăm sóc cung ứng
1.1.2 Đặc điểm dịch vụ chăm sóc sức khoẻ vật nuôi
Chăm sóc sức khoẻ vật nuôi là một loạt các hành động được tiến hành nhằm
đảm bảo cho vật nuôi vừa có được một tốc độ phát triển đúng qui trình, vừa đảm
bảo an toàn trong phòng chống dịch bệnh qua các công tác phối hợp nắm tình hình,
giúp cho vật nuôi đạt hiệu quả cao trong chăn nuôi và đặc biệt là an toàn cho người
sử dụng
Ngoài những đặc điểm nói trên, dịch vụ chăm sóc sức khoẻ vật nuôi còn mang
những nét riêng do đặc trưng của ngành chăn nuôi chi phối. Đối tượng của ngành

hỗ trợ cho nhà chăn nuôi. Do vậy nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ vật
nuôi của người chăn nuôi phụ thuộc nhiều theo diễn biến của thời tiết, khí hậu nên
tính chủ động trong công tác phòng ngừa luôn được đề cao. Dịch vụ chăm sóc sức
khoẻ vật nuôi là sự bao hàm những kiến thức, kinh nghiệm quí và khả năng giúp ích
một cách thiết thực đóng góp cho quá trình chăn nuôi mà nhà chăn nuôi bị hạn chế
bởi tầm hiểu biết chưa đầy đủ, gây ít nhiều khó khăn khi thực hiện dẫn tới hiệu quả
kinh tế thấp và thậm chí là không có khi đầu tư. Vì vậy, sự cần thiết phải tiếp nhận 12
các tác động tích cực như là điều kiện, yếu tố từ bên ngoài dưới những cách thức
khác nhau như: mua, bán, trao đổi, thuê là một nhu cầu tất yếu trong sự phát triển
đi lên của xã hội.
Ba là, chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe vật nuôi gắn chặt với công tác
phòng ngừa - kiểm soát tình hình dịch bệnh. Từ trước đến nay ở nước ta hoàn toàn
thông qua hệ thống từ cơ sở (kiêm nhiệm tại xã) lên trung ương với nhiều tầng nấc
mà chính sách và trình độ hạn chế làm cho công tác thu thập tình hình chăn nuôi &
kiểm soát dịch bệnh ít được coi trọng. Kèm theo là các hệ thống thông báo, theo
dõi, báo cáo không theo một qui trình cụ thể định kỳ làm cho công tác này càng mất
tính chính xác trong đánh giá số liệu. Dịch vụ chăm sóc sức khoẻ vật nuôi là một
kênh kiểm soát sử dụng trong việc nắm bắt chính xác tình hình thực tế tại địa
phương, trực tiếp hỗ trợ - tư vấn và cung cấp đầy đủ sản phẩm thú y theo đúng nhu
cầu thực tế từ địa phương. Qua đấy, hệ thống dịch vụ sẽ đóng góp rất lớn trong việc
đề xuất các giải pháp cho cơ quan quản lý thú y các chương trình phòng ngừa và
kiểm soát dịch bệnh hiệu quả.
1.1.3 Lợi ích và vai trò của dịch vụ chăm sóc sức khoẻ vật nuôi
Trong nền kinh tế nông nghiệp tự cấp tự túc, người chăn nuôi sản xuất ra sản
phẩm là nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của họ. Hầu hết nhu cầu cho sản xuất và
tiêu dùng cá nhân được tính toán và thoả mãn chỉ trong phạm vi kinh tế gia đình.
Chọn giống cho vụ sau ngay từ sản phẩm đã được thu hoạch vụ này là một tập quán

