SV Lê Minh Khánh-Lớp 06VQT1 GVHD: Trần Thị Trang
________________________________________________________________________
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Vận tải đặc biệt là vận tải quốc tế và ngoại thương có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau vì nó đảm bảo sự luân chuyển hàng hóa, thông thương với các bạn bè năm châu
và có tác dụng thúc đẩy phát triển ngành vận tải quốc tế trong nước.Vận tải quốc tế là
tiền đề, là điều tiên quyết để thương mại quốc tế ra đời và phát triển.
Nhưng nhắc đến hoạt động vận tải hàng hóa quốc tế chúng ta không thể không nói đến
dịch vụ giao nhận vận tải hàng hóa quốc tế vì đây là hai hoạt động không tách rời
nhau, chúng có tác động qua lại thống nhất với nhau. Qui mô của hoạt động xuất nhập
khẩu trong những năm gần đây tăng lên nhanh chóng là nguyên nhân trực tiếp khiến
cho giao nhận vận tải nói chung và giao nhận vận tải biển nói riêng phát triển mạnh
mẽ. Bên cạnh đó, với hơn 3000km bờ biển cùng với rất nhiều cảng lớn nhỏ rải khắp
chiều dài đất nước, ngành giao nhận vận tải biển Việt Nam thực sự bước phát triển
đáng kể, chứng minh được tính ưu việt của nó so với các phương thức giao nhận vận
tải khác. Khối lượng và giá trị giao nhận qua các cảng biển luôn chiếm tỷ trọng lớn
trong tổng giá trị giao nhận hàng hóa quốc tế , kim ngạch buôn bán giữa Việt Nam và
các nước ngày càng tăng cao.
Có thể nói ngành giao nhận nói chung hay giao nhận hàng hóa bằng đường biển
nói riêng đã có một bề dày lịch sử và khẳng định của mình trong sự phát triển kinh tế
thế giới. Là một công ty đã thành công trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ giao nhận
hàng hóa, công ty TNHH Thương mại xuất nhập khẩu THIÊN NHÂN đã và đang từng
bước khẳng định sự tồn tại của mình bằng sự tín nhiệm của khách hàng trong môi
trường cạnh tranh gay gắt này.Tuy vậy, để tồn tại và phát triển lâu dài, công ty không
còn cách nào khác là phải nhìn nhận lại tình hình, trên cơ sở đó đề ra những giải pháp
thực tế để thúc đẩy hiệu qua hoạt động hơn nữa. Đó là lý do em chọn đề tài “ Một số
giải pháp phát triển dịch vụ giao nhận hàng hóa quốc tế bằng đường biển tại Công ty
TNHH thương mại dịch vụ Xuất nhập khẩu THIÊN NHÂN “ với mong muốn nâng cao
kiến thức bản thân đồng thời đóng góp một phần nhỏ vào sự phát triển của công ty
cũng như sự phát triển của loại hình kinh doanh dịch vụ này.
Sinh viên: Lê Minh Khánh
2
SV Lê Minh Khánh-Lớp 06VQT1 GVHD: Trần Thị Trang
________________________________________________________________________
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ GIAO NHẬN VẬN TẢI HÀNG
HÓA BẰNG ĐƯỜNG BIỂN.
1.1 Dịch vụ giao nhận và người giao nhận
1.1.1. Dịch vụ giao nhận
1.1.1.1. Khái niệm
Giao nhận vận tải là những hoạt động nằm trong khâu lưu thông phân phối, một
khâu quan trọng nối liền sản xuất với tiêu thụ. Giao nhận vận tải thực hiện chức năng
đưa sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ.
Giao nhận gắn liền với vận tải, nhưng nó không chỉ đơn thuần là vận tải. Giao nhận
mang trong nó một ý nghĩa rộng hơn, đó là tổ chức vận tải, lo liệu cho hàng hóa được
vận chuyển, rồi bốc xếp, lưu kho, chuyển tải, đóng gói, thủ tục, chứng từ Với nội
hàm rộng như vậy, nên có rất nhiều định nghĩa về giao nhận.
Theo qui tắc mẫu của Liên đoàn các hiệp hội giao nhận quốc tế ( FIATA), dịch vụ
giao nhận được định nghĩa “Là bất cứ loại dịch vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom
hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hàng hoá hay phân phối hàng hoá cũng như các dịch
vụ tư vấn hoặc có liên quan đến các dịch vụ trên, kể cả các vấn đề hải quan, tài chính,
mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hoá”. Còn theo luật
thương mại Việt Nam thì “ Dịch vụ giao nhận hàng hoá là hành vi thương mại, theo đó
người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá nhận hàng từ người gửi, tổ chức vận chuyển,
lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng
cho người nhận theo sự uỷ thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc người làm dịch
vụ giao nhận khác( gọi chung là khách hàng)
Như vậy, nói một cách ngắn gọn: Dịch vụ giao nhận là một dịch vụ liên quan đến quá
trình vận tải nhằm tổ chức việc vận chuyển hàng hoá từ nơi nhận hàng đến nơi giao
hàng.
hàng hóa.
• Bảo đảm chi phí thấp nhất: Giảm chi phí giao nhận là phương tiện cạnh tranh
hiệu quả giữa các công ty giao nhận khác.Muốn vậy phải đầu tư thích đáng cơ
sở vật chất, xây dựng và hoàn chỉnh các định mức, các tiêu chuẩn hao phí, đào
tạo đội ngũ nhân viên có nghiệp vụ.
1.1.2. Người giao nhận
1.1.2.1. Khái niệm.
Người giao nhận là người thực hiện các dịch vụ giao nhận theo sự uỷ thác của khách
hàng hoặc người chuyên chở.Nói cách khác, người kinh doanh các dịch vụ giao nhận
gọi là người giao nhận.Người giao nhận có thể là chủ hàng( khi anh ta tự đứng ra thực
4
SV Lê Minh Khánh-Lớp 06VQT1 GVHD: Trần Thị Trang
________________________________________________________________________
hiện các công việc giao nhận cho hàng hoá của mình), là chủ phương tiện vận tải( khi
chủ phương tiện vận tải thay mặt người chủ hàng thực hiện các dịch vụ giao nhận), đại
lý hàng hoá, công ty xếp dỡ hay kho hàng hoặc người giao nhận chuyên nghiệp hay
bấy kỳ một người nào khác thực hiện dịch vụ đó.
1.1.2.2. Phạm vi các dịch vụ của người giao nhận.
Trừ một số trường hợp bản thân người gửi hàng hoặc người nhận hàng muốn tự mình
tham gia bất cứ khâu thủ tục và chứng từ nào đó, còn thông thường người giao nhận
thay mặt anh ta lo liệu quá trình vận chuyển hàng hoá qua các công đoạn.Người giao
nhận có thể làm các dịch vụ trực tiếp hay thông qua những người ký hợp đồng phụ,
những đại lý mà họ thuê,người giao nhận cũng có thể sử dụng những đại lý của họ ở
nước ngoài.Những dịch vụ này bao gồm:
+ Thay mặt người nhận hàng( người nhập khẩu)
+ Thay mặt người gửi hàng( người xuất khẩu)
+ Những dịch vụ khác.
Tuỳ vào từng lô hàng xuất hay nhập khẩu,người giao nhận sẽ thực hiện những công
việc vận chuyển phù hợp để hàng hoá từ nơi nhận hàng đến nơi giao hàng.
1.1.2.3. Mối quan hệ của người giao nhận với các bên liên quan
1.2.2. Các nguyên tắc giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu.
Các văn bản hiện hành đã quy định những nguyên tắc chung trong giao nhận hàng hóa.
- Việc bốc dỡ, giao nhận, bảo quản hàng hóa xuất nhập khẩu tại cảng là do cảng
tiến hành trên cơ sở hợp đồng giữa chủ hàng hoặc người được chủ hàng ủy thác với
cảng. Người được chủ hàng ủy thác thường là người giao nhận.
- Đốn với hàng không qua cảng (không lưu kho tại cảng) thì chủ hàng hoặc người
được ủy thác có thể giao nhận trực tiếp với tàu, chỉ thỏa thuận với cảng về địa điểm
bốc dỡ, thanh toán chi phí bốc dỡ và các chi phí phát sinh khác.
- Việc bốc dỡ hàng hóa trong phạm vi cảng do cảng tổ chức thực hiện.Nếu chủ
hàng đưa phương tiện và nhân công vào cảng để bốc dỡ thì chủ hàng phải thỏa
thuận với cảng và phải trả lệ phí liên quan nếu có.
- Khi được ủy thác nhận hàng từ tàu, cảng nhận hàng bằng phương thức nào thì
phài giao hàng bằng phương thức ấy.
- Người giao nhận hàng phải xuất trình chứng từ hợp lệ xác nhận quyền được nhận
hàng và phải nhận đúng khối lượng hàng hóa ghi trong chứng từ. Cảng không chịu
trách nhiệm về hàng hóa khi ra khỏi cảng.
- Việc giao nhận được tiến hành trên cơ sở ủy thác của chủ hàng tức là chủ hàng ủy
thác việc gì thì làm việc đó.
Ngoài ra còn có những qui tắc cơ bản như việc giao nhận phải đảm bảo định mức xếp
dỡ của cảng, hàng thông qua cảng phải có đầy đủ ký mã hiệu.
6
SV Lê Minh Khánh-Lớp 06VQT1 GVHD: Trần Thị Trang
________________________________________________________________________
1.2.3. Trình tự của hoạt động giao nhận hàng hóa bằng đường biển.
1.2.3.1. Giao nhận hàng xuất khẩu.
* Đối với hàng hóa không phải lưu kho bãi tại cảng
Hàng không phải lưu kho bãi tại cảng là hàng xuất khẩu do chủ hàng vận chuyển từ
các nơi trong nước để xuất khẩu, có thể bảo quản tại các kho riêng của mình chứ
không qua các kho của cảng. Từ kho riêng chủ hàng hoặc người được ủy thác có thể
giao trực tiếp cho tàu.
danh mục hàng hóa xuất khẩu ( Cargo list), thông báo xếp hàng của hãng tàu cấp
(Shipping Order).
+ Giao hàng vào kho, bãi của cảng.
- Cảng giao cho tàu.
+ Trước khi giao hàng cho tàu,chủ hàng phải làm các thủ tục cần thiết để xuất
khẩu như làm thủ tục hải quan, kiểm dịch, vệ sinh, báo cho cảng ngày giờ dự
kiến tàu đến và giao cho cảng sơ đồ xếp hàng.
+ Xếp và giao hàng cho tàu.
Trước khi xếp, tổ chức vận chuyển hàng từ kho ra cảng, lấy lịch xếp hàng,
ấn định máng xếp hàng, bố trí xe và công nhân, người áp tải (nếu cần).
Tiến hành bốc xếp và giao hàng cho tàu. Việc xếp hàng lên tàu do công
nhân của cảng làm. Hàng sẽ được giao cho tàu dưới sự giám sát của đại diện
hải quan. Trong quá trình giao hàng, nhân viên kiểm đếm của cảng phải ghi
số lượng hàng giao vào tờ báo cáo kiểm đếm (Tally Report), cuối ngày phải
ghi vào báo cáo hàng ngày (Daily Report) và khi xếp xong một tàu, ghi vào
báo cáo cuối cùng (Final Report). Bên phía tàu cũng có nhân viên kiểm đếm
và ghi tình hình vào bản kiểm kê (Tally Sheet). Việc kiểm đếm cũng có thể
thuê nhân viên của công ty khác chuyên kiểm đếm kiện hàng hóa.
Khi giao nhận xong một lô hoặc cả tàu, cảng phải lấy biên lai thuyền phó
(Mate’s Receipt) để trên cơ sở đó lập vận đơn.
- Lập bộ chứng từ thanh toán.
Căn cứ vào hợp đồng mua bán và L/C, người giao nhận phải lập các chứng từ cần
thiết hợp thành bộ chứng từ , xuất trình cho ngân hàng để được thanh toán tiền
hàng. Nếu thanh toán bằng L/C thì bộ chứng từ thanh toán phải phù hợp với nhau
và phù hợp về mặt hình thức với L/C và phải xuất trình trong thời hạn hiệu lực của
L/C
- Thông báo cho người mua về việc giao hàng và mua bảo hiểm cho hàng hóa nếu
cần.
* Đối với hang container.
8
- Chủ hàng hoặc người được ủy thác đứng ra giao nhận trực tiếp với tàu.Để có thể tiến
hành dỡ hàng, 24 giờ trước khi tàu cập cảng, chủ hàng phải trao cho cảng một số
chứng từ sau:
+ Bản lược khai hàng hóa (2 bản)
9
SV Lê Minh Khánh-Lớp 06VQT1 GVHD: Trần Thị Trang
________________________________________________________________________
+ Sơ đồ xếp hàng ( Cargo plan- 2 bản)
+ Chi tiết hầm hàng ( 2 bản)
+ Chi tiết về hàng quá khổ quá tải (nếu có)
- Chủ hàng xuất trình vận đơn gốc cho đại diện hãng tàu để lấy lệnh giao hàng (D/O).
- Trực tiếp nhận hàng từ tàu và lập các chứng từ cần thi61t trong quá trình nhận hàng
như:
+ Biên bản giám định hầm tàu (lập trước khi dỡ hàng) nhằm bảo lưu trách
nhiệm của tàu về những tổn thất xảy ra sau này.
+ Biên bản dỡ hàng (COR) đối với tổn thất rõ rệt.
+ Thư dự kháng (LR) đối với tổn thất không rõ rệt.
+ Bản kết toán nhận hàng với tàu
+ Biên bản giám định.
+ Giấy chứng nhận hàng thiếu ( do đại lý hàng hải lập)
- Khi dỡ hàng ra khỏi tàu, chủ hàng có thể đưa về kho riêng và mời hải quan xuống
kiểm hóa.Nếu hàng không có niêm phong kẹp chì thì phải có hải quan áp tải về kho.
- Làm thủ tục hải quan cho hàng nhập.
- Vận chuyển hàng về kho hoặc phân phối ngay hàng hóa.
* Hàng phải lưu kho, lưu bãi tãi cảng.
Cũng như đối với hàng xuất khẩu, trình tự nhận hàng gồm các bước sau:
- Cảng nhận hàng từ tàu
+ Cảng dỡ hàng và nhận hàng từ tàu.
+ Lập các giấy tờ cần thiết trong quá trình giao nhận cùng người giao nhận
+ Đưa hàng về kho bãi cảng.
+ Khi nhận được thong báo hang đến do hang tàu gửi thì chủ hang mang vận
đơn gốc, giấy giới thiệu của cơ quan hoặc giấy ủy quyền (nếu có) đến hang tàu để lấy
lệnh giao hàng.
+ Chủ hàng mang lệnh giao hàng đến hải quan làm thủ tục hải quan và đăng ký
kiểm hóa (có thể đề nghị đưa cả container về kho riêng hoặc ICD để kiểm tra hải quan
nhưng phải trả vỏ đúng hạn nếu không sẽ bị phạt)
+ Sau khi hoàn thành thủ tục hải quan, chủ hàng mang bộ chứng từ nhận hàng
cùng lệnh giao hàng đến văn phòng quản lý tàu tại cảng để xác nhận lệnh giao hàng.
+ Lấy phiếu xuất kho và nhận hàng.
- Đối với hàng lẻ (LCL): Chủ hàng mang vận đơn gốc hoặc vận đơn gom hàng đến
hãng tàu hoặc đại lý của người gom hàng để lấy lệnh giao giao hàng, sau đó nhận hàng
tại CFS quy định và làm các thủ tục như hàng FCL.
11
SV Lê Minh Khánh-Lớp 06VQT1 GVHD: Trần Thị Trang
________________________________________________________________________
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chuơng 1 trình bày những kiến thức cơ bản giới thiệu về dịch vụ giao nhận hàng hóa
nói chung và dịch vụ giao nhận hàng hóa bằng đường biển nói riêng. Bên cạnh đó,
chương 1 cũng là cơ sở lý luận về dịch vụ giao nhận vận tải hàng hóa bằng đường biển
như các khái niệm về dịch vụ giao nhận, cơ sở pháp lý và các nguyên tắc chung trong
giao nhận hàng hóa.
Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với các nước trong khu vực và thế giới ngày
càng tăng cao thì vai trò của hoạt động giao nhận hàng hóa quốc tế vô cùng quan trọng
nó giúp cho hàng hóa được lưu thông nhanh chóng và chính xác.
Trên đây là cơ sở nghiên cứu để ta có một cái nhìn tổng quát chung trong lĩnh vực giao
nhận hàng hoá bằng đường biển. Qua chương 2 sẽ trình bày về thực trạng giao nhận
hàng hóa quốc tế bằng đường biển tại công ty Thiên Nhân.
12
SV Lê Minh Khánh-Lớp 06VQT1 GVHD: Trần Thị Trang
________________________________________________________________________
13
SV Lê Minh Khánh-Lớp 06VQT1 GVHD: Trần Thị Trang
________________________________________________________________________
Theo điều lệ của công ty có các chức năng sau:
+ Phối hợp với các tổ chức khác ở trong và ngoài nước để tổ chức chuyên chở, giao
nhận hàng hóa xuất nhập khẩu, chứng từ liên quan.
+ Nhận ủy thác dịch vụ giao nhận, kho bãi, thuê và cho thuê kho bãi, lưu cước các
phương tiện vận tải bằng các hợp đồng trọn gói “ từ cửa tới cửa” và thực hiện các dịch
vụ khác liên quan đến hàng hóa như gom hàng, chia hàng lẻ, làm thủ tục xuất
khẩu,nhập khẩu, thủ tục hải quan, mua bảo hiểm hàng hóa và giao hàng hóa đó cho
người chuyên chở để chuyển tiếp đến nơi quy định.
+ Thực hiện các dịch vụ tư vấn về giao nhận, vận tải kho hàng và các vấn đề khác có
liên quan theo yêu cầu của khách hàng.
+ Nhận ủy thác xuất nhập khẩu hoặc kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp hàng hóa
trên cơ sở giấy phép xuất nhập khẩu của Bộ Tài Chính cấp cho công ty.
+ Tiến hàng làm các dịch vụ giao nhận, vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu, hàng
hóa quá cảnh qua lãnh thổ Việt Nam và ngược lại bằng các phương tiện chuyên chở
của mình hoặc thông qua phương tiện của người khác.
+ Liên doanh liên kết với các công ty trong và ngoài nước trong lĩnh vực vận chuyển,
giao nhận, kho bãi, thuê phương tiện. . .
* Nhiệm vụ.
Với các chức năng trên, công ty phải thực hiện nhửng nhiệm vụ chủ yếu sau:
+ Xây dụng kế hoạch và tổ chức thực hiện các kế hoạch kinh doanh của công ty nhằm
thực hiện đúng mục đích và chức năng đã nêu của công ty.
+ Bảo đảm việc bảo toàn và bổ xung vốn trên cơ sở tự tạo nguồn vốn, bảo đảm trang
trải tài chính, sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn vốn, làm tròn nghĩa vụ nộp
thuế đối với nhà nước.
+ Mua sắm, xây dụng, bổ xung và thường xuyên cải tiến, nâng cấp trang thiết bị, cơ sở
vật chất của công ty.
+ Thông qua việc liên doanh, liên kết trong và ngoài nước để thực hiện việc giao nhận,
Chính
Các chi nhánh
P.Tổng hợp
Chi nhánh
Hà Nội
Chi nhánh
Hải Phòng
Giao nhận
đường biển
Giao nhận
hàng không
Marketing
dịch vụ
15
SV Lê Minh Khánh-Lớp 06VQT1 GVHD: Trần Thị Trang
________________________________________________________________________
2.1.4. Tình hình kinh doanh chung của công ty trong những năm gần đây.
Bàng 2.1: Bảng kết quả kinh doanh của công ty những năm gần đây
Đơn vị : Triệu VNĐ
Năm Doanh thu Tỷ trọng (%) Lợi nhuận Tỷ suất LN (%)
2005 28403 18,5 2812 9,9
2006 29308 19,2 3157 10,77
2007 32670 21,3 4419 13,49
2008 28678 18,7 1926 6,72
2009 34252 22,3 2649 7,73
Tổng 153311 100 14963 48,61
Nguồn: Phòng kế toán-Cty Thiên Nhân
Có thể nói năm 2006 và 2008 là những mốc son trong hoạt động của Thiên
Nhân,doanh thu tăng cao, thu nhập của công nhân viên được đảm bảo, đóng góp khá
lớn vào ngân sách nhà nước, các quỹ đầu tư và phát triển sản xuất không những được
hơn. Nhưng nhờ những cố gắng cùng những cải tổ kịp thời, đó là sự thay đổi trong bộ
máy lãnh đạo, những người tài năng và nhiệt huyết đã được đảm nhận những vị trí
quan trọng cùng với những điều kiện thuận lợi trong trong chính sách Nhà nước, công
ty đã gặt hái được nhiều thành tựu, triển vọng phát triển ngày càng khả quan.
Công ty đã mở thêm những dịch vụ như kinh doanh kho, mở rộng hoạt động gom
hàng, vận tải đa phương thức, làm đại lý cho các hãng vận tải nước ngoài, hơn thế còn
gửi nhân viên đi đào tạo, nâng cao nghiệp vụ, trình độ chuyên môn. Nhờ đó có thể tin
tưởng rằng công ty sẽ còn phát triển mạnh trong lĩnh vực giao nhận hàng hóa tại Việt
Nam.
2.2. Hoạt động giao nhận hàng hóa quốc tế bằng đường biển tại công ty Thiên Nhân.
2.2.1. Một số đặc thù của hoạt động giao nhận hàng hóa quốc tế bằng đường biển tại
công ty
2.2.1.1. Hoạt động mang tính thời vụ.
17
SV Lê Minh Khánh-Lớp 06VQT1 GVHD: Trần Thị Trang
________________________________________________________________________
Đây không chỉ là đặc thù hoạt động của công ty mà của hầu hết các doanh nghiệp hoạt
động trong lĩnh vực này. Tính thời vụ trong hoạt động giao nhận xuất phát từ tính thời
vụ của các mặt hàng xuất nhập khẩu. Chẳng hạn như vào thời điểm đầu năm, hoạt
động giao nhận thường giảm sút do khối lượng hàng vận chuyển giảm sút.
Trong các tháng tiếp theo, các doanh nghiệp sản xuất bắt đầu lên kế hoạch cho hoạt
động sản xuất kinh doanh của mình, nhưng thời điểm này họ củng chỉ nhập khẩu một
số máy móc, nguyên liệu phục vụ cho dây chuyền sản xuất. Hoạt động giao nhận ở
thời điểm này khá hạn chế. Chỉ đến tháng 4 khi mà các nhà máy cho ra sản phẩm, hoạt
động giao nhận mới trở nên nhộn nhịp. Nhu cầu vận chuyển hàng ở thời điểm này là
rất lớn cà đối với hàng xuất lẫn hàng nhập.
Chỉ đến gần cuối năm, khi mà nhu cầu tiêu dùng của người dân tăng mạnh, ở Châu Âu
là giáng sinh, năm mới, ở Châu Á là tất cổ truyền thì những người làm giao nhận mới
thực sự bận rộn. Lương hàng giao nhận cuối năm rất phong phú cả về chủng loại và
khối lượng. Nhu cầu giao nhận tăng gấp nhiều lần so với những tháng trước.
phương dịch vụ vận tải biển là một trong những ngành dịch vụ nhạy cảm và được các
quốc gia rất quan tâm, nhưng tiến trình tự do hóa ngành dịch vụ này gặp nhiều khó
khăn do một số nước luôn đưa ra ý kiến phản đối, họ muốn áp dụng luật riêng của
mình nhằm bảo hộ ngành vận tải biển trong nước. Trên thực tế, môi trường kinh doanh
của ngành dịch vụ này vẫn tiếp tục được cải thiện và tự do hóa đáng kể. Lý do chính là
những người ủng hộ tự do hóa vẫn tiếp tục kiên trì tiến hành tự do hóa đơn phương
hoặc tham gia đàm phán trong khuôn khổ các diễn đàn hợp tác kinh tế như diễn đàn
hợp tác kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương (APEC), hiệp hội các quốc gia Đông Nam
Á ( ASEAN). Nhờ vậy mà những người làm giao nhận mới có điều kiện tin tưởng vào
sự phát triển dịch vụ trong thời gian tới.
2.2.2.2. Cơ chế quản lý của nhà nước
Đây là nhân tố có ảnh hưởng rất quan trọng đến hoạt động giao nhận vận tải vì Nhà
nước có những chính sách thông thoáng , rộng mở sẽ thúc đẩy sự phát triển của giao
nhận vận tải, ngược lại sẽ kìm hãm nó.
Khi nói đến cơ chế quản lý vĩ mô của nhà nước, chúng ta không thể chỉ nói đến nhữnh
chính sách riêng về vận tải biển hay giao nhận, cơ chế ổ đây bao gồm tất cả các chính
sách có liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu nói chung. Chính phủ Việt Nam đã
đưa ra nhiều chính sách tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, từ đó tạo ra nguồn
hàng cho hoạt động giao nhận như áp mức thuế suất 0% cho hàng xuất khẩu, đổi mới
luật Hải quan, luật thuế xuất nhập khẩu, luật thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt…tuy
nhiên không phải chính sách nào nhà nước đưa ra cũng có tác dụng tích cực, nhiều quy
định hay thông tư khi ban hành ra gây ra ảnh hưởng rất lớn đến các doanh nghiệp sản
xuất hàng hóa cũng như các doanh nghiệp giao nhận vận tải.
19
SV Lê Minh Khánh-Lớp 06VQT1 GVHD: Trần Thị Trang
________________________________________________________________________
2.2.2.3. Tình hình xuất nhập khẩu trong nước
Như trên đã nói, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa có quan hệ mật thiết với hoạt
động giao nhận hàng hóa. Lượng hàng hóa xuất nhập khẩu có dồi dào, người giao
nhận mới có hàng để giao nhận, sản lượng và giá trị giao nhận mới tăng, ngược lại
________________________________________________________________________
lòng tin nơi khách hàng, điều này rất quan trọng do đặc thù của dịch vụ giao nhận đó
là có giao fịch với nhiều khách hàng nước ngoài. Hơn thế mới đáp ứng được yêu cầu
giao nhận phát triển ngày càng mạnh mẽ. Bên cạnh đó, một công ty có tiềm lực về vốn
cũng là một lợi thế rất lớn trong kinh doanh.
Ngoài ra, các cơ chế chính sách của bản thân công ty cũng có ảnh hưởng quan trọng
đến hoạt động giao nhận. Trong giao nhận vận tải biển, lượng khách hàng lớn và ổn
định là khá nhiều, nếu công ty có chính sách ưu đãi đối với những khách hàng này thì
không chỉ có được sự gắn bó của khách hàng mà còn tạo thuận lợi cho chính các nhân
viên của công ty trong quá trình đàm phám, thương lượng, ký kết hợp đồng với khách.
Một nhân tố vô cùng quan trọng nữa đó là trình độ, kinh nghiệm, kiến thức của đội
ngũ các bộ nhân viên của công ty. Đó là những kiến thức về luật pháp, thủ tục thương
mại quốc tế, kiến thức và kinh nghiệm về nghiệp vụ. Chỉ một sự non nớt khi ký kết
hợp đồng ủy thác giao nhận có thể gây thiệt hại to lớn cho cà công ty, một sự bất cẩn
khi kiểm nhận hàng có thể dẫn đến sự tranh chấp không đáng có. Có thể nói, nhân tố
con người sẽ quyết định sự thành công hay thất bại của công ty.
2.2.3. Quy trình giao nhận hàng hóa quốc tế bằng đường biển tại công ty.
2.2.3.1. Giao nhận hàng xuất khẩu.
Đối với một lô hàng xuất khẩu, quy trình giao nhận được tiến hành theo các bước sau:
21
SV Lê Minh Khánh-Lớp 06VQT1 GVHD: Trần Thị Trang
________________________________________________________________________
Sơ đồ 2.2: Quy trình giao nhận hàng xuất khẩu
* Nhận hàng từ người gửi hàng (người xuất khẩu)
Giữa công ty và người gửi hàng sẽ có thỏa thuận về phương thức và địa điểm nhận
hàng. Về phương thức, người gửi hàng có thể trực tiếp mang hàng đến hoặc sử dụng
dịch vụ vận chuyển nội địa của công ty. Về địa điểm, hàng hóa có thể được vận
chuyển trực tiếp ra cảng hoặc mang về kho của công ty ở quận Thủ Đức hoặc quận 9
nếu chủ hàng ở TP HCM.
khách hàng nhỏ lẻ không có được.
* Tổ chức giao hàng lên tàu.
Trước khi tàu đến cảngbốc hàng
Hành trình của một con tàu thường là chở hàng đến cảng, dỡ hàng ra, lưu lại tải từ 1-3
ngày, xếp hàng mới lên tàu rồi khởi hành. Đối với một số cảng của Việt Nam như cảng
Cát Lái, thời gian một con tàu lưu lại chỉ 1 ngày. Do đó, trước khi tàu cập cảng , hãng
tàu sẽ gửi thông báo thời gian dự kiến tàu vào cảng (ETA) cho người giao nhận. Thời
gian này phụ thuộc vào thuyến đường, thỏa thuận giữa hãng tàu và người giao nhận.
Đối với công ty, nếu tuyến đường xa, ETA được gửi trước từ 24h-48h, còn đường gần
ETA phải gửi trước 48h-72h.
Khi biết được thời gian dự kiến tàu đến cảng, nhân viên giao nhận của công ty sẽ phải
làm một số công việc sau:
- Xin kiểm định, kiểm dịch cho hàng hóa để lấy giấy chứng nhận kiểm
định, kiểm dịch.
- Lập tờ khai hải quan, tiến hành thông quan hàng xuất khẩu
- Nộp thuế xuất khẩu cho hàng hóa (nếu có)
- Cung cấp chỉ dẫn xếp hàng cho hãng tàu đồng thời nhận thông báo xếp
hàng do hãng tàu cấp
- Lập bảng kê khai hàng hóa (Cargo List) gồm 5 bản để gửi cho cảng và
gửi cho tàu. Nội dung chính của Cargo List gồm: Tên công ty xuất nhập khẩu,
tên người nhập khẩu, tên hàng, ký mã hiệu, số lượng, trọng lương.
23
SV Lê Minh Khánh-Lớp 06VQT1 GVHD: Trần Thị Trang
________________________________________________________________________
Nếu là hàng xuất đóng trong container thì cùng với bản danh mục hàng hóa, người
giao nhận phải xin hãng tàu lệnh giao vỏ container rỗng để đưa cho khách hàng về
đóng hàng, sau đó làm thủ tục hải quan, niêm phong kẹp chì container. Còn nếu là
hàng lẻ thì người giao nhận sẽ cấp cho người gửi hàng vận đơn gom hàng (House Bill
of Lading- HB/L), tập hợp các lô hàng lẻ và đóng vào container sau khi đã qua kiểm
tra của cán bộ hải quan.
2.2.3.2. Giao nhận hàng nhập khẩu
Khi nhận được yêu cầu giao nhận một lô hàng nhập khẩu,người giao nhận phải tiến
hành các bước sau:
Sơ đồ 2.3: Quy trình giao nhận hàng nhập khẩu
* Trước khi tàu cập cảng
Người giao nhận phải được người nhận hàng hoặc đại lý của mình cung cấp thông tin
cần thiết về lô hàng. Cụ thể:
- Thông tin về tàu: tên tàu, quốc tịch, thời gian dự kiến tàu cập cảng dỡ hàng
- Bản lược khai hàng (Cargo Manifest) để biết hình hình hàng hóa
Chủ hàng phải giao cho người giao nhận vận đơn gốc và các chứng từ khác của hàng
hóa như: giấy phép nhận khẩu, hóa đơn thương mại, hợp đồng mua bán ngoại thương.
Người giao nhận phải lên kế hoạch nhận hàng đồng thời nếu được ủy thác sẽ phối hợp
với chủ hàng giao hàng cho các chủ hàng nội địa.
* Khi tàu cập cảng.
Khi nhận được giấy báo hàng đến do hãng tàu fax đến, người giao nhận sẽ lập giấy
báo hàng đến gửi cho chủ lô hàng để chủ hàng chủ động chuẩn bị các phương tiện lấy
hàng.
Đồng thời, nhân viên giao nhận phải thực hiện các công việc sau:
- Xin kiểm đinh, kiểm dịch hàng hóa nếu cần.
Lấy thông tin trước
khi tàu cập cảng
Làm các thủ tục cần
thiết khi tàu cập cảng
Tổ chức nhận hàng từ
tàu và giao hàng
Xin kiểm
định,kiểm dịch
hàng hoá(nếu cần)
Làm thủ tục khai