MỤC LỤC
Lời mở đầu
Chương I
: Những vấn đề lý luận cơ bản về giao nhận hàng hóa XNK
1.1. Một số vấn đề chung về giao nhận hàng hóa XNK---------------------------------1
1.1.1. Đònh nghóa về giao nhận và người giao nhận-----------------------------------1
1.1.2. Phạm vi hoạt động của dòch vụ giao nhận --------------------------------------2
1.1.3. Quyền hạn và nghóa vụ của người giao nhận-----------------------------------4
1.1.4. Vai trò của người giao nhận-------------------------------------------------------4
1.1.5. Mối liện hệ giữa người giao nhận và các bên có liên quan ------------------5
1.2. Các lợi điểm của người giao nhận trong thương mại quốc tế-------------------------6
1.2.1. Đối với người XK-------------------------------------------------------------------6
1.2.2. Đối với người nhập khẩu ----------------------------------------------------------6
1.3. Những đóng góp của giao nhận vận tải quốc tế trong việc thực hiện chiến
lược kinh tế hướng ngoại ở nước ta------------------------------------------------------7
1.4. Nghiệp vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu----------------------------------------11
1.4.1. Tổ chức giao hàng cho người vận tải --------------------------------------------11
1.4.2. Tổ chức nhận hàng từ người vận tải ---------------------------------------------12
1.5. Kinh nghiệm phát triển dòch vụ giao nhận vận tải quốc tế ở các nước--------------14
Kết luận chương I--------------------------------------------------------------------------------18
Chương II: Phân tích thực trạng hoạt động giao nhận hàng hóa XNK tại Tp.HCM
2.1. Vài nét về hoạt động xuất nhập khẩu tại Tp.HCM ----------------------------------19
2.1.1. Hoạt động xuất khẩu---------------------------------------------------------------19
2.1.2. Hoạt động nhập khẩu --------------------------------------------------------------22
2.2. Thực trạng hoạt động giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu ở Tp.HCM ------------25
2.2.1. Quá trình hình thành và phát triển hoạt động GNHH XNK ở Việt
Nam------------------------------------------------------------------------------------------25
2.2.2. Vấn đề quản lý đối với doanh nghiệp kinh doanh dòch vụ GNHH
XNK -----------------------------------------------------------------------------------------27
2.2.3. Vò trí đòa lý của Tp.HCM và thực trạng CSHT phục vụ GNHH XNK-------29
2.2.4. Hoạt động giao nhận hàng hóa XNK ở Tp.HCM ---------------------------------32
3.3. Kiến nghò đối với nhà nước và các ban ngành liên quan ---------------------------------- 69
Kết luận chương III ------------------------------------------------------------------------------------------ 70
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
LỜI MỞ ĐẦU
] E ^
1. Ý nghóa chọn đề tài:
Vận tải ngoại thương là một bộ phận của hoạt động XNK, chẳng những
góp phần đảm bảo và nâng cao hiệu quả XNK mà còn có vai trò thúc đẩy XNK
phát triển. Vì vậy công tác tổ chức và điều hành vận tải ngoại thương phải
được chú trọng nhằm đáp ứng nhu cầu và mục tiêu đẩy mạnh XNK, trong đó
không thể không đề cập đến hoạt động giao nhận ngoại thương của các công ty
giao nhận (freight forwarder) đóng vai trò là mắc xích liên kết quan hệ giữa
nhà XNK và các công ty vận tải.
Trong bối cảnh kinh tế ngày càng phát triển, nhất là khi Việt Nam trở
thành thành viên WTO, hoạt động XNK được đẩy mạnh và cơ chế điều hành
ngày càng thông thoáng, hoạt động kinh doanh dòch vụ GNHH XNK cũng sẽ
phát triển mạnh. Số lượng các đơn vò tham gia kinh doanh loại hình dòch vụ này
ngày càng nhiều.
Tp.HCM với vai trò là một trung tâm kinh tế, với vò trí đòa lý thuận lợi
và cơ sở hàng tầng ở mức tương đối so với các tỉnh thành khác trong nước, nhất
là cụm cảng và sân bay quốc tế là nơi mà hoạt động XNK diễn ra nhộn nhòp
nhất, có khối lượng hàng hóa thông qua cảng, sân bay lớn nhất. Do vậy, hoạt
động giao nhận cũng phát triển sôi động. Tuy nhiên trong thời gian qua, hoạt
động này còn diễn ra một cách tự phát, chưa có quy hoạch cụ thể nên còn
nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được hết nhu cầu vận chuyển hàng hóa ngoại
5. Kết cấu đề tài: Đề tài có 70 trang, 21 bảng số liệu và 1 sơ đồ, được chia
làm 3 chương như sau:
Chương I: Những vấn đề lý luận cơ bản về giao nhận hàng hóa XNK
Chương II: Phân tích thực trạng hoạt động GNHH XNK tại Tp.HCM
Chương III: Một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động GNHH XNK tại
Tp.HCM
----- o0o -----
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
CHƯƠNG I:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ
GIAO NHẬN HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU
1.1.Một số vấn đề chung về giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu (XNK)
1.1.1. Đònh nghóa về giao nhận và người giao nhận
Dòch vụ giao nhận, theo “Quy tắc mẫu của FIATA về dòch vụ giao
nhận”, là bất kỳ loại dòch vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu
kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng như dòch vụ tư vấn hay có
liên quan đến các dòch vụ trên, kể cả các vấn đề hải quan, tài chính, mua bảo
hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hóa. Theo Luật Thương
mại Việt Nam, Giao nhận hàng hóa (GNHH) là hành vi thương mại, theo đó
người làm dòch vụ GNHH nhận hàng từ người gửi, tổ chức vận chuyển, lưu kho,
lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dòch vụ khác có liên quan để giao hàng
cho người nhận theo ủy thác của chủ hàng, của người vận tải hay của người
giao nhận khác.
Người kinh doanh dòch vụ giao nhận gọi là người giao nhận
(Forwarder/ Freight Forwarder/ Forwarding Agent). Người giao nhận có thể là
chủ hàng, chủ tàu, công ty xếp dỡ, hay kho hàng, người giao nhận chuyên
nghiệp hay bất cứ người nào khác có đăng ký kinh doanh dòch vụ GNHH. Theo
Luật Thương Mại Việt Nam thì người làm dòch vụ GNHH là thương nhân có
giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dòch vụ GNHH.
Vận chuyển hàng vào cảng, sắp xếp việc khai hải quan, lo các thủ tục,
chứng từ liên hệ và giao nhận hàng cho người vận tải.
Lo việc giao dòch hối đoái nếu có.
Thanh toán chi phí và các phí tổn khác, bao gồm cước phí.
Nhận vận đơn có ký tên của hãng tàu và giao cho người nhận hàng.
Thu xếp việc chuyển tải trên đường đi nếu cần.
Giám sát việc dòch chuyển hàng trên đường đưa tới người nhận hàng
thông qua các cuộc tiếp xúc với hãng tàu và đại lý của người giao nhận
ở nước ngoài đối với hàng.
Ghi nhận các tổn thất hoặc mất mát đối với hàng (damages of losses).
Giúp người gửi hàng khiếu nại người vận tải về tổn thất hàng nếu có.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
1.1.2.2. Thay mặt người nhận hàng hay người nhập khẩu
Thay mặt người nhận hàng giám sát việc chuyển dòch hàng, khi người
nhận hàng lo việc vận tải hàng như nhập theo FOB chẳng hạn.
Nhận và kiểm soát mọi chứng từ liên quan đến việc vận chuyển hàng.
Nhận hàng từ người vận tải và nếu cần, trả cước phí.
Sắp xếp việc khai hải quan và trả thuế, lệ phí và các chi phí khác cho
hải quan và các cơ quan công quyền khác.
Sắp xếp việc lưu kho quá cảnh (transit warehousing) nếu cần.
Giao hàng đã làm thủ tục hải quan cho người nhận
Giúp đỡ người nhận hàng; tiến hành việc khiếu nại đối với hãng tàu về
việc mất hàng hay bất cứ hư hại nào đối với hàng.
Giúp người nhận hàng trong việc lưu kho và phân phối hàng nếu cần.
1.1.2.3. Các dòch vụ khác
Ngoài các dòch vụ đã nêu ở trên, người giao nhận cũng có thể làm các
dòch vụ giao nhận khác phát sinh trong các nghiệp vụ quá cảnh và các dòch vụ
đặc biệt khác như các dòch vụ gom hàng liên hệ đến hàng hóa theo dự án, các
dự án chìa khóa trao tay (cung cấp thiết bò, nhà xưởng… sẵn sàng cho vận
hành)... Người giao nhận cũng có thể thông báo cho khách hàng về nhu cầu
Tái xuất không làm đúng các thủ tục cần thiết về việc hoàn thuế
Gửi hàng cho nơi đến sai; giao hàng mà không thu tiền mặt…
Người giao nhận cũng bò bên thứ ba khiếu nại về bất cứ hư hỏng, mất
hàng hay tổn hại cá nhân đã gây cho họ trong lúc thực hiện dòch vụ. Người giao
nhận thường không nhận trách nhiệm về các hành vi thiếu sót của bên thứ ba
như người vận tải, người nhận lại dòch vụ giao nhận, miễn là đã biểu hiện đầy
đủ sự quan tâm chu đáo việc chọn bên thứ ba đó.
1.1.3.2. Với tư cách là người ủy thác
Người giao nhận ký hợp đồng độc lập, đảm nhận trách nhiệm với danh
nghóa của mình thực hiện các dòch vụ do khách hàng yêu cầu. Người giao nhận
chòu trách nhiệm về các hành vi và sai sót của người vận chuyển và người nhận
lại dòch vụ giao nhận mà mình sử dụng để thực hiện hợp đồng.
1.1.3.3. Luật thương mại Việt Nam quy đònh quyền, nghóa vụ người giao
nhận
Được hưởng tiền công và các khoản thu nhập hợp lý.
Thực hiện đầy đủ các nghóa vụ của mình theo hợp đồng
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, có thể thực hiện khác với chỉ dẫn
của khách hàng, nhưng phải thông báo ngay cho khách hàng.
Nếu hợp đồng không thỏa thuận về thời hạn cụ thể thực hiện nghóa vụ
với khách hàng, phải thực hiện nghóa vụ của mình trong thời gian hợp
lý.
1.1.4. Vai trò của người giao nhận
1.1.4.1. Môi giới hải quan
Ban đầu, người giao nhận chỉ hoạt động trong nước, phụ trách làm thủ
tục hải quan đối với hàng NK. Sau đó, họ đã mở rộng hoạt động phục vụ cả
hàng XK và dành chỗ chở hàng trong vận tải quốc tế hoặc lưu cước đối với các
hãng tàu theo sự ủy thác của người XK hoặc người NK. Trên cơ sở được Nhà
nước cho phép, người giao nhận thay mặt người XK/NK để khai báo, làm thủ
tục hải quan như là một môi giới hải quan.
Viên chức lãnh sự để xin giấy chứng nhận xuất xứ.
Các cơ quan kiểm soát mậu dòch XNK.
Các cơ quan cấp giấy phép vận tải
1.1.5.2. Các cơ quan tư nhân: gồm:
Người giữ kho để lưu kho hàng hóa.
Người vận tải hay các cơ quan khác như: chủ tàu, người kinh doanh
vận tải đường bộ, đường sắt, đường hàng không, đường thủy nội đòa về
việc sắp xếp lòch trình và lưu khoang.
Người bảo hiểm để bảo hiểm hàng hóa.
Tổ chức đóng gói để đóng gói hàng hóa.
Ngân hàng thương mại để thực hiện tín dụng chứng từ.
1.2. Các lợi điểm của người giao nhận trong thương mại quốc tế
Khi đã ký kết hợp đồng ngoại thương, hai bên XNK phải tiến hành
thực hiện hợp đồng đó; trong đó có vấn đề rất quan trọng là làm thủ tục giao
hàng trên tàu nếu là XK và làm thủ tục nhận hàng từ tàu nếu là NK. Các thủ
tục liên quan đến vấn đề trên như thuê phương tiện vận tải, đưa hàng vào cảng,
chất hàng lên tàu; hoặc làm thủ tục nhận hàng từ tàu, làm thủ tục hải quan, lưu
kho hàng đợi nộp thuế, thuê phương tiện vận tải chở hàng về kho của công ty…
Nhờ người giao nhận, các công ty XNK có các điểm lợi sau:
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
1.2.1. Đối với người XK
Giảm được nhân sự trong công ty, khi việc giao nhận hàng không
thường xuyên và không có giá trò lớn.
Giảm thiểu được các rủi ro đối với hàng và tiết kiệm được thời gian
thực hiện giao nhận hàng với tàu do không có kiến thức chuyên ngành
và kinh nghiệm so với người giao nhận chuyên sống bằng dòch vụ này.
Thực hiện việc giao nhận hàng đúng ngày tháng do hợp đồng đã quy
đònh, tránh việc gây chậm trễ làm người NK có lý do yêu cầu giảm giá
hàng hoặc không thanh toán tiền hàng.
kháng chiến chống Mỹ cứu nước, hoạt động giao nhận góp phần đắc lực phục
vụ chiến đấu, sản xuất và đời sống.
Năm 1975, sau khi Đà Nẵng, Sài Gòn được giải phóng, hoạt động giao
nhận được triển khai kòp thời phục vụ XNK hàng hóa ở miền Trung và miền
Nam. Đây là thời kỳ cả nước bắt đầu khôi phục kinh tế và xây dựng CNXH,
thực hiện giao nhận hàng viện trợ NK của các nước bạn XHCN, và giao nhận
XK những mặt hàng trao đổi hai chiều theo nghò đònh thư với các nước. Mỗi
đầu năm, TCT Vietrans liên lạc chặt chẽ với 14 TCT thương mại, XNK lớn
trong nước để lên kế hoạch thực hiện sản lượng giao nhận mỗi năm và năm
nào cũng hoàn thành và vượt mức chỉ tiêu giao nhận của nhà nước giao.
Năm 1979, chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra, Trung Quốc cắt tuyến
đường sắt liên vận quốc tế nối Việt Nam với các nước XHCN, toàn bộ hoạt
động giao nhận lại chuyển sang giao nhận đường biển với việc thiết lập tuyến
giao nhận từ Việt Nam nối liền cảng Vladivostok của Liên Xô, giai đoạn này
thể hiện tinh thần phối hợp cao giữa ngành giao nhận Việt Nam với các liên
đoàn giao nhận của các nước thuộc Hội đồng tương trợ Kinh tế- khối SEV, Liên
đoàn giao nhận Ngoại thương Sojuztransit của Liên Xô lo về hoạt động chuyển
tải quá cảnh hàng. Nhiều phương thức giao nhận hàng mới từ tàu roll-on, tàu
Lash được thực hiện hoàn hảo. Từ năm 1975 đến năm 1984 thực hiện giao
nhận được 60 triệu tấn hàng XNK từ Bắc đến Nam qua 3 cảng chính: Hải
Phòng, Đà Nẵng và Sài Gòn, đảm bảo giao nhận an toàn 90% tổng lượng hàng
NK và 70% lượng hàng XK. Chỉ vỏn vẹn 2000m
2
kho, hơn chục chiếc đầu kéo
và một số xe tải cũ lúc ban đầu, ngành giao nhận đã phục vụ đắc lực cho ngoại
thương Việt Nam và ngày càng phát triển về qui mô và chất lượng phục vụ.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Ngày nay, ngành GNHH XNK quản lý hơn 200.000m
2
kho bãi, sử dụng trên
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
mặt hàng xuất. Lượng hàng qua chế biến xuất bằng container tăng
nhanh. Hàng gửi đi Tây Âu, Đòa trung Hải qua kênh đào Suez làm chi
phí vận chuyển và cự ly giảm một nửa, hoặc sang tận Châu Phi, Nam
Mỹ với tuyến đường ngắn nhất. Trước đây mỗi tháng chỉ có từ 2 đến 3
chuyến tàu cập cảng nhận hàng thì hiện nay mỗi ngày đều có một
chuyến tàu con thoi đi từ Cảng Sài Gòn sang các cảng chuyển tải
Singapore, HongKong để tiếp tục xếp hàng lên tàu mẹ chở đi khắp
Châu lục. Hoạt động giao nhận được thực hiện liên tục, giảm tình
trạng tắc nghẽn hàng, hay hàng hóa phải chờ tàu quá lâu ở cảng, thời
gian XNK được rút ngắn, giúp gia tăng nhanh tốc độ quay vòng vốn
của ngoại thương Việt Nam.
Giao nhận vận tải đường không phát triển: Từ 1992 trở về trước, ở
Việt Nam không có giao nhận hàng hóa đường không. Từ 1993 trở đi,
nhiều hãng giao nhận quốc tế vào Việt Nam mở ra loại hình giao nhận
vận tải quốc tế bằng đường hàng không. Loại hình này góp phần thúc
đẩy hoạt động thương mại đường hàng không gia tăng nhanh với tỉ lệ
tăng từ 10% đến 20% mỗi năm, bình quân có khoảng 80 nghìn tấn
hàng được giao nhận qua 3 sân bay quốc tế chính: Nội Bài, Đà Nẵng,
Tân Sơn Nhất. Thông qua mạng lưới toàn cầu của các hãng giao nhận
nước ngoài, các công ty trong nước có thể gửi hàng đến trên 180 thành
phố lớn khắp nơi trên thế giới một cách nhanh chóng, hoạt động giao
nhận vận tải quốc tế đã tác động tích cực đến giới kinh doanh đầu tư
trở lại Việt Nam.
Làm gia tăng trò giá hàng XK Việt Nam: hoạt động tiếp thò- sản
xuất-phân phối hàng hóa đòi hỏi có kho bãi bảo quản hàng một cách
thích hợp sao cho hàng hóa luôn sẵn sàng để chở tới bất cứ nơi người
mua yêu cầu. Các cơ sở kho bãi được xây dựng tại những đòa điểm
thuận lợi đủ sức chứa lượng lớn hàng, đồng thời các công ty giao nhận
vận tải cấp thêm các dòch vụ hỗ trợ như phân loại, đóng gói bao bì
chóng thiết lập văn phòng liên lạc, kho gom hàng quốc tế tại Biên
Hòa, KCN Sóng Thần, KCX Linh Trung để phục vụ kòp thời việc XNK
hàng hóa. Giao nhận vận tải thúc đẩy phát triển XK, phát triển ngành
nghề mới, góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế, hình thành các KCN – đô
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
thò mới ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và các trung tâm sản xuất
kinh doanh của cả nước.
Qua phân tích trên cho thấy những đóng góp rất quan trọng của dòch vụ
giao nhận vận tải quốc tế trong việc thực hiện chiến lược kinh tế hướng ngoại ở
nước ta. Không có giao nhận vận tải quốc tế thì hàng hóa XK không thể đưa
đến thò trường tiêu thụ dễ dàng, đồng thời hàng hóa phục vụ sản xuất, tiêu
dùng, máy móc thiết bò cần thiết cho công cuộc CNH-HĐH gặp rất nhiều trở
ngại khi mang vào Việt Nam nếu như ngành giao nhận vận tải quốc tế không
có sự chuẩn bò và phương hướng phát triển cụ thể. Ngược lại, dòch vụ GNHH
XNK đã có những bước chuyển mình tích cực, và thực sự năng động đáp ứng
nhu cầu kinh tế thò trường kể từ sau khi Nhà nước thực hiện những chính sách
kinh tế hướng ngoại.
1.4. Nghiệp vụ giao nhận hàng hóa XNK
1.4.1. Tổ chức giao hàng cho người vận tải
1.4.1.1. Hàng chuyên chở không dùng container - thuê tàu chuyến
Khi XK hàng rời được chuyên chở bằng tàu chuyến, người bán thường
phải thực hiện các công việc chủ yếu như sau:
Công việc 1: Chủ hàng (shipper) lập bảng kê khai hàng hóa để chuyên
chở (cargo list). Trên cơ sở đó, khi lưu cước hãng tàu lập Shipping
Order và lên sơ đồ xếp hàng trên tàu (cargo plan/ stowage plan), làm
căn cứ để cảng xếp thứ tự gửi hàng, để tính các chi phí có liên quan.
Thông thường, Cargo Plan không giao trực tiếp cho chủ hàng, nhưng để
đảm bảo an toàn cho hàng hóa, chủ hàng có quyền yêu cầu cho xem
cargo plan để biết hàng mình được xếp khi nào, ở đâu, nếu thấy có gì
bất lợi thì chủ hàng có thể yêu cầu thay đổi.
8 giờ trước khi hàng chất lên tàu (closing time), chủ hàng sẽ nhận biên
lai xếp hàng (shipping note) hoặc biên lai thuyền phó (Mate’s recept)
hoặc một chứng từ vận tải nào đó có ghi chú “nhận hàng để bốc vác”
(received for shipment ). Người vận chuyển nhận container chỉ kiểm
tra bên ngoài, không cần biết bên trong được sắp xếp như thế nào. sau
đó, container được đưa vào bãi và sắp xếp trong từng ô container phân
chia theo cảng đích, cảng chuyển tải… sẵn sàng để đợi bốc lên tàu.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Công việc 6: Cuối cùng, chủ hàng hay người XK sẽ đổi các chứng từ
nói trên lấy Bill of Lading hoàn hảo và được xác nhận hàng đã lên tàu.
1.4.2. Tổ chức nhận hàng từ người vận tải
Tổ chức nhận hàng từ người vận tải cần đảm bảo các nguyên tắc sau
đây:
Người nhận hàng phải xuất trình được các chứng từ chứng minh mình
là sở hữu chủ của hàng hóa.
Người nhận phải nộp đủ các lệ phí có liên quan đến hàng hóa trong
thời gian lưu kho, lưu bãi của cảng.
Việc nhận hàng được thực hiện liên tục trong một thời gian nhất đònh.
Hàng giao nhận phải đúng ký mã hiệu, số lượng ghi trong các chứng
từ.
Cảng không chòu trách nhiệm về hàng hóa bên trong các bao bì còn
nguyên đai, nguyên kiện, cũng như không chòu trách nhiệm sau khi
hàng hóa đã được nhận ra khỏi cảng.
1.4.2.1. Đối với hàng rời, sử dụng tàu chuyến
Nhận bộ chứng từ do người bán gửi thông qua ngân hàng. Nếu thanh
toán theo phương thức L/C hay nhờ thu đổi chứng từ (D/P hoặc D/A).
Nếu trên B/L ghi ở “consignee” là “TO ORDER OF (issuing bank’s
name)” thì người NK phải nhờ ngân hàng ký hậu trên B/L mới lấy
được hàng.
Trình vận đơn cho hãng tàu để nhận được 3 bản lệnh giao hàng (D/O)
đề gì về hàng hóa và hồ sơ khai báo hải quan.
1.4.2.3. Đối với phương thức vận chuyển “door - to – door service”
Khi đó, người nhận hàng sẽ được người giao nhận giao hàng tận kho
cho mình. Mọi thủ tục lấy hàng ra khỏi cảng đều do người vận chuyển chòu
trách nhiệm và mọi chi phí đã được tính vào cước phí vận tải, chỉ riêng việc
khai báo hải quan thì do người NK chòu trách nhiệm đăng ký và mời hải quan
về kho của công ty để kiểm hoá.
1.5. Kinh nghiệm phát triển dòch vụ giao nhận vận tải quốc tế
1.5.1. Trung Quốc: Các hãng giao nhận nước ngoài chỉ được phép hoạt động
thông qua một đơn vò trong nước làm đại lý hay liên doanh. Chính phủ sẽ cấp
giấy phép có giá trò kéo dài 20 – 30 năm. Việc xin phép kinh doanh được quản
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
lý chặt chẽ vì chính phủ muốn bảo hộ các doanh nghiệp trong nước. Các giấy
phép được cấp xếp theo thứ tự A, B, C… tùy loại mà quy đònh phạm vi hoạt
động. Chẳng hạn những công ty có giấy phép loại A được chấp thuận bởi Ủy
Ban Kinh Tế Thương mại và cục Hàng không Dân dụng Bắc Kinh. Những công
ty nào hoạt động từ Bắc Kinh tới Thượng Hải và tiếp giáp vùng biển đông
Trung Hoa bao gồm cả Quảng Châu, Nam Kinh và được phép hoạt động gom
hàng, vận tải hàng, làm thủ tục hải quan trong nội đòa và phát hành bảo hiểm
vận tải.
1.5.2. Singapore: Chính phủ khuyến khích liên doanh với các hãng nước
ngoài để thiết lập hệ thống giao nhận toàn cầu. Nhà nước cho phép xây dựng
các trung tâm cung cấp dòch vụ phân phối hàng hóa. Các trung tâm này còn
cung cấp cho khách hàng của mình những thông tin liên quan đến tiến độ sản
xuất, phân phối lưu trữ… Nhà nước đứng ra xây dựng các trung tâm phân phối
và cho các công ty giao nhận vận tải thuê lại. Với việc thành lập các trung tâm
này chính phủ Singapore muốn nhanh chóng tăng nhanh lượng hàng chuyển tải
qua sân bay Changi và cảng biển quốc tế Singapore, tạo sự tối ưu hóa trong
vận tải đường biển và đường không để thu hút lượng hàng chuyển tải trong khu
vực, đồng thời duy trì vò thế cạnh tranh với trung tâm chuyển tải quốc tế Hồng
Chính phủ dựa vào năng lực của công ty mà cấp giấy phép kinh doanh trong
từng lónh vực: giao nhận nội đòa, vận chuyển đường bộ, công ty môi giới hải
quan… nếu đầy đủ về năng lực tài chính và tổ chức thì được cấp giấy phép kinh
doanh không hạn chế nhưng có phân hạng giấy phép cấp một hay cấp hai
(chẳng hạn unrestricted class 1 lisence). Về kinh doanh dich vụ thủ tục hải
quan, hàng năm Tổng cục hải quan Nhật tổ chức các lớp đào tạo nghề thủ tục
hải quan, sau đó tổ chức các cuộc thi cấp bằng thật nghiêm ngặt. Những công
ty muốn hoạt động trong lónh vực này bắt buộc phải có nhân viên đã học và
được cấp bằng từ Tổng cục. Chính sách phát triển giao nhận vận tải quốc tế
hợp lý nhưng khắc khe cộng với tiềm lực kinh tế đứng hàng thứ ba trên thế giới
đã góp phần tạo nên những tập đoàn giao nhận vận tải quốc tế Nhật Bản nổi
tiếng khắp thế giới như: Nippon Express (kinh doanh giao nhận lẫn vận tải
đường không bằng chính máy bay của mình), Sagawa Express, Kintetsu World
Express.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
1.5.5 Thái Lan: Theo thông báo số 281 của Hội đồng Hành pháp Quốc gia,
người nước ngoài không được làm đại lý hoặc môi giới trong lónh vực giao nhận
vận tải tại Thái Lan. Các công ty nước ngoài được thành lập theo luật Thái Lan
với điều kiện: một là phải liên doanh với một công ty giao nhận Thái Lan, hai
là số vốn góp của công ty nước ngoài không được vượt quá 49% trên tổng vốn.
Các công ty giao nhận đòa phương được sự hỗ trợ tối đa về giá cước ưu đãi, chỗ
chở hàng trên phương tiện vận chuyển từ các hãng hàng không Thái, hãng tàu
biển Thái Lan để tăng khả năng cạnh tranh giành nguồn hàng. Ngược lại, các
công ty giao nhận đòa phương giành hết hàng vận chuyển trên các phương tiện
vận chuyển trong nước. Trong mùa cao điểm gửi hàng, các công ty giao nhận
vận tải ngoại quốc rất khó kiếm chỗ trên máy bay của Thái Lan, điều này cũng
đồng nghóa là không thể bán được dòch vụ.
1.5.6. Các nước Tây Âu: Trước đây, các công ty giao nhận vận tải nước ngoài
muốn mở một văn phòng tại Pháp, Đức thì phải xin phép riêng cho từng văn
phòng, ngày nay việc cho phép được thực hiện một lần cho tất cả các văn
Về đường sá, cơ sở hạ tầng, hầu hết chính phủ các nước nhận thức rằng
chỉ khi giao nhận vận tải, cơ sở hạ tầng phát triển đến đâu thì kinh tế, thương
mại phát triển đến đó. Vì vậy, giải pháp đầu tiên của chính phủ các nước đều
xem phát triển vận tải là tiền đề thúc đẩy kinh tế tăng trưởng.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Kết luận chương I:
Qua nghiên cứu chương I, chúng ta thấy dòch vụ giao nhận vận tải tạo
ra một loại sản phẩm vô hình đặt biệt, đó là dòch vụ đưa hàng từ nơi gởi tới nơi
nhận hàng. Đối tượng phục vụ chính của hoạt động giao nhận hàng hóa XNK là
hàng hóa XNK của ngành ngoại thương, do đó khi phân tích các hoạt động của
ngành cần phải xem xét trong mối quan hệ chặt chẽ với ngoại thương, kinh tế
đối ngoại.
Hoạt động giao nhận hàng hóa XNK được cấu thành từ nhiều bộ phận
như CSHT, phương tiện vận chuyển, hàng hóa, các công ty giao nhận vận tải
và các bộ phận này có mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ với nhau. Ngoài ra, trong
hoạt động giao nhận hàng hóa XNK còn chòu ảnh hưởng của các bên liên quan
như cơ quan pháp luật, các ngành tham gia quản lý XNK.
Ngành giao nhận hàng hóa XNK ra đời đã hỗ trợ rất nhiều cho các
công ty XNK trong khâu tổ chức thực hiện hợp đồng ngoại thương. Do vậy, đây
được xem là một lónh vực dòch vụ đã và đang có những đóng góp to lớn đến
ngoại thương và nền kinh tế hướng ngoại Việt Nam. Việc nghiên cứu chặt chẽ
cơ sở lý luận cơ bản, phân tích thực tiễn hoạt động để từ đó rút ra những bài
học kinh nghiệm và giải pháp thích hợp phát triển loại hình dòch vụ này sẽ góp
phần đẩy mạnh ngoại thương và hội nhập vào các nền kinh tế thế giới.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
CHƯƠNG II:
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG
GIAO NHẬN HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU TẠI TP.HCM
2.1. Vài nét về hoạt động XNK tại Tp.HCM
Tp.HCM là nơi có hoạt động kinh tế sôi động nhất cả nước, là đầu tàu
2005 5.678.800 4.516.700 4.083.300 433.400 1.162.200
(Nguồn : Cục thống kê Tp.Hồ Chí Minh) - (2005 chỉ tính 6 tháng đầu năm)
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN