GVHD: Th.S Lý Thị Hàm
MỞ ĐÂU
1. Lý do chọn đề tài
Chăm sóc sức khỏe sinh sản có vai trò quan trọng đối với mỗi quốc gia
trong đó có Việt Nam. Chăm sóc sức khỏe sinh sản có ảnh hưởng tới thế hệ
tương lai của đất nước; ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực; ảnh
hưởng đến quá trình hình thành và phát triển của mỗi con người; ảnh hưởng
đến đời sống tâm lý, tinh thần của gia đình, dòng họ. Chính vì vậy mà chăm
sóc sức khỏe sinh sản đã được các nước trên thế giới quan tâm từ rất sớm.
Đối với các vùng nông thôn thì chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ
càng có ý nghĩa quan trọng và cấp thiết. So với thành thị vùng nông thôn
ch¨m sãc sức khỏe sinh sản có hạn chế hơn. Mặt khác trình độ học vấn của
phụ nữ nông thôn cũng thấp hơn nên việc tiếp thu kiến thức và sự hiểu biết
về chăm sóc sức khỏe sinh sản còn nhiều khó khăn, hạn chế.
Theo điều tra của Bộ y tế có tới 90% phụ nữ nông thôn không biết
chăm sóc sức khỏe y tế, 40% mắc bệnh là do lao lực, do môi trường lao
động sản xuất, do diều kiện vệ sinh kém. Hiện nay tỷ lệ bác sỹ tuyến Xã
chiếm khoảng 6,5 bác sỹ /vạn dân nhưng trên thực tế có những Tỉnh tỷ lệ
này chỉ đạt 1,1 bác sỹ/ vạn dân. Trong khi đó có 70% dân số làm nông
nghiệp điều này cho thấy việc chăm sóc sức khỏe tại các vùng nông thôn còn
nhiều bất cập. Một trong những lý do mà phụ nữ ở nhiều vùng nông thôn
chưa tiếp cận được các dịch vụ y tế hay chăm sóc sức khỏe là do họ ngại đi
khám và công tác tuyên truyền chưa hiệu quả. Mặt khác họ khó có khả năng
về kinh tế, tài chính để tiếp cận và hưởng thụ thành quả của các dịch vụ y tế
và chăm sóc sức khỏe.
Xã Mai Sơn, Huyện Yên Mô, Tỉnh Ninh Bình là một Xã thuần nông,
dân cư tập trung đông đúc. Những năm qua tình hình chăm sóc sức khỏe
1
GVHD: Th.S Lý Thị Hàm
sinh sản có nhiều thay đổi tích cực, nhận thức của phụ nữ về chăm sóc sức
khỏe sinh sản có nhiều tiến bộ. Tuy nhiên chăm sóc sức khỏe sinh sản hiện
- Nâng cao kỹ năng nghiên cứu khoa học cho sinh viên
3 . Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ nông thôn ở Xã
Mai Sơn – Huyện Yên Mô – Tỉnh Ninh Bình
4 . Khách thể nghiên cứu
- 120 phụ nữ nông thôn trong độ tuổi từ 18 – 40 đang sinh sống tại xã
Mai Sơn, Huyện Yên Mô, Tỉnh Ninh Bình.
- Chủ tịch Xã, Cán Bộ dân số Xã, Trạm trưởng trạm y tế Xã
5. Phạm vi nghiên cứu
Thời gian: từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2010
Địa điểm: Xã Mai Sơn, Huyện Yên Mô, Tỉnh Ninh Bình
Nội dung: Khóa luận nghiên cứu về thực trạng chăm sóc sức khỏe sinh sản
cho phụ nữ nông thôn gồm những nội dung sau:
+ Thực trạng chăm sóc søc khoÎ khi mang thai
+ Thực trạng chăm sóc søc khoÎ khi sinh và sau sinh con
+ Thực trạng sử dụng các biện pháp tránh thai
+ Thực trạng sù hiÓu biÕt c¸c bệnh LTQĐTD
+ Thực trạng ho¹t ®éng cung cấp các dịch vụ y tế, dịch vụ chăm
sóc sức khỏe sinh sản
6. Phương pháp nghiên cứu
Một số phương pháp được sử dụng chính trong khóa luận gồm:
- Phương pháp phân tích tài liệu: Một số tài liệu sử dụng cho khóa
luân như tài liệu trên internet, sách báo, những báo cáo về tình hình kinh tế
3
GVHD: Th.S Lý Thị Hàm
xã hội, việc chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ trong xã, những nghiên
cứu về chăm sóc sức khỏe sinh sản được phân tích cho phù hợp với nội dung
và mục đích khóa luận. Từ phân tích tài liệu để xây dựng cơ sở lý luận và
đưa ra các khái niệm.
chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung
Chương 2: Thực trạng chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ nông
thôn xã Mai Sơn, Huyện Yên Mô, Tỉnh Ninh Bình
Chương 3: Kết luận và gi¶i ph¸p.
