Một số giải pháp phát triển dịch vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển ở Việt Nam - Pdf 23

Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm qua nền kinh tế nước ta đã có những bước tăng trưởng
đáng khích lệ. Đóng góp vào thành công chung đó không thể không kể đến
vai trò của hoạt động xuất nhập khẩu. Hoạt động xuất nhập khẩu tăng nhanh
nên nhu cầu bảo hiểm đối với hàng hoá xuất nhập khẩu ngày càng lớn và do
hoạt động bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu đã trở thành tập quán trong
hoạt động ngoại thương nên nghiệp vụ này vẫn là nghiệp vụ quan trọng
trong hoạt động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp bảo hiểm. Mặt khác, trao
đổi buôn bán hàng hoá xuất nhập khẩu hiện nay vẫn được vận chuyển chủ
yếu bằng đường biển do ưu điểm của loại hình vận chuyển này. Vì vậy, việc
phát triển hoàn thiện các vấn đề về nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập
khẩu bằng đường biển là một yêu cầu quan trọng trong sự phát triển của mỗi
doanh nghiệp bảo hiểm nói riêng và trong toàn bảo hiểm nói chung, nhất là
trong điều kiện thị trường trong nước và quốc tế có sự cạnh tranh như hiện
nay.
Mặt khác hàng hóa vận chuyển bằng đường biển thường gặp nhiều rủi ro,
trách nhiệm của người chuyên chở lại rất hạn chế và việc khiếu nại bồi
thường lại rất khó khăn; việc mua bảo hiểm bảo vệ được nhiều lợi ích của
doanh nghiệp khi có tổn thất và tạo ra tâm lý an tâm trong kinh doanh; .... Vì
vậy, việc phát triển thị trường bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bằng
đường biển là rất cần thiết.
Trong thời gian thực tập ở ban dịch vụ- Viện chiến lược phát triển kinh tế
và được sự hướng dẫn của thầy giáo Phạm Xuân Hoà em đã chọn đề tài “
Một số giải pháp phát triển dịch vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bằng
đường biển ở Việt Nam.” để làm luận văn tốt nghiệp của mình
Nguyễn Thị Thảo Lớp: kinh tế phát triển 47 B
1
Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
Nội dung luận văn tốt nghiệp của em ngoài phần mở đầu, kết luận và
tài liệu tham khảo được chia thành 3 chương.

trả chủ nợ một khoản tiền lãi với lãi suất rất cao. Lãi suất cao và nặng nề này
có thể coi là hình thức ban đầu của phí bảo hiểm.
Năm 1182 ở Lomborde - Bắc Ý, hợp đồng bảo hiểm hàng hóa đã ra
đời trong đó người bán đơn này cam kết với khách hàng sẽ thực hiện nội
dung đã ghi trong đơn. Từ đó hợp đồng bảo hiểm, người bảo hiểm đã ra đời
với tư cách như là một nghề riêng độc lập.
Năm 1468 tại Venise nước Ý đạo luật đầu tiên về bảo hiểm hàng hải
đã ra đời. Sự phát triển của thương mại hàng hải đã dẫn đến sự ra đời và phát
triển mạnh mẽ của bảo hiểm hàng hải và hàng loạt các thể lệ, công ước quốc
Nguyễn Thị Thảo Lớp: kinh tế phát triển 47 B
3
Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
tế liên quan đến thương mại và hàng hải như: Mẫu hợp đồng bảo hiểm của
Lloy’d 1776 và luật bảo hiểm của Anh năm 1906, công ước Brucxen năm
1924, Hague Víby năm 1986, … Các điều khoản về bảo hiểm ngày càng
hoàn thiện.
Ở Việt Nam, thời kỳ đầu nhà nước giao cho một công ty chuyên môn
trực thuộc Bộ Tài chính kinh doanh bảo hiểm đó là công ty Bảo hiểm Việt
Nam nay là Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam. Công ty Bảo hiểm Việt Nam
được thành lập ngày 17/12/1964 theo quyết định số 179/ CP và chính thức
đi vào hoạt động ngày 15/1/1965.
Trước năm 1964 Bảo Việt chỉ làm đại lý bảo hiểm hàng hoá xuất nhập
khẩu cho công ty Bảo hiểm nhân dân Trung Quốc trong trường hợp mua theo
giá FOB, CF và bán theo giá CIF với mục đích là học hỏi kinh nghiệm.
Từ năm 1965 – 1975 Bảo Việt mới triển khai ba nghiệp vụ bảo hiểm
đối ngoại trong đó có bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu. Từ sau 1970 Bảo
Việt có quan hệ tái bảo hiểm với Liên Xô, Ba Lan, Triều Tiên. Trước đó Bảo
Việt chỉ có quan hệ bảo hiểm với Trung Quốc.
Từ năm 1975 – 1992 Bảo Việt đã triển khai thêm nhiều nghiệp vụ và
mở rộng phạm vi hoạt động. Từ chỗ chỉ có quan hệ tái bảo hiểm với một số

hiểm lấy quỹ dự trữ trợ cấp hoặc bồi thường thiệt hại thuộc phạm vi bảo
hiểm cho người tham gia. Phạm vi bảo hiểm là những rủi ro mà người tham
gia đăng ký với người bảo hiểm
1.2. Phân loại bảo hiểm.
• Bảo hiểm xã hội
• Bảo hiểm thất nghiệp
• Bảo hiểm y tế
Nguyễn Thị Thảo Lớp: kinh tế phát triển 47 B
5
Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
• Bảo hiểm thương mại
• Bảo hiểm hàng hoá vận chuyển
• Bảo hiểm thân tàu thuỷ
• Bảo hiểm xây dựng và lắp đặt
• Bảo hiểm hoạt động tham dò và khai thác dầu khí
• Bảo hiểm cháy
• Bảo hiểm tiền gửi, tiền cất giữ trong kho và trong quá trình vận
chuyển
• Bảo hiểm trong nông nghiệp
• Bảo hiểm vật chất các phương tiện vận tải
• Bảo hiểm trách nhiệm
• Bảo hiểm con người
Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu là nghiệp vụ bảo hiểm mà đối tượng
là hàng hóa vận chuyển bằng đường biển. Ðây là một trong số các nghiệp vụ
bảo hiểm hàng hải đã hình thành và phát triển từ rất sớm.
2. Vai trò của ngành bảo hiểm.
Bảo hiểm nói chung mang lại những lợi ích kinh tế - xã hội thiết thực
- Trước hết bảo hiểm góp phần ổn định tài chính cho người tham gia trước
tổn thất và rủi ro xảy ra. Rủi ro dù do thiên tai hay tai nạn bất ngờ đều gây
thiệt hại về kinh tế, ảnh hưởng đến thu nhập, đời sống sản xuất kinh doanh

nước thông qua hoạt động tái bảo hiểm. Thị trường bảo hiểm nội địa và thị
trường bảo hiểm quốc tế có mối quan hệ qua lại, thúc đẩy nhau phát triển
thông qua hình thức phân tán rủi ro và chấp nhận rủi ro – hình thức tái bảo
hiểm giữa các công ty các nước. Như vậy, bảo hiểm vừa góp phần phát triển
Nguyễn Thị Thảo Lớp: kinh tế phát triển 47 B
7
Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
quan hệ kinh tế giữa các nước, vừa góp phần ổn định thu chi ngoại tệ cho
ngân sách.
- Bảo hiểm thu hút một số lượng lớn số lao động nhất định của xã hội, góp
phần giảm bớt tình trạng thất nghiệp cho xã hội. Đồng thời hoạt động bảo
hiểm cũng góp phần giải quyết đời sống cho bộ phận lao động làm việc
trong ngành bảo hiểm; góp phần tạo ra một bộ phận tổng sản phẩm trong
nước của quốc gia.
- Cuối cùng bảo hiểm là chỗ dựa tinh thần cho mọi người, mọi tổ chức
kinh tế xã hội; giúp họ yên tâm trong cuộc sống, sinh hoạt và trong hoạt
động sản xuất kinh doanh.
3. Vai trò của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển..
Do đặc điểm của vận tải đường biển tác động đến sự an toàn cho hàng
hoá được chuyên chở là rất lớn. Vì vậy vai trò của bảo hiểm hàng hoá xuất
nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển càng được khẳng định rõ nét:
Một là: Hàng hoá xuất nhập khẩu phải vượt qua biên giới của một hay
nhiều quốc gia, người xuất khẩu và nhập khẩu lại ở xa nhau và thường
không trực tiếp áp tải được hàng hoá trong quá trình vận chuyển do đó phải
tham gia bảo hiểm cho hàng hoá. Ở đây, vai trò của bảo hiểm là người bạn
đồng hành với người được bảo hiểm.
Hai là, vận tải đường biển thường gặp nhiều rủi ro tổn thất đối với
hàng hoá vượt quá sự kiểm soát của con người. Hàng hoá xuất nhập khẩu
chủ yếu lại được vận chuyển bằng đường biển do đó phải tham gia bảo hiểm
hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển.

Nguyễn Thị Thảo Lớp: kinh tế phát triển 47 B
9
Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
- Trong quá trình xuất nhập khẩu hàng hoá có sự chuyển giao quyền sở
hữu lô hàng hoá xuất nhập khẩu từ người bán sang người mua.
- Hàng hoá xuất nhập khẩu thường được vận chuyển qua biên giới quốc
gia, phải chịu sự kiểm soát của hải quan, kiểm dịch… tuỳ theo quy định,
thông lệ của mỗi nước. Đồng thời để vận chuyển ra ( hoặc vào ) qua biên
giới phải mua bảo hiểm theo tập quán thương mại quốc tế. Người mua tham
gia bảo hiểm có thể là người mua hàng ( người nhập khẩu ). Hợp đồng bảo
hiểm thể hiện quan hệ giữa người bảo hiểm và người mua bảo hiểm đối với
hàng hoá được bảo hiểm. Nếu người bán hàng mua bảo hiểm thì phải chuyển
nhượng lại cho người mua hàng, để khi hàng về đến nước nhập, nếu bị tổn
thất có thể khiếu nại đòi người bảo hiểm bồi thường.
- Hàng hoá xuất nhập khẩu thường được vận chuyển bằng các phương
tiện khác nhau theo phương thức vận chuyển đa phương tiện trong đó có tàu
biển. Người vận chuyển hàng hoá đồng thời cũng là người giao hàng cho
người mua. Vì vậy người chuyên chở là bên trung gian phải có trách nhiệm
bảo vệ, chăm sóc hàng hoá đúng quy cách, phẩm chất, số lượng từ khi nhận
của người bán đến khi giao cho người mua hàng.
Quá trình xuất nhập khẩu hàng hoá có liên quan đến nhiều bên, trong đó
có bốn bên chủ yếu là: Người bán ( bên xuất khẩu ), người mua ( bên nhập
khẩu ), người vận chuyển và người bảo hiểm. Vì vậy, cần phải phân định rõ
ràng trách nhiệm của các bên liên quan và khi tiến hành xuất nhập khẩu hàng
hoá các bên liên quan phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình.
1.2. Trách nhiệm của các bên liên quan.
Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá thường được thực hiện thông qua ba
loại hợp đồng: Hợp đồng mua bán, hợp đồng vận chuyển và hợp đồng bảo
hiểm. Ba hợp đồng này là cơ sở pháp lý để phân định trách nhiệm các bên
Nguyễn Thị Thảo Lớp: kinh tế phát triển 47 B

Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
FOB). Có trường hợp giao hàng theo điều kiện mà ngoài việc xuất khẩu
được hàng hoá, người bán còn có trách nhiệm thuê tàu vận chuyển và bảo
hiểm cho số hàng hoá (điều kiện CIF ). Thực tế, các tập đoàn kinh tế hoạt
động trên nhiều lĩnh vực sản xuất, vận chuyển, bảo hiểm,… khi giao hàng
theo điều kiện nhóm C và D, bên cạnh việc bán hàng còn giành cho họ dịch
vụ vận chuyển và bảo hiểm cho số hàng đó. Vì vậy, nếu nhập khẩu hàng
theo điều kiện FOB, hay điều kiện CFR thì sẽ giữ được dịch vụ vận chuyển
và bảo hiểm, hay chỉ dịch vụ bảo hiểm. Nếu trong hoạt động nhập khẩu, bán
hàng theo giá CIF, người bán cũng giữ được dịch vụ vận chuyển và bảo
hiểm. Như vậy sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành vận tải đường
biển và ngành bảo hiểm của quốc gia đó.
Nói chung trách nhiệm của các bên liên quan được phân định như sau:
• Người bán: Chuẩn bị hàng hoá theo đúng hợp đồng về số lượng, chất
lượng, loại hàng, bao bì đóng gói, thời hạn tập kết hàng ở cảng; thủ tục hải
quan, kiểm dịch. Nếu bán theo giá CIF, người bán phải mua bảo hiểm cho
hàng hoá, sau đó ký hậu vào đơn bảo hiểm để chuyển nhượng quyền lợi bảo
hiểm cho người mua.
• Người mua: Có trách nhiệm nhận hàng của người chuyên chở theo
đúng số lượng, chất lượng đã ghi trong hợp đồng vận chuyển và hợp đồng
mua bán, lấy giấy chứng nhận kiểm đến, biên bản kết toán giao nhận hàng
với chủ tàu, biên bản hàng hoá hư hỏng đổ vỡ do tàu gây nên. Nếu sai lệch
về số lượng và chất lượng với hợp đồng mua bán nhưng đúng với hợp đồng
vận chuyển thì người mua bảo lưu quyền khiếu nại đối với người bán. Nếu
phẩm chất, số lượng sai lệch so với biên bản giao hàng thì người mua căn cứ
vào hàng hư hỏng đổ vỡ do tàu gây nên mà khiếu nại người vận chuyển.
Ngoài ra người mua có trách nhiệm mua bảo hiểm cho hàng hoá hoặc nhận
Nguyễn Thị Thảo Lớp: kinh tế phát triển 47 B
12
Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp

- Rủi ro do tai nạn bất ngờ trên biển: Mắc cạn, đắm, bị phá huỷ, cháy,
nổ, mất tích, đâm va với tàu hoặc vật thể khác không phải là nước, phá hoại
của thuyền trưởng, thuỷ thủ trên tàu.
- Rủi ro do hành động của con người: Ăn trộm, ăn cắp hàng, mất
cướp, chiến tranh, đình công, bắt giữ, tịch thu…
• Theo nghiệp vụ bảo hiểm: rủi ro thông thường được bảo hiểm, rủi ro
không được bảo hiểm và rủi ro được bảo hiểm trong trường hợp đặc biệt.
- Rủi ro thông thường được bảo hiểm: Bão, lốc, sóng thần, mắc cạn,
đâm va …
- Rủi ro không được bảo hiểm: Các hành vi sai lầm cố ý của người
được bảo hiểm, bao bì không đúng quy cách, vi phạm thể lệ xuất nhập khẩu
hoặc vận chuyển chậm trễ làm mất thị trường, sụt giá…
- Rủi ro được bảo hiểm trong trường hợp đặc biệt: Rủi ro do chiến
tranh, định công, bạo loạn… thường không được nhận bảo hiểm. Trong
trường hợp chủ hàng yêu cầu rủi ro chiến tranh sẽ được nhận bảo hiểm kèm
theo rủi ro thông thường được bảo hiểm với điều kiện trả thêm phụ phí đặc
biệt.
2.2. Tổn thất trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường
biển.
Tổn thất trong bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu là những thiệt
hại hư hỏng của hàng hoá được bảo hiểm do rủi ro gây ra.
 Nếu căn cứ theo quy mô,mức độ tổn thất có thể chia thành hai
loại: Tổn thất toàn bộ và tổn thất bộ phận.
• Tổn thất bộ phận là một phần của đối tượng được bảo hiểm theo một
Nguyễn Thị Thảo Lớp: kinh tế phát triển 47 B
14
Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
hợp đồng bảo hiểm bị mất mát,hư hỏng, thiệt hại.Tổn thất bộ phận có thể là
tổn thất về số lượng, trọng lượng, thể tích, phẩm chất hoặc giá trị.
• Tổn thất toàn bộ là toàn bộ đối tượng được bảo hiểm theo một hợp

• Institute strikes clauses - điều kiện bảo hiểm đình công.
3.1. Điều kiện bảo hiểm C ( ICC – C ).
3.1.1. Rủi ro được bảo hiểm.
- Cháy hoặc nổ
- Tàu hay xà lan bị mắc cạn, đắm hoặc lật úp.
- Tàu đâm va nhau hoặc tàu, xà lan hay phương tiện vận chuyển
đâm va phải bất kỳ vật thể gì bên ngoài không kể nước hoặc bị mất tích.
- Dỡ hàng tại cảng lánh nạn.
- Phương tiện vận chuyển đường bộ bị lật đổ hoặc bị trật bánh.
- Hi sinh vì tổn thất chung.
- Ném hàng khỏi tàu.
3.1.2. Những tổn thất, chi phí và trách nhiệm khác.
- Tổn thất chung và chi phí cứu hộ được điều chỉnh hay xác định
bằng hợp đồng vận tải hoặc theo luật lệ và tập quán hiện hành.
- Những chí phí và tiền công hợp lý cho việc dỡ hàng lưu kho và
gửi tiếp hàng hoá được bảo hiểm tại cảng dọc đường hay cảng lánh nạn do
hậu quả của một rủi ro thuộc phạm vi hợp đồng bảo hiểm.
Nguyễn Thị Thảo Lớp: kinh tế phát triển 47 B
16
Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
- Những chi phí mà người được bảo hiểm hoặc đại lý của họ đã chi
nhằm phòng tránh hoặc giảm nhẹ tổn thất cho hàng hoá được bảo hiểm hoặc
những chi phí kiện tụng để đòi người thứ ba bồi thường.
- Phần trách nhiệm mà người được bảo hiểm phải chịu theo điều
khoản “ hai bên cùng có lỗi “ ghi trong hợp đồng vận tải.
3.1.3. Rủi ro loại trừ.
Trừ khi có thoả thuận khác người bảo hiểm không chịu trách
nhiệm đối với những mất mát, hư hỏng hay chi phí gây ra bởi:
- Chiến tranh, nội chiến, cách mạng, khởi nghĩa hoặc hành động thù
địch.

- Nước biển, nước sông chảy vào tàu, xà lan, hầm hàng, phương tiện
vận chuyển, container hoặc nơi chứa hàng.
- Tổn thất toàn bộ của bất kỳ kiện hàng hoá nào do rơi khỏi tàu hoặc
rơi trong khi xếp hàng lên hay đang dỡ hàng khỏi tàu hoặc xà lan.
3.2.2. Những tổn thất, chi phí và trách nhiệm khác.
Như điều kiện C.
3.2.3. Rủi ro loại trừ.
Như điều kiện C.
3.3. Điều kiện bảo hiểm A ( ICC- A )
3.3.1. Rủi ro được bảo hiểm.
Theo điều kiện này, người bảo hiểm phải chịu trách nhiệm về mọi rủi ro
gây ra mất mát hư hỏng cho hàng hoá bảo hiểm trừ những rủi ro đã được loài
trừ. Rủi ro được bảo hiểm theo điều kiện bảo hiểm này bao gồm cả rủi ro
Nguyễn Thị Thảo Lớp: kinh tế phát triển 47 B
18
Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
chính (tàu mắc cạn, đắm, cháy, đâm va nhau, đâm va phải những vật thể
khác, mất tích ...) và những rủi ro phụ (hư hỏng, đổ vỡ, cong, bẹp, gỉ, hấp
hơi, thiếu hụt, trộm cắp, không giao hàng ...) do tác động ngẫu nhiên bên
ngoài trong quá trình vận chuyển xếp dỡ, giao nhận vận chuyển, lưu kho
hàng hoá.
3.3.2. Những tổn thất, chi phí và trách nhiệm khác.
Như điều kiện B, C.
3.3.3. Rủi ro loại trừ.
Như điều kiện B, C; loại trừ thiệt hại do hành động ác ý gây ra.
3.4. Điều kiện bảo hiểm chiến tranh.
Theo điều kiện này, người bảo hiểm phải bồi thường những mất mát,
hư hỏng của hàng hoá do:
- Chiến tranh, nội chiến, cách mạng, nổi loạn, khởi nghĩa hoặc xung
đột dân sự xảy ra từ những biến cố đó hoặc bất kỳ hành động thù địch nào.

chuyển, tiếp tục có hiệu lực trong quá trình vận chuyển bình thường và kết
thúc tại một trong các thời điểm sau.
 Khi giao hàng vào kho hay nơi chứa hàng cuối cùng của người
nhận hàng hoặc một người nào khác tại nơi nhận có ghi tên trong hợp đồng
bảo hiểm.
 Khi giao hàng cho bất kỳ kho hay nơi chứa hàng nào khác, dù
trước khi tới hay tại nơi nhận hàng ghi trong hợp đồng bảo hiểm mà người
được bảo hiểm dùng làm: nơi chia hay phân phối hàng hoặc nơi chứa hàng
Nguyễn Thị Thảo Lớp: kinh tế phát triển 47 B
20
Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
ngoài hành trình vận chuyển bình thường.
 Khi hết hạn 60 ngày kể từ khi hoàn thành việc dỡ hàng khi tàu
biển tại cảng dỡ cuối cùng ghi trên đơn bảo hiểm.
Trong quá trình vận chuyển nói trên nếu xảy ra chậm chễ ngoài sự
kiểm soát của người được bảo hiểm, tàu đi chệch hướng dỡ hàng bắt buộc,
chuyển tải ngoại lệ hoặc thay đổi hành trình thì hợp đồng bảo hiểm vẫn giữ
nguyên hiệu lực với điều kiện người được bảo hiểm phải thông báo cho
người bảo hiểm biết về việc xảy ra và phải trả thêm phí bảo hiểm nếu có yêu
cầu.
4. Hợp đồng bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng
đường biển.
4.1. Khái niệm.
Hợp đồng bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển là một
văn bản trong đó người mua bảo hiểm cam kết sẽ bồi thường cho người tham
gia bảo hiểm các tổn thất của hàng hoá theo các điều kiện bảo hiểm đã ký
kết, còn người tham gia bảo hiểm cam kết trả phí bảo hiểm.
4.2. Các loại hợp đồng bảo hiểm.
Trong hợp đồng bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển
người ta chia ra làm hai loại hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng bảo hiểm

chuyển nhất định không kể đến thời gian. Tất cả các chuyến hàng thuộc
phạm vi bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm đều được bảo hiểm một cách tự
động, linh hoạt và phí bảo hiểm thường được trả theo thời gian thoả thuận,
thường là theo tháng.
Nguyễn Thị Thảo Lớp: kinh tế phát triển 47 B
22
Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
Nội dung của hợp đồng bảo hiểm bao gồm các vấn đề chung nhất, có
tính nguyên tắc như: nguyên tắc chung, phạm vi trách nhiệm, việc đóng gói
hàng, loại phương tiện vận chuyển, giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, phí
bảo hiểm và phương thức thanh toán phí, giám định, bồi thường... Trong hợp
đồng phải có ba điều kiện cơ bản sau:
- Điều kiện xếp hạng tàu được thuê chuyên chở hàng hoá được bảo hiểm.
- Điều kiện về giá trị bảo hiểm.
- Điều kiện về quan hệ trên tinh thần thiện chí.
Hợp đồng bảo hiểm bao có lợi ích cho cả người bảo hiểm và người được
bảo hiểm. Người bảo hiểm đảm bảo thu được một khoản phí bảo hiểm trong
thời hạn bảo hiểm. Người được bảo hiểm vẫn được người bảo hiểm chấp
thuận bảo hiểm ngay cả khi hàng đã xếp lên tàu vận chuyển rồi mà chưa kịp
thông báo bảo hiểm. Hợp đồng bảo hiểm bao dùng để bảo hiểm cho hàng hoá
xuất nhập khẩu thường xuyên khối lượng lớn vận chuyển làm nhiều chuyến.
Điều khoản huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm quy định cho phép một bên có thể
huỷ bỏ hợp đồng hoặc bất kỳ một phần nào của hợp đồng với điều kiện phải
thông báo trước ( thường là 30 ngày ).
4.3. Nội dung hợp đồng bảo hiểm.
Hợp đồng bảo hiểm được in sẵn thành mẫu thường bao gồm 2 mặt: mặt
trước gồm các thông tin về người bảo hiểm, người được bảo hiểm và đối
tượng bảo hiểm; mặt sau in sẵn các quy định cơ bản về bảo hiểm. Mẫu của
các nước khác nhau có thể khác nhau song hiện nay hầu hết các nước, các
công ty đều sử dụng mẫu đơn bảo hiểm của Hiệp hội bảo hiểm London từ

Nguyễn Thị Thảo Lớp: kinh tế phát triển 47 B
24
Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
Ngoài ra để đảm bảo quyền lợi của mình, người được bảo hiểm có thể bảo
hiểm thêm cả khoản lãi dự tính do việc xuất nhập khẩu mang lại: Khi xuất
nhập khẩu theo giá CIF hoặc CIP thì theo tập quán giá trị bảo hiểm sẽ tính
thêm 10% lãi dự tính. Như vậy khi xuất nhập khẩu theo giá CIF thì:
V= 110% * CIF
hoặc xuất theo giá CIP thì:
V= 110% * CIP
4.3.2. Số tiền bảo hiểm.
Số tiền bảo hiểm là toàn bộ hay một phần giá trị bảo hiểm do người được
bảo hiểm yêu cầu và được bảo hiểm.
Về nguyên tắc, số tiền bảo hiểm chỉ có thể nhỏ hơn hoặc bằng giá trị bảo
hiểm. Nếu số tiền bảo hiểm lớn hơn giá trị bảo hiểm thì phần lớn hơn đó sẽ
không được bảo hiểm. Ngược lại, nếu số tiền bảo hiểm nhỏ hơn giá trị bảo
hiểm tức là người được bảo hiểm tự bảo hiểm lấy một phần thì người bảo
hiểm cũng chỉ bồi thường trong phạm vi số tiền bảo hiểm đã được ghi trong
hợp đồng. Nếu đối tượng bảo hiểm được bảo hiểm trùng, tức là cùng một rủi
ro, một giá trị bảo hiểm nhưng lại được bảo hiểm ở nhiều công ty bảo hiểm
khác nhau thì trách nhiệm của tất cả các công ty bảo hiểm cũng chỉ giới hạn
trong phạm vi số tiền bảo hiểm. Trong xuất nhập khẩu nếu có số tiền bảo
hiểm chỉ bằng giá trị hóa đơn hay giá FOB hoặc giá CFR thì người được bảo
hiểm chưa bảo hiểm đầy đủ giá trị hay nói cách khác là bảo hiểm dưới giá trị.
4.3.3. Phí bảo hiểm, tỷ lệ phí bảo hiểm.
Phí bảo hiểm là một khoản tiền mà người được bảo hiểm phải trả cho
người bảo hiểm để được bồi thường khi có tổn thất do các rủi ro đã thoả
thuận gây nên. Phí bảo hiểm thường được tính toán trên cơ sở thống kê tổn
Nguyễn Thị Thảo Lớp: kinh tế phát triển 47 B
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status