vật nuôi
- Đảm bảo an toàn
Một xã hội phát triển kéo theo các nhu cầu đảm bảo an toàn từ chính môi
trường sinh sống cho mỗi người. Tuy rằng, với nhu cầu về tinh thần và vật chất tăng
lên làm cho chính con người đang trở nên đối kháng với việc duy trì một môi
trường lành mạnh cho cuộc sống của cá nhân và xã hội. Chăn nuôi công nghiệp theo
qui mô trang trại lớn nói chung hay chăn nuôi theo gia trại luôn là nguồn dễ gây
những tác hại cho chính môi trường bởi các nguồn thải ra từ động vật chăn nuôi, bởi
động vật chăn nuôi có thể là vật chủ trung gian hoặc lan truyền trực tiếp bệnh cho
người tiếp xúc qua không khí, nguồn nước thải không được xử lý cũng như nguồn
thực phẩm sử dụng cho người tiêu dùng. Rất nhiều căn bệnh lây truyền gây ảnh
hưởng trực tiếp đến người: bệnh lợn gạo, các bệnh xuất phát từ ký sinh trùng đường
máu, qua chất thải vào môi trường, trong đó mối nguy hại dễ ảnh hưởng hướng tới
con người nhất chính là các bệnh lây thông qua đường hô hấp và mới đây là những
giả định có thể về nguy cơ khả năng nhiễm cúm do virut H5N1 trên người lây 14
truyền từ gia cầm, thuỷ cầm cho thấy sự nguy hiểm rất lớn đối với cuộc sống của
loài người nói chung trước những hiểm hoạ từ tự nhiên. Tất cả điều này đang đặt ra
một hệ thống có khả năng theo dõi, giám sát và chủ động trong các công tác phòng
ngừa thông qua dịch vụ chăm sóc sức khoẻ vật nuôi
- Đảm bảo hiệu quả
Khi xác định hoạt động chăm sóc sức khoẻ vật nuôi, nhìn chung luôn đặt trong
một đánh giá bao trùm về hiệu quả sử dụng. Hiệu quả có nghĩa là tính chất tác động
từ việc sử dụng sản phẩm hoặc dịch vụ sẽ giúp cho công tác phòng ngừa và điều trị
mang đến cho vật nuôi có sức khoẻ tốt hơn, giúp cho quá trình chăn nuôi theo đúng
qui trình (phòng ngừa), hay rút ngắn thời gian điều trị (khi bị bệnh), tiết kiệm chính
chi phí sử dụng thuốc, thức ăn cho giai đoạn bị bệnh và hồi phục Hiệu quả rất
thiết thực và quan trọng đặc biệt khi chăn nuôi qui mô lớn bởi với việc tiết kiệm

hiệu quả cao, có ưu thế trong việc khắc phục những tác động tiêu cực của thời tiết,
dịch bệnh. Chính vì vậy, sản xuất con giống trên qui mô rộng lớn, đảm bảo các yêu
cầu kỹ thuật là hết sức cần thiết. Điều này từng người chăn nuôi không thể tự thực
hiện được mà phải có dịch vụ chăm sóc sức khoẻ vật nuôi tốt mới đáp ứng được
nhu cầu đó.
Trong chăn nuôi, vật nuôi còn mang tính cộng đồng, sống theo quần thể lớn,
chịu sự tác động qua lại lẫn nhau, kìm hãm hoặc thúc đẩy nhau cùng phát triển. Một
vật nuôi bị bệnh dịch nếu không phát hiện và xử lý kịp thời, nhất định sẽ lây sang
vật nuôi khác xung quanh, có khi thành dịch lớn, làm thiệt hại cả đàn vật nuôi. Một
con bò bị bệnh dịch, không được điều trị kịp thời chắc chắn sẽ lây sang các con nuôi
nhốt chung và thông qua nhiều đường lây truyền khác nhau sẽ nhanh chóng tác
động đến ngay địa bàn chăn nuôi, thậm chí ảnh hưởng đến cả khu vực trở thành
dịch lớn. Vì thế nếu làm dịch vụ chăm sóc sức khoẻ vật nuôi tốt sẽ góp phần giải
quyết được những vấn đề trên. Dịch vụ chăm sóc sức khoẻ vật nuôi yêu cầu trình
độ, khả năng chuyên môn kỹ thuật, không phải ai cũng có thể làm được và nếu để
hoạt động này cho người chăn nuôi tự làm và thiếu sự giám sát hỗ trợ sẽ có nhiều
điều bất lợi: nhiều nhà chăn nuôi không đủ trình độ để xác định bệnh và loại bệnh,
thiếu các trang thiết bị chẩn đoán - xét nghiệm, việc lựa chọn đúng thuốc điều trị và
sử dụng cũng như có chất lượng khó phân biệt được, và khi sử dụng thuốc thường
không nắm chắc các qui trình - thao tác sử dụng theo hướng dẫn Để từng hộ làm
không thể phòng trừ bệnh đồng loạt, nhất là khi có dịch lớn xảy ra. Nhiều vấn đề
nổi cộm trong chăn nuôi thường được nhà chăn nuôi xử lý mang tính tự phát, chủ
quan không có sự nhìn nhận đầy đủ về vấn đề cho vật nuôi nhà mình và cộng đồng 16
chăn nuôi địa phương. Và một nguyên nhân cũng nhận thấy là việc tiết kiệm các chi
phí đầu tư đúng mức cho công tác thú y để lại những hậu quả lớn về sau không dự
liệu được dễ gây những tổn thất lớn cho chính mỗi cá nhân chăn nuôi và cộng đồng
chăn nuôi xung quanh. Vì vậy, sự cần thiết thấy rõ đối với việc có những tổ chức,

chức chuyên nghiệp về dịch vụ chăm sóc sức khoẻ vật nuôi tư vấn - hỗ trợ triển
khai ứng dụng theo hướng dẫn qui củ đảm bảo sự phát triển bền vững của những
loài vật nuôi mới này mang lại lợi ích cho chính các bên cùng tham gia.
Thứ tư, tạo dựng các thương hiệu sản phẩm chăn nuôi có uy tín và chất lượng
góp phần thúc đẩy chăn nuôi phát triển. Các sản phẩm từ chăn nuôi cuối cùng phải
đến tay người sử dụng và việc lựa chọn sản phẩm lại do người tiêu dùng quyết định.
Điều này cho thấy, thị trường là một đòi hỏi tiên quyết quyết định sự tồn tại của bất
cứ sản phẩm hàng hoá và dịch vụ nào cung ứng trên thị trường. Những sản phẩm
hàng hoá và dịch vụ nào có chất lượng cao được sự thừa nhận sẽ tồn tại và phát
triển và đương nhiên giá cũng tương thích với chất lượng mà người tiêu dùng chấp
nhận được. Còn đối với sản phẩm chất lượng thấp, thậm chí là nguy hiểm đối với
người sử dụng thì ngay từ rào cản kiểm dịch chứng nhận đảm bảo chất lượng tiêu
thụ sản phẩm và kế đến quan trọng hơn chính là niềm tin người tiêu dùng không có
chỗ cho những sản phẩm thấp kém. Thị trường tiêu thụ thực phẩm đang trong xu thế
tiến tới không có biên giới bởi hệ thống thuế quan được dỡ bỏ nhưng những rào cảo
về kiểm dịch nguồn gốc xuất xứ và qui trình chăn nuôi lại được kiểm soát chặt chẽ
hơn, các sản phẩm có khả năng lưu chuyển tự do khi đáp ứng các yêu cầu nghiêm
ngặt về chất lượng kiểm dịch đối với từng thị trường có thể là một vùng, tỉnh đến
quốc gia và xa hơn là thị trường các nước đang phát triển và phát triển cao. Yếu tố
thương hiệu của sản phẩm có uy tín từ nhà sản xuất và vùng miền cung cấp sẽ nâng
cao giá trị sản phẩm trên con đường lưu thông qua các nhà phân phối đến tay người
tiêu dùng lựa chọn và cảm nhận. Ý nghĩa sẽ lớn hơn rất nhiều nếu thấy rằng những
sản phẩm tốt không chỉ gắn liền với sản phẩm của một doanh nghiệp mà đi liền với
đó là những tên tuổi vùng, miền tạo ra các giá trị niềm tin trong người sử dụng.
Thứ năm, là đòn bẩy cho các tương tác phát triển của các mối quan hệ gắn kết
cùng chăn nuôi. Các hoạt động nghiên cứu - ứng dụng của Việt Nam còn hạn chế
bởi việc nắm bắt nhu cầu từ thực tế do cung cách quản lý và trình độ cán bộ trong
ngành chăn nuôi, các cơ chế từ hệ thống luật và văn bản hướng dẫn bao trùm cho
phát triển ngành chăn nuôi chưa được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng đầy đủ xét từ
thực tế môi trường tự nhiên và trình độ nhận thức chung của nhà chăn nuôi mỗi địa

thị trường đầu ra, phân tích ROI (lợi nhuận trên vốn đầu tư) đến xác định nội dung
từng công việc kỹ thuật chi tiết để lựa chọn: địa điểm chăn nuôi, kỹ thuật xây dựng
chuồng, vấn đề con giống, thức ăn, quy trình tiêm phòng, kiểm soát dịch bệnh và
mỗi công tác kỹ thuật trong đó đều gắn với một loại hình dịch vụ cung ứng sẵn có
trên thị trường. Chính điều này đã tạo ra một nhu cầu lựa chọn hệ thống dịch vụ liên 19
kết hoàn chỉnh có uy tín và chi phí tiết kiệm nhất trong quá trình phối hợp tư vấn hỗ
trợ cho nhà chăn nuôi. Mục tiêu dài hạn của ngành là: gia tăng giá trị sản phẩm với
các qui trình kiểm soát và phòng ngừa nghiêm ngặt, đóng góp quan trọng trong việc
nâng cao chất lượng dinh dưỡng của quốc gia, phát triển kinh tế qua việc tạo thêm
nhiều công ăn việc làm, mở ra những ngành dịch vụ mới chuyên sâu đáp ứng sự
phát triển mạnh mẽ của xã hội. Lợi ích này được đặt trong tổng thể về nhu cầu thực
phẩm cho sự phát triển của người dân, bởi việc lựa chọn cơ cấu dinh dưỡng thích
hợp với từng độ tuổi, từng giới và từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế sẽ giúp
tạo ra cuộc cách mạng lớn trong thay đổi về thể chất và trí tuệ của cả dân tộc qua
một giai đoạn nhất định. Tiếp đến, sự hình thành các nhóm, tổ chức theo mô hình
dịch vụ là xu hướng đi lên của xã hội hiện đại chính bởi giá trị gia tăng của việc tạo
ra sản phẩm nhờ đóng góp từ trí tuệ, dịch vụ luôn mang đến một hình ảnh của
ngành công nghiệp không khói, ít mang đến những nguy hại môi trường, thu hút
đuợc một bộ phận những cán bộ chuyên môn cao liên kết cung ứng cho ngành tạo
ra sự liên kết mang lại lợi ích lẫn nhau trong sự đi lên chung của cả ngành chăn
nuôi.
Thứ bảy, tham gia và lôi kéo sự tương hỗ của các hệ thống dịch vụ khác cùng
tác động vào sự phát triển. Dịch vụ chăm sóc sức khoẻ vật nuôi còn phải được nhìn
trong mối quan hệ với không chỉ trong ngành chăn nuôi mà còn ở chỗ tác động làm
cho sự tham gia của các hoạt động kinh tế khác làm tăng giá trị sản phẩm và làm
giảm rủi ro trong đầu tư vào chăn nuôi. Đây là một cách nhìn mới mà từ trước đến
nay Việt Nam chưa nhận thấy hình ảnh hay “Thương hiệu” của vật nuôi có xác

rất hữu ích khi cung cấp đầy đủ các yêu cầu của chủ vật nuôi đối với thú cưng của
họ.
Vì thế, dịch vụ chăm sóc sức khoẻ vật nuôi là một khâu không thể thiếu được
trong sự phát triển ngành chăn nuôi nói riêng và xã hội hiện đại nói chung. Mỗi hoạt
động gắn kết với dịch vụ sẽ mang lại quyền lợi cao hơn mà nhà chăn nuôi nhận
được so với khi chưa có dịch vụ hoặc chưa tham gia. Khi dịch vụ đó được xây dựng
bảo đảm, tổ chức thực hiện tốt sẽ là nguồn lực quan trọng kích thích và đóng góp rất
tích cực cho ngành chăn nuôi phát triển mạnh mẽ hơn.
Từ sự phân tích trên cho thấy rằng để tiến hành chăn nuôi có hiệu quả, từng hộ
không thể làm tất cả các khâu trong quá trình chăn nuôi mà đòi hỏi phải có sự phục
vụ từ bên ngoài (từ các doanh nghiệp nhà nước, tập thể, tư nhân) thì sản xuất chăn
nuôi của các hộ mới tiến hành thuận lợi và thu được kết quả. Điều đó chứng tỏ
trong nền nông nghiệp hàng hoá thì dịch vụ chăm sóc sức khoẻ vật nuôi là một tất

Trích đoạn Nhúm cỏc nhõn tố về kỹ thuật 2 Điều kiện tự nhiờn vựng đồng bằng sụng Hồng Mở rộng thị trường tiờu thụ Nhà doanh nghiệp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status