CHƯƠNG I.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
6
GVHD: Th.S Lý Thị Hàm
Năm 1948 tổ chức y tế thế giới (WHO) đã đưa ra một khái niệm khá
nổi tiếng về sức khỏe “sức khỏe là một trạng thái hoàn hảo về thể chất, lực,
trí lực, tinh thần và phúc lợi xã hội chứ không đơn thuần chỉ là không có
bệnh tật hay không ốm yếu”. Đến năm 1980 Tổ chức này đã đưa ra khái
niệm về sức khỏe sinh sản và các nội hàm cùng với các chương trình về
chăm sóc sức khỏe sinh sản.
Năm 1994 Hội Nghị Quốc Tế về dân số và phát triển tại Cai rô (Ai
Cập) với sự tham gia của hơn 11000 Đại biểu chính thức của Tổ chức Chính
phủ, Phi chính phủ từ hơn 180 nước, đã đưa ra một chương trình hoạt động
mới trong lĩnh vực dân số và phát triển. Chương trình nhấn mạnh đến vấn đề
về sự tham gia và trách nhiệm của tổ chức Quốc Tế, các Quốc Gia và cả
cộng đồng, kể cả nam giới đối với sức khỏe sinh sản.
Phần cơ sở cho hành động cũng nêu rõ: “ Quyền của nam giới và phụ
nữ được thông tin và tiếp cận các biện pháp điều tiết sinh sản……… theo
sự lựa chọn của họ …………, và quyền được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc
sức khỏe phù hợp tạo điều kiện cho người phụ nữ trải qua thời kỳ thai nghén
và sinh con một cách an toàn và cho các cặp vợ chồng một cơ hội tốt nhất để
có đứa con khỏe mạnh. Trong hội nghị dân số và phát triển tại Ai Cập cũng
đã đưa ra một cách khái quát nhất về khái niệm sức khỏe sinh sản đồng thời
đưa ra các con số thống kê phụ nữ tử vong do liên quan đến thai sản. Đồng
thôn trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn” nói về vai
trò của phụ nữ nông thôn trong sản xuất nông nghiệp và các yếu tố ảnh
hưởng đến sức khỏe thể chất và tinh thần của phụ nữ nơi đây. “Một số
nghiên cứu về sức khỏe sinh sản sau Cairo” đưa ra các khái niệm và sự
thống nhất chương trình chăm sóc sức khỏe sinh sản; Luận án Tiến sỹ của
Đỗ Quan Hà với đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản của
8
GVHD: Th.S Lý Thị Hàm
phụ nữ” chủ yếu là nói đến ba yếu tố: bản thân phụ nữ, gia đình và cộng
đồng có ảnh hưởng như thế nào đến việc chăm sóc sức khỏe sinh sản của
phụ nữ. “Những đặc trưng cơ bản về sự phát triển cơ thể và sự sinh đẻ của
phụ nữ nông thôn vùng Bắc Bộ" Chương trình chăm sóc sức khỏe sinh sản
của Ủy ban dân số gia đình và trẻ em (tập 1, năm 2002), sách do Bộ Y tế cấp
cho cán bộ y tế cấp cơ sở, nhằm chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ
trong độ tuổi sinh sản ở tuyến cơ sở được tốt hơn.
Như vậy có thể thấy vấn đề sức khỏe sinh sản và chăm sóc sức khỏe
sinh sản có vai trò rất quan trọng. SKSS và CSSKSS được đề cập từ sớm và
đã có nhiều tổ chức, nhiÒu quốc gia và các nhà nghiên cứu quan tâm.
1.2. Các khái niệm cơ bản
1.2.1. Khái niệm về sức khỏe
- Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO):
Sức khỏe là trạng thái hoàn hảo về thể chất, trí lực, tinh thần và phúc lợi xã
hội chứ không đơn thuần là không bệnh tật, không ốm yếu.
- Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh:
Quan điểm của Người về sức khỏe thể hiện ở các khía cạnh:
+ Sức khỏe là sự thống nhất giữa yếu tố thể chất và yếu tố tinh thần
bao gồm các yếu tố: Sinh hoạt vật chất vừa đủ “tự cung thanh đạm” và trạng
thái tinh thần sáng suốt sảng khoái, sự thanh thản.
+ Sức khỏe gắn với cuộc sống lao động, gắn liền với một nếp sống
đẹp có văn hóa.
+ Thứ ba: Con người có thể đạt được những giá trị xã hội cao nhất mà
họ có thể đạt được như trình độ học vấn, điều kiện học tập, trình độ tay
nghề, giao tiếp xã hội và các quan hệ xã hội khác là cơ sở để họ nhận thức,
thái độ và hành vi tình dục, cũng như thực hiện quá trình sinh sản đúng đắn.
10
GVHD: Th.S Lý Thị Hàm
- Theo Ủy ban dân số gia đình và trẻ em:
Sức khỏe sinh sản là tình trạng khỏe mạnh về thể chất, tinh thần và
xã hội, của tất cả những gì liªn quan tới hoạt động và chức năng của bộ máy
sinh sản, chứ không phải là không có bệnh hay khuyết tật của bộ máy đó.
Hoạt động của bộ máy sinh sản nhằm hai mục tiêu:
+ Mục tiêu sinh sản là sinh đẻ
+ Mục tiêu không sinh sản là những hoạt động tình dục
Cả hai mục tiêu đều mang tính xã hội rộng rãi và tính tự nhiên vốn có
Ủy ban dân số gia đình và trẻ em cũng đưa ra một định nghĩa đơn giản
và cụ thể: sức khỏe sinh sản là khả năng nam nữ tiến hành hoạt động tình
dục an toàn, mong muốn có thai hoặc không, và nếu mong muốn thì quá
trình mang thai đủ tháng an toàn, đẻ con ra khỏe mạnh và được chuẩn bị
nuôi dưỡng tốt.
- Theo chương trình hành động của Hội Nghị quốc tế về dân số và
phát triển ( Cairo – Ai Cập):
“Sức khỏe sinh sản là trạng thái khỏe mạnh hoàn toàn về thể chất, tinh
thần và xã hội chứ không chỉ là bệnh tật hay ốm yếu, trong tất cả mọi thứ
liên quan đến hệ thống sinh sản, các chức năng và quá trình của nó”.
+ Sức khỏe sinh sản hàm ý là con người có thể có một cuộc sống tình
dục thỏa mãn, an toàn có khả năng sinh sản và được tự do quyết định khi
nào và thường xuyên như thế nào trong việc này. Điều kiện cuối cùng này
ngụ ý nói về quyền của phụ nữ và nam giới được thông tin và tiếp cận các
biện pháp kế hoạch hóa gia đình an toàn, hiệu quả, dễ dàng và thích hợp tùy
theo sự lựa chọn của họ cũng như được lựa chọn những phương pháp thích
12
GVHD: Th.S Lý Thị Hàm
Trong kế hoạch hành động sau Hội Nghị Cairo và Quỹ dân số Liên
Hợp quốc (UNFPA), nội dung chăm sóc sức khỏe sinh sản bao gồm 6 phạm
vi lớn: làm mẹ an toàn; kế hoạch hóa gia đình; phá thai; vô sinh; bệnh nhiễm
khuẩn và bệnh lây qua đường tình dục; vấn đề tình dục học.
Nhưng mỗi quốc gia, mỗi khu vực lại có những ưu tiên riêng của
mình nên các tổ chức tham gia vào việc thực hiện chương trình sức khỏe
sinh sản đã cụ thể hóa thành 10 nội dung.
1. Làm mẹ an toàn bao gồm việc chăm sóc khi mang thai, khi đẻ và
sau đẻ, mẹ và con an toàn.
2. Kế ho¹ch hóa gia đình: làm cho mức sinh tự nhiên phù hợp với
nhịp độ phát triển kinh tế giúp thực hiện quyền sinh sản.
3. Giảm nạo hút thai và nạo hút thai an toàn
4. Sức khỏe vị thành niên
5. Bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản: viêm tiểu khung, viêm cổ tử
cung, viêm hố chậu ( phát hiện và điều trị các bệnh nhiÔm khuẩn đường sinh
sản)
6. Các bệnh lây truyền qua đường tình dục: lậu, giang mai, viêm gan
B, HIV/AIDS ( Phát hiện và điều trị các bệnh lây truyền qua đường tình dục)
7. Phát hiện ung thư vú và các ung thư bộ máy sinh dục khác ( đang
phát triển theo đà phát triển kinh tế)
8. Vô sinh ( đang có xu hướng tăng dần)
9. Giáo dục tình dục học
10. Công tác thông tin giáo dục truyền thông: dễ hiểu, dễ làm cho các
đối tượng ở cấp quản lý các chương trình quốc gia, những người cung cấp
dịch vụ sức khỏe sinh sản và những người sử dụng dịch vụ sức khỏe sinh
sản. Những vấn đề hàng đầu cho các nước Châu Á là làm mẹ an toàn,
KHHGĐ và giảm nạo phá thai.
13
điểm của giới tính nữ như mang thai và sinh con.
Phụ nữ họ là biểu tượng của hòa bình. Phụ nữ ngày càng vươn lên
khẳng định vai trò và vị trí của mình trong xã hội. Trong cuộc đấu tranh của
dân tộc Bác Hồ đã nêu ra vai trò của phụ nữ thể hiện trong tác phẩm “
Đường cách mệnh – năm 1927; An nam cách mệnh cũng phải có nữ giới đi
tham gia mới thành công. Hồ Chí Minh cũng dẫn lời của Mác rằng: “ Ai đã
biết đến lịch sử thì biết muốn sửa sang xã hội mà không có phụ nữ giúp thì
chắc không làm nổi.
Trong thời đại hiện nay phụ nữ họ đang khẳng định năng lực của họ
thông qua vị trí và công việc họ làm bên ngoài xã hội. Họ vừa thực hiện tốt
vai trò xã hội vừa làm tốt vai trò trong gia đình họ. Nói đến phụ nữ, Nho
giáo đưa ra tiêu chuẩn “ tam tòng tứ đức”. Tam tòng là ba đạo. Tứ đức là “
Công – Dung – Ngôn – Hạnh”; Công – là khéo léo trong công việc; Dung –
hòa nhã trong sắc diện; ngôn – mềm mại trong lời nói; hạnh – nhu mì trong
tính nết. Việc diễn giải tứ đức thời nay có khác đôi chút nhưng nhìn chung
tứ đức luôn là cái đích mà mọi phụ nữ đều mong muốn, đều hướng tới.
Tác giả Hồng Vân của đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh diễn
giải ý nghĩa của tứ đức và đưa ra các nội dung mới của chúng:
+ Công: Phụ nữ hiện đại phải thực hiện tốt công việc gia đình lẫn
công việc xã hội
+ Dung: Người phụ nữ hiện đại phải có vẻ đẹp khỏe mạnh vì có sức
khỏe người phụ nữ mới thực sự lao động tốt, chăm lo được cho bản thân và
gia đình mình.
+ Ngôn: phải biết cách nói năng lịch thiệp, phải biết xã giao ngoài xã
hội và thẳng thắn mạnh dạn.
15
GVHD: Th.S Lý Thị Hàm
+ Hạnh: Sống cần kiệm, có ước mơ hoài bão trong nghề nghiệp, có
trách nhiệm, có lòng vị tha độ lượng.
Phụ nữ hầu như phải chịu đựng những vấn đề thuộc sức khỏe có liên
trß chính. Ở nông thôn khi thực hiện công việc này thì phụ nữ thường tranh
thủ sau giờ sản xuất và công việc này được coi là công việc gia đình và
không được tính công. Phụ nữ nông thôn họ quá bận rộn nên việc chăm sóc
cho bản thân rất hạn chế. Họ thường vẫn lao động vất vả trong thời gian
mang thai và làm việc ngay cả trong những tháng cần phải chú ý cẩn thận.
Đa số phụ nữ nông thôn có trình độ học vấn thấp, số phụ nữ có trình
độ Cao Đẳng, Đại học rất thấp. Trình độ học vấn thấp dẫn đến việc tiếp cận
khoa học kỹ thuật, tiếp cận các thông tin về DSKHHGĐ, thông tin về chăm
sóc sức khỏe sinh sản gặp nhiều khó khăn, hạn chế.
1.2.6. Đặc điểm tâm lý của phụ nữ nông thôn.
Phụ nữ Việt Nam nói chung duyên dáng, dịu dàng, khéo léo. Họ là
những người nhạy cảm, tinh tế và chu đáo. Phụ nữ cẩn thận, tỷ mỷ nên
thường làm các công việc thiên về mỹ thuật như thêu thùa, khâu vá, thư ký,
nhà thiết kế, kế toán, giáo viên Phụ nữ có nhu cầu giao tiếp, chia sẻ và tâm
sự với bạn bè và những người thân mà họ tin tưởng.
Phụ nữ biết cách chi tiêu và cân đối trong chi tiêu. Họ biết việc gì cần
tiêu và tiêu như thế nào tránh lãng phí. Ông cha ta đã nói “chồng là cái giỏ,
vợ là cái hom” là để nói về đặc điểm này của phụ nữ. Phụ nữ sống thiên về
tình cảm họ dễ tha thứ và thông cảm đồng thời cũng dễ xúc động. Phụ nữ
thích được âu yếm vuốt ve và nghe những câu nói ngọt ngào chính vì thế mà
đã có câu “ Phụ nữ yêu bằng tai, đàn ông yêu bằng mắt”.
17
GVHD: Th.S Lý Thị Hàm
Phụ nữ khi có gia đình họ rất yêu thương và hết lòng chăm sóc cho
chồng con. Phụ nữ thích làm đẹp, ngay từ nhỏ đã có khuynh hướng thích
làm đẹp.
Trong bài giảng về giáo dục hôn nhân tác giả Nguyễn Văn Điều nói
về tâm lý của người phụ nữ như sau: Người nữ sống thiên về tình cảm và
trực giác, hiểu bằng trực giác hơn bằng lý trí, lý luận do đó họ biểu lộ tình
cảm một cách úp mở. Người nữ dễ thay đổi lập trường vì tình cảm vẫn lệ
Ở nông thôn khi có thời gian rảnh rỗi đặc biệt lúc nông nhàn họ
thường giao lưu trò chuyện và thăm hỏi nhau. Phụ nữ nông thôn họ khá thụ
động, họ ít hoặc không có quyền ra quyết định trong sản xuất cũng như các
công việc trong gia đình. Chính vì vậy mà phụ nữ nông thôn họ thường thực
hiện theo lệnh, theo quyết định của chồng. Điều này ảnh hưởng rất lớn tới
CSSKSS cho họ vì họ không tự quyết định được cho mình về việc sử dụng
các dịch vụ CSSKSS nào. Công tác tuyên truyền về SKSS gặp nhiều khó
khăn hơn.
1.2.7. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về CSSKSS cho phụ nữ
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm tới phụ nữ trong đó có chăm sóc
SKSS cho họ. Ngay từ năm 1996 Đảng ta đã xác định việc ưu tiên phát triển
thể lực phụ nữ phụ nữ và trẻ em “ Cải thiện các chỉ tiêu cơ bản về sức khỏe
cho mọi người, từng bước nâng cao thể lực tầm vóc, trước hết là nâng cao
thể lực bà mẹ trẻ em” ( Văn kiện Đại hội biểu Toàn quốc lần thứ VIII, 1996:
trang 206). Năm năm sau tức là vào năm 2001 Đảng ta chỉ ra mối liên hệ
giữa việc ưu tiên chăm sóc sức khỏe phụ nữ và tạo điều kiện cho phụ nữ làm
tốt vai trò của mình trong gia đình: “ Chăm sóc và bảo vệ sức khỏe bà mẹ
và trẻ em, tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt thiên chức người mẹ; xây
dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc:( Văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XI, 2001: Trang 126). Quan tâm tới sức khỏe phụ nữ
19
GVHD: Th.S Lý Thị Hàm
không chỉ thể hiện ở chủ trương, đường lối mà còn cần được hiện thực hóa ở
các chính sách liên quan đến lao động nữ. Đồng thời cùng với chăm lo sức
khỏe thể chất của phụ nữ là sự quan tâm dến bảo vệ sức khỏe tâm lý, tinh
thần và nhân phẩm của nữ giới “ chăm sóc bảo vệ sức khỏe bà mẹ, trẻ em”.
Bổ sung và hoàn chỉnh các chính sách về bảo vệ lao động với lao động nữ.
Kiên quyết đấu tranh chống các tệ nạn xã hội và các hành vi bạo lực, xâm
hại và xúc phạm nhân phẩm phụ nữ ( V¨n kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ X, 2006 , trang 120).
và CSSKSS, phân biệt các nội hàm và các nội dung cũng như phạm vi của
hai khái niệm trên. SKSS là một trạng thái khỏe mạnh hoàn toàn về thể
chất, tinh thần và xã hội trong tất cả các vấn đề có liên quan đến hệ thống
sinh sản, các chức năng và quá trình của nó mà không đơn thuần chỉ là ốm
đau hay bệnh tật. Còn CSSKSS là một tổng thể các biện pháp kỹ thuật và
các dịch vụ góp phần nâng cao sức khỏe, hạnh phúc bằng cách phòng ngừa
và giải quyết các vấn đề về SKSS. Tác giả cũng đã nêu ra khái niệm và đặc
điểm tâm lý của phụ nữ nói chung và phụ nữ nông thôn nói riêng. Ngoài ra
sinh viên đã tìm hiểu lịch sử nghiên cứu trên thế giới và trong nước. Đặc biệt
sinh viên cũng đã trình bày quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về CSSKSS
cho phụ nữ và các chương trình, chính sách của Đảng và nhà nước ta.
Việc nghiên cứu lý luận cơ bản về CSSKSS là hết sức quan trọng cho phần
viết thực trạng và giải pháp của khóa luận. Tác giả nhận thấy khi làm rõ và
nắm chắc lý luận cơ bản về CSSKSS sẽ giúp tác giả đi đúng hướng và phản
ánh một cách khách quan CSSKSS cho phụ nữ nông thôn. Từ đó đề ra một
số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng CSSKSS cho phụ nữ nông thôn Xã
Mai Sơn – Yên Mô – Ninh Bình.
CHƯƠNG II.
THỰC TRẠNG CSSKSS CHO PHỤ NỮ NÔNG THÔN XÃ MAI SƠN
– HUYỆN YÊN MÔ – TỈNH NINH BÌNH
21
GVHD: Th.S Lý Th Hm
2.1. Vi nột v a bn nghiờn cu v khỏch th nghiờn cu.
2.1.1. Vi nột v a bn nghiờn cu.
* V v trớ a lý:
Xã Mai Sn giáp ranh với Tỉnh Thanh Hoá, Huyện Hoa L và nằm ở
cửa ngõ của trung tâm Huyện Yên Mô nên giao thông rất thuận lợi trong mối
liên hệ với các khu vực lân cận. Xó nm trờn tuyn ng quc l 1A l
tuyn ng huyt mch ni lin Bc Nam to thun li cho s phỏt trin
kinh t cng nh tip cn cỏc dch v CSSKSS.
thc CSSKSS. Khi n mc ngi dõn s khụng lo vic kim n, kim
tin, cú iu kin u t CSSKSS. Ph n cú iu kin tip cn cỏc dch v
chm súc sc khoe tt hn.
Sản xuất nông nghiệp nhờ có các máy móc nh máy phụt, máy lồng
máy bơm nớc thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp góp phần làm giảm thời
gian và sự đầu t sức khoẻ vào lao động. Đây là yếu tố rất quan trọng đảm
bảo sức khoẻ cho phụ nữ. Rút ngắn thời gian lao động từ đó phụ nữ sẽ có
thời gian nghỉ ngơi chăm sóc SKSS, đảm bảo hạnh phúc cho bản thân và
gia đình.
Tuy nhiờn nền kinh tế của xã mặc dù đã có những chuyển biến, đời
sống của nhân dân trong xã đã đợc nâng lên nhng trên thực tế kinh tế của xã
còn kém phát triển. Là một xã thuần nông, không có nghề truyền thống, hay
các nghề phụ nh các xã khác trong Huyện. Nờn ngoi thu nhp t nụng
nghip thỡ cỏc khon thu nhp khỏc rt hn ch. Chớnh vỡ vy m hiện nay số
nam giới đi làm xa tại các thành phố lớn khỏ ph bin, gánh nặng công việc
gia đình: chăm sóc con cái, bố mẹ và các công việc đồng áng thuộc về phụ
nữ. Do điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn mà phụ nữ hiện nay còn tham
gia công việc đổ bê tông, đốt vôi, nhặt sỉ, đội đá công việc rất nặng
nhọc và độc hại. Điu ny s ảnh hởng đn sc khe ca phụ nữ nông thôn
trong xã. Họ va phi m nhn cỏc công việc đồng ruộng, va phi i lm
thờm kim tin. Ph n đi làm "'thông ca" ảnh hởng tới việc giữ gìn vệ sinh
cơ quan sinh sản, ảnh hởng tới SKSS của họ. Mặt khác những ngời chồng đi
làm xa thờng mang theo những bệnh truyền nhiễm về nhà t ú làm tăng
nguy cơ bị lây nhiễm các bệnh LTQDTD.
24
GVHD: Th.S Lý Th Hm
* c im Xó hi
V dõn s xó cú khong 4919 nhõn khu vi 1201 h. Xó cú 8 thụn khỏc
nhau.
V phỳc li xó hi: