Қhóa luận tốt nghiệp Lê văn Dũng _Chăn nuôi thú y 38
:::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::
Phần I
MỞ ĐẦU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm vừa qua, tình hình kinh tế xã hội nói chung và nông dân nói
riêng đã có những thay đổi rất đáng kể. Sự thay đổi này đã dẫn đến nhu cầu của xã hội
về số lượng cũng như chất lượng ngày càng cao. Để đáp ứng được nhu cầu này đòi
hỏi các hộ nông dân phải thay đổi các tập quán, phương thức chăn nuôi cho phù hợp
với yêu cầu của thị trường và nâng cao hiệu quả trong chăn nuôi của nông hộ.
Hiện nay, đàn lợn nái nội đang có xu hướng giảm dần trong cơ cấu đàn và thay thế
vào đó là lợn nái lai và nái ngoại. Trong các nông hộ chăn nuôi lợn nái vùng đồng
bằng sông Hồng, hộ chăn nuôi lợn nái lai chiếm tỷ lệ khá cao 47,27% (Vũ Đình Tôn,
Võ Trọng Thành, 2005). Sử dụng lợn nái lai F1( L x Y ) và F1 ( Y x Matter_1904 )
làm nền để sản xuất lợn lai nuôi thịt có năng suất và tỷ lệ nạc cao có thể phát triển tốt
trong điều kiện chăn nuôi nông hộ (Võ Trọng Hốt và cs, 1999). Nhiều nghiên cứu đã
khẳng định tổ hợp lai giữa nái F1( L x Y ) lai F1( Y x Matter_1904 ) phối với đực
Pietrain cũng cho tốc độ sinh trưởng nhanh, năng suất thịt và tỷ lệ nạc cao ở đời con.
Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu về nái F1(Y x L) với đực Duroc trong điều kiện
chăn nuôi nông hộ.
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhằm:
“Đánh giá khả năng sinh sản và phát triển của giống lợn cái Landrat x đực
giống Yorkshire ; lợn cái Yorkshire x đực giống Matter_1904, tại trại giống lợn
P01_ xã Khánh Thủy_ huyện Yên Khánh_ tỉnh Ninh Bình”
1
Қhóa luận tốt nghiệp Lê văn Dũng _Chăn nuôi thú y 38
:::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::
1.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
Mục đích
Đánh giá năng suất sinh sản của hai tổ hợp lai giữa lợn nái Yorkshire phối với
đực giống Yorkshire ; Cái Yorkshire x đực giống Maxter_1904 tại trại lợn P_01
được nhu cầu về số lượng và chất lượng thịt phục vụ đời sống con người.
2.1.2. Một số giống lợn
Hiện nay, 150 giống lợn mới được phát huy được hiệu quả tại Việt Nam:
_ Giống lợn Yorkshire : (Anh).
_ Giống lợn Landrace : (Đan Mạch)
_ Giống lợn Duroc : (Mỹ)
_ Píetrain : (Bỉ).
2.2. Một số giống lợn tại Việt Nam
2.2.1. Giống Maxter_1904
Lợn Maxter do trại Pic nghiên cứu ra. Đây là giống lợn lai 4 máu gồmcác giống
Pietran, Duroc, Yorkshire, Hampshire. Trong đó tỷ lệ máu lai là 75% giống Pietran,
25% các giống Duroc, Yorkshire, Hampshire. Thân hình nở nang, cơ bắp phát triển,
màu lang trắng đen. Các chỉ tiêu năng suất của giống lợn này đã đạt được: Tỷ lệ thịt
3
Қhóa luận tốt nghiệp Lê văn Dũng _Chăn nuôi thú y 38
:::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::
xẻ cao, tỷ lệ nạc trên 62%. Ở 2 tháng tuổi tăng trọng 300 – 315g/ngày, 4 tháng tuổi
tăng trọng 816 – 866g/ngày, 6 tháng tuổi tăng trọng 850g/ngày và đạt 100kg khi được
150 ngày tuổi. Tiêu tốn 2,6 – 2,7kg thức ăn/1kg tăng trọng.
2.2.2. Giống heo Yorkshire
Giống Lợn Yorshire Tên tiếng anh: Yorkshire, tên khác: Lợn Đại Bạch hay Lợn
trắng lớn là một giống lợn nuôi có nguồn gốc ở Yorkshire, Là một giống của nhóm
lợn Yorkshire, được tạo nên tại (làng) bang Yorkshire - Anh. lợn được nuôi nhiều ở
vùng Đông Bắc nước Anh, nhân dân ở đây có tập quán nuôi heo chăn thả trên đồng
cỏ. Sau đó, heo được cải tiến thành nhiều nhóm khác nhau. Vào những năm đầu thế
kỷ XVI, nhiều người chú ý đến việc phát triển chăn nuôi heo ở Anh phát triển giống
heo. Đến năm những 1770, heo Trung Quốc được nhập vào Anh theochủng Sus
indicus và cho lai tạo với Sus scrofa. Mãi năm 1851 JosephLuley, là người tạo giống
đã tạo giống heo Yorkshire ở vùng Bắc Shires. Trong thời gian này, nhà chọn
Bakewell đã cải tạo lợn Leicestershire, của giống heo đại phương Bắc Shires,
Giống lợn này cũng một trong những giống nước ta đang chọn cho chương trình nạc
hóa đàn lợn.
2.2.3. Lợn Landrace (LD)
Lợn Landrace, Giống lợn này chủ yếu được nuôi nhiều ở Đan Mạch. Sau 1990,
được chọn lọc và có năng suất cao và được nuôi ở nhiều nước châu Âu được chọn lọc
và có năng suất cao và được nuôi ở nhiều nước châu Âu. Do quá trình tạp giao giữa
các giống lợn từ Anh, Tây Ban Nha, Ý, Bồ Đào Nha, Trung Quốc tạo thành. lợn
Landrace được tạo thành bởi quá trình lai tạo giữa giống lợn Youtland (có nguồn gốc
Đức) với lợn Yorkshire (có nguồn từ Anh).
Đặc điểm ngoại hình Toàn thân có màu trắng tuyền, đầu nhỏ, dài, tai to dài rủ
xuống kín mặt, cổ nhỏ và dài, mình dài, vai-lưng-mông-đùi rất phát triển. Toàn thân
5
Қhóa luận tốt nghiệp Lê văn Dũng _Chăn nuôi thú y 38
:::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::
có dáng hình thoi nhọn giống như quả thủy lôi, đây là giống lợn tiêu biểu cho hướng
nạc.
Khả năng sản xuất của giống lợn Landerace đăc biệt tiêu biêu: có khả năng sinh
sản cao, mắn đẻ và đẻ nhiều: Trung bình đạt (1,8 – 2) lứa/năm. Mỗi lứa đẻ 10 -12 con,
trọng lượng sơ sinh (Pss) trung bình đạt (1,2 -1,3) kg, trọng lượng cai sữa (Pcs) từ (12
– 15) kg. Sức tiết sữa từ (5 – 9) kg/ngày. Khả năng sinh trưởng của heo rất tốt.
Landrace có rất nhiều ưu điểm: Sinh sản tốt, tăng trong nhanh, tiêu tốn thức ăn thấp,
tỷ lệ nạc cao và chất lượng thịt tốt. heo có khả năng tăng trọng từ (750-800) g / ngày,
6 tháng tuổi lợn thịt có thể đạt (105-125) kg. Khi trưởng thành con đực nặng tới 400
kg, con cái (280-300) kg.
Với những đặc điểm về giống trên lợn Landrace được coi là giống lợn tốt nhất
trên thế giới hiện nay và được nuôi rất phổ biến ở nhiều nơi. Giống lợn này được nhập
vào nước ta vào khoảng 1970 qua Cuba. Những năm sau 1990, heo Yorkshire được
nhập vào ta qua nhiều con đường của nhà nước, công ty và từ nhiều dòng khác nhau
như Yorkshire Pháp, Bỉ, Anh, Úc, Mỹ, Nhật Mỗi dòng đều có những đặc điểm ngoại
hình và sản xuất đặc trưng của nó. Giống lợn Landrace được chọn một trong những
lượng trung bình củaheo con cai sữa cao; lợn con cái(BF, mm); tuổi và trọng lượng
động dục lần đầu. lợn nái kiểm định có các chỉ tiêu: Tuổi và trọng lượng phối giống
lần đầu, số con sơ sinh, trọng lượng lợn con sơ sinh, số con cai sữa, trọng lượng lợn
con cai sữa, độ đồng đều (%), thời gian động dục trở lại sau khi cai sữa (ngày), số lứa
đẻ nái/năm. lợn nái cơ bản có các chỉ tiêu như số con cai sữa, trọng lượng lợn con cai
sữa, độ đồng đều (%), thời gian động dục trở lại sau khi cai sữa (ngày), số lứa đẻ
nái/năm, chi phí thức ăn sản xuất 1 kg lợn con cai sữa (kg), tỷ lệ hao mòn lợn mẹ (%).
7
Қhóa luận tốt nghiệp Lê văn Dũng _Chăn nuôi thú y 38
:::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::
2.3. Một số công thức lai tạo
Công thức tạo lợn lai F1 (Ngoại x Nội) có 50% máu ngoại:
+ Đực giống (Yorkshire x Móng Cái) tạo ra lợn lai F1.
+ Đực giống (Landrace x Móng Cái) tạo ra lợn lai F1.
Hai tổ hợp trên cho tỷ lệ nạc từ 39 – 43 % vafddang được nuôi rộng rãi trong cả
nước. Đây là những công thức phù hợp với những hộ chưa có điều kiện đầu tư chăn
nuôi thâm canh các giống lợn lại có tỷ lệ máu ngoại cao và các giống lợn ngoại nái
nền F1 cho việc tạo ra lợn lai F2, 75% máu ngoại.
Công thức tạo lợn lai F1 (Ngoại x Ngoại).
+ Đực (Yorkshire x Landrace) tạo ra lợn lai F1 ( Y x L).
+ Đực (Duroc x Yorkshire) tạo ra lợn lai F1 (D x Y).
Hai tổ hợp lai trên cho tỷ lệ nac 53 – 55% và được áp dụng trong sản xuất tạo
nái nền cho công thức lai 3 giống lợn ngoại.
2.4. Sinh Lý, sinh dục lợn cái
2.4.1. Âm hộ
Âm hộ là lỗ sinh dục cái, có 2 mép âm hộ. Khi động đực, âm hộ sưng, đỏ hồng.
Âm đạo dài 10-20 Cm. Cổ tư cung có hệ thống cơ khá phát triển. Thân Tử cung dài 5-
10 Cm. Hệ thống cơ của nó kém phát triển so với cổ tư cung. Từ thân tư cung tách ra
2 sừng tư cung. Ơ lợn cái trưởng thành (đã sinh sản), sừng tử cung có thể dài đến 1m.
Cả 2 sừng có có khối lượng có thể đạt 600-800g. Ống dẫn trứng dài 20-35 cm, đường
và cân bằng, Trong giai đoạn hưng phấn thường biểu hiện bằng hiện tượng động đực,
các phản ứng chung, chịu đực và rụng trứng. Động đực xảy ra khi mà trong buồng
trứng có nang trứng chín hoàn toàn, để sau đó tiến đến sự rụng trứng.
9
Қhóa luận tốt nghiệp Lê văn Dũng _Chăn nuôi thú y 38
:::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::
Biểu hiện bên ngoài của động đực là âm hộ sưng, đỏ hồng, có nước nhờn từ âm
đạo tiết ra. Phản ứng chung biểu hiện bằng trạng thái không yên tĩnh của lợn cái, thích
gần lợn đực nhưng không cho lợn đực nhảy. Nhiều lợn có biểu hiện động đực và phản
ứng chung cùng một lúc. Trong giai đoạn động đực, đường kính của sừng tử cung
tăng lên và mức độ co bóp của sừng, thân và cổ tử cung cũng được gia tăng. Chịu đực
là thời kỳ hưng phấn cao độ nhất ở lợn cái, xảy ra quãng 20-40 giờ tính từ khi bắt đầu
động đực. Bấy giờ lợn cái đứng yên cho lợn đực nhảy. Nếu lấy một vật nặng đè lên
lưng lợn, hoặc cưỡi lên lưng nó, lợn sẽ đứng yên và có những biểu hiện tiếp thu sự
giao phối (giai đoạn này còn được gọi là mê ì). Rụng trứng là thời điểm quan trọng
nhất của chức năng sinh sản của lợn cái. Quá trình này xảy ra sau khi có biểu hiện mê
ì rõ rệt của lợn cái. Nếu tính từ lúc bắt đầu chịu đực, lợn cái tơ rụng trứng sau 25-30
giờ và heo nái sinh sản sau 20-24 giờ.
2.5. Sinh lý sinh dục đực
Lượng tinh xuất (V). Dùng vải gạc hoặc giấy lọc tinh dịch vào bình có chia ml
để loại bỏ chất keo nhầy sau đó đọc và ghi chép V, V nhiều hay ít phụ thuộc vào
giống, tuổi, sức khỏe lợn, kỹ thuật lấy tinh v.v…
Màu sắc, mùi tinh dịch. Tinh dịch bình thường có màu trắng sữa. Tinh dịch
loãng thì màu trong. Không sử dụng tinh dịch có màu đỏ (lẫn máu), vàng (lẫn nước
tiểu) hoặc xanh (lẫn mủ). Tinh dịch bình thường có mùi hơi tanh, hắc. Không sử dụng
tinh dịch có mùi khai, thối, khắm. Sức hoạt động của tinh trùng được đánh giá qua khả
năng thụ thai của tinh trùng phụ thuộc nhiều vào sức hoạt động của tinh trùng.
Milovanop V.K. (1962) dựa vào sức hoạt động tiến thẳng của tinh trùng để cho điểm
theo 10 cấp: Nếu có 95-100% tinh trùng tiến thẳng, có 85-95% tinh trùng tiến thẳng,
và có 5-10% tinh trùng tiến thẳng Tổng số tinh trùng tiến thẳng trong tinh dịch
:::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::
vitamin, kháng sinh và các chất có hoạt tính sinh học khác. Khi sử dụng trộn thêm với
thức ăn thô, xanh, củ quả, nhiều nước để có khẩu phần hoàn chỉnh.
2.6.2 Thức ăn siêu đậm đặc
Thức ăn siêu đậm đặc. thành phần gồm đầy đủ các yếu tố dinh dưỡng theo nhu
cầu của đối tượng vật nuôi. Khi sử dụng chỉ cần cho vật nuôi ăn theo hướng dẫn trên
bao bì và uống đủ.
2.6.3 Thức ăn đậm đặc bổ sung
Thức ăn đậm đặc bổ sung là hỗn hợp nhằm bổ sung khoáng, vitamin, kháng
sinh, kích tố, hoặc các hoạt chất sinh học khác. Khi sử dụng chỉ bổ sung với lượng
nhỏ (theo hướng dẫn) để hiệu quả sử dụng khẩu phần tăng lên.Trên cơ sở hiểu biết cơ
bản về các loại thức ăn trên đây, người chăn nuôi sẽ lựa chọn và chế biến, bảo quản,
sử dụng cho phù hợp với từng đối tượng vật nuôi và điều kiện chăn nuôi cụ thể.
2.7 Tác dụng thành phần dinh dưỡng trong thức ăn
2.7.1 Tác dụng của protein
Protein là thành phần quan trọng cấu tạo nên các tổ chức; giữ chức năng sinh
học quan trọng trong các enzyme trao đổi chất, các hormon, các chất kháng thể. Thức
ăn protein sau khi được tiêu hóa, hấp thu dưới dạng các acid amin.
Các acid amin sẽ theo máu về gan tuần hoàn tới các mô bào. Ngoài các acid
amin có nguồn gốc từ thức ăn, máu còn tiếp nhận các acid amin là sản phẩm của quá
trình phân giải protein trong các tổ chức. Các acid amin tham gia vào quá trình chuyển
hóa trong cơ thể.
Thực hiện sự cân đối các acid amin trong khẩu phần là biện pháp giảm thấp
mức tiêu hao protein có hiệu quả nhất trong chăn nuôi hiện nay. Ðể thực hiện sự cân
đối này, trong chăn nuôi lợn và gia cầm người ta sử dụng nhiều protein có nguồn gốc
động vật hoặc bổ sung các acid amin không thay thế. Các acid amin này tổng hợp
12
Қhóa luận tốt nghiệp Lê văn Dũng _Chăn nuôi thú y 38
:::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::
bằng con đường hóa học hoặc visinh vật. Để đánh giá chất lượng của protein trong
và rụng trứng. Dưới tác dụng của hormon FSH của tuyến yên, tế bào hạt xung quanh
bao noãn phân chia nhiều, làm khối lượng bao noãn tăng lên, đồng thời LH kích thích
tế bào hạt tiết ra Estrogen và dịch. Lượng dịch nhiều làm thể tích bao noãn tăng và nổi
lên trên bề mặt buồng trứng, đó là các noãn chín có dường kính từ 0,8 - 1,2 cm.
Hormon LH của tuyến yên tăng tiết có tác dụng hoạt hoá enzym phân giải protein làm
vách tế bào bao noãn mỏng ra và vỡ, trứng được rơi ra khỏi buồng rứng gọi là sự
rụng trứng. Mỗi lần trứng rụng kéo dài từ 6 - 10giờ. Số trứng rụng trong một chu kỳ
động dục lần đầu tiên là 11; chu kỳ thứ hai là 12; ở nái trưởng thành là 21; trung bình
là 15 - 20.
Số lượng trứng rụng tuỳ thuộc vào giống, tuổi, nồng độ hormon FSH và LH,
ngoài ra còn phụ thuộc vào điều kiện dinh dưỡng. Nếu khẩu phần thiếu protein sẽ làm
giảm số trứng rụng. Số lượng trứng rụng sau một chu kỳ động dục là giới hạn cao nhất
của số con đẻ ra trong một lứa.
Trong thực tế mỗi lần lợn nái đẻ trên dưới 10 con. Như vậy bao giờ số trứng
rụng cũng nhiều hơn số con đẻ ra, sự chênh lệch đó có thể do một số trứng rụng
nhưng không được thụ tinh và một số trứng được thụ tinh nhưng không phát triển
thành hợp tử. Do số trứng rụng ở chu kỳ 1 ít, nên ở lợn thường cho phối giống ở chu
kỳ 2 hoặc 3. Số lượng trứng rụng chịu ảnh hưởng của giao phối cận huyết, hệ số cận
huyết cứ tăng lên 10% thì số trứng rụng sẽ giảm từ 0,6 - 1,7 trứng.
+ Kỹ thuật phối: Để nâng cao tỷ lệ thụ thai, ngoài việc phải xác định đúng thời
điểm phối tinh thích hợp, kỹ thuật phối tinh và chất lượng tinh trùng cũng hết sức
14
Қhóa luận tốt nghiệp Lê văn Dũng _Chăn nuôi thú y 38
:::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::
quan trọng. Tiến hành xác định thời điểm phối thích hợp: Khi phối giống phải chú ý
xác định đúng thời điểm phối tinh thích hợp. Nguyên tắc là phối vào lúc nào để có
nhiều tinh trùng gặp được nhiều tế bào trứng rụng nhất. Muốn vậy khi heo nái hậu bị
đến tuổi phối giống, lúc động dục phải tăng cường theo dõi để xác định thời điểm phối
tinh thích hợp. Chu kỳ tính và sự thành thục về thể vóc. Phối vào buổi sáng sớm, lúc
mát mẻ, yên tĩnh, thao tác đúng kỹ thuật (nếu là thụ tinh nhân tạo). Có thể áp dụng các
Bảng I: Quá trình phát triển của bào thai lợn
Tổ chức hình thành Ngày có chửa
Màng dạ con, ruột 11 – 12
Tuyến tuỵ, phổi 16,5 - 17,5
Cuống rốn, tĩnh mạch cửa 20
Mũi, mắt, manh tràng xương 21 – 28
Lông, da, nhau thai 28
Tế bào máu, tim đã hoạt động 30
Gan (tích luỹ glycogen) 40
Protein huyết thanh tổng hợp 50
Tuyến yên tiết Hormone 50
Fibrinogen đã được tổng hợp 90
Tinh hoàn (đã xuống bìu) 95
+ Đặc điểm phát triển của các tổ chức có liên quan: (Dịch ối, dịch niệu, Nhau
thai, dịch ối, dịch niệu). Tử cung lợn mẹ, Tốc độ sinh trưởng lợn mẹ. Trong thời gian
có chửa lợn mẹ không xuất hiện động dục, trao đổi chất tăng, “quá trình đồng hoá
chiếm ưu thế hơn so với dị hoá”. Tính tình trở nên hiền lành và dễ chăm sóc nuôi
dưỡng, tốc độ sinh trưởng nhanh. Như vậy cơ thể mẹ và bào thai tăng nhanh theo thời
16
Қhóa luận tốt nghiệp Lê văn Dũng _Chăn nuôi thú y 38
:::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::
gian chửa. Đặc biệt 60 ngày chửa đầu (trung bình 600 - 650 g/ ngày), sau đó giảm
xuống (400 - 450 g/ ngày), tăng trọng giai đoạn chửa đầu chủ yếu là tăng trọng cơ thể
mẹ, còn tăng trọng giai đoạn cuối có chửa chủ yếu lại tăng trọng của bào thai và các tổ
chức có liên quan.
Do vậy, dinh dưỡng đòi hỏi cung cấp cho lợn mẹ trong giai đoạn có chửa ngày
càng cao, nhất là giai đoạn tháng chửa cuối, nhưng điều này mâu thuẩn với khả năng
ăn được của lợn mẹ. Vì vậy để thoả mãn nhu cầu dinh dưỡng cho lợn nái chửa tháng
cuối, người chăn nuôi phải thu nhỏ dung tích của khẩu phần và chia nhỏ lượng thức ăn
để cho lợn mẹ ăn thêm bữa trong ngày.
chÊt x¬ th«(%) <10 <10
Muèi (NaCl) (%) 0.5 0.5
Sau thời gian phối từ 18-21 ngày nếu lợn không đòi đực lại thì coi như lợn đã
có chửa. Yêu cầu chính của giai đoạn nuôi này cần đảm bảo đủ dinh dưỡng để bào
thai phát triển được, đồng thời cho sinh trưởng của lợn đẻ lứa đầu, do cơ thể còn tăng
trưởng.
Thời gian lợn chửa 114 ngày (3tháng + 3 tuần + 3 ngày) ± 3 ngày. Giai đoạn 1-
90 ngày tùy tầm vóc của lợn nái mập, gầy mà cho ăn lượng thực phẩm hợp lý 2-2,5
kg/con/ngày. Từ 91 ngày trở đi cho lợn ăn tăng lên từ 2,5-3,0kg/con/ngày. Trước khi
sinh 3 ngày phải giảm thức ăn xuống từ 3 kg - 2kg - 1 kg/ngày.
18
Қhóa luận tốt nghiệp Lê văn Dũng _Chăn nuôi thú y 38
:::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::
Khẩu phần ăn cho lợn nái cần cung cấp đầy đủ Vitamine và chất khoáng. Thiếu
khoáng lợn con chậm lớn, lợn nái dễ bị bại liệt sau khi sinh. Khẩu phần thức ăn cho
lợn nái đầy đủ và cân đối sẽ kéo dài thời gian khai thác sinh sản. Nếu nuôi nái ở
chuồng chung, phải chuyển sang chuồng đẻ trước ngày mang thai thứ 110. Ngày lợn
đẻ có thể không cho ăn để tránh sốt sữa.
Trong thời gian chửa 2 tháng đầu không nên di chuyển lợn nhiều, tránh gây sợ
sệt lợn sẽ bị tiêu thai, cho lợn ăn thêm rau xanh, cỏ xanh, cung cấp nước sạch cho lợn
uống theo nhu cầu.chuồng đẻ phải được dọn sạch và sát trùng cẩn thận, 5-7 ngày trước
khi chuyển nái đẻ đến. Lợn nái chửa cần được chăm sóc chu đáo, tránh va chạm và
không vận chuyển xa, dễ gây sẩy thai. Trước khi đẻ 2 tuần, chuyển lợn sang ô nuôi
lợn đẻ và nuôi con. Tẩy giun sán nhằm tránh lây từ mẹ sang con. Trước khi đẻ 1 tuần,
giảm thức ăn đạm để phòng bệnh sưng vú do căng sữa sau khi đẻ. Lợn chửa cần hạn
chế thức ăn nhiều tinh bột và cho ăn thêm rau xanh. Ăn rau nhằm bổ sung 1 số nguyên
tố cho lợn nái, đồng thời tăng độ chán trong dạ dày để lợn không có cảm giác đói. Cần
tăng chất khoáng và vitamin để lợn chuyển hoá tốt thức ăn và phòng táo bón.
Thời gian lợn chửa kỳ 1, cho ăn hạn chế (60-70% khẩu phần hàng ngày), kéo
dài 90 ngày, sau đó cho ăn đầy đủ theo quy định. Đối với lợn nái tơ chửa lần đầu dưới
- Thời kỳ thai ra: Lúc này cơ tử cung co bóp mạnh dồn dập kéo dài, cơ bụng, cơ
hoành cũng co bóp làm cho áp lực trong xoang chậu tăng lên. Khi áp lực đạt cao nhất,
thai đi qua cửa xoang chậu, qua âm đạo rồi ra ngoài. Khi thai ra rốn của chúng tự đứt
rời khỏi dạ con.
20
Қhóa luận tốt nghiệp Lê văn Dũng _Chăn nuôi thú y 38
:::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::
- Thời kỳ nhau ra: Sau khi thai ra từ 1 - 6 h, do tử cung tiếp tục co bóp nên nhau
thai sẽ được đẩy ra. Nếu sau 6 h nhau thai không ra hết là hiện tượng bị sát nhau, phải
can thiệp kịp thời để tránh viêm tử cung cho bào thai lợn mẹ.
- Thời gian hồi phục tử cung: Thời gian này phụ thuộc rất lớn vào ba giai đoạn
trên của quá trình đẻ, thông thường 2 -3 ngày. Thời gian đẻ của lợn thường từ 1 - 5 h
để đẻ 9 – 14. thời gian rặn đẻ mỗi lần là 7 giây, đẻ 1 con là 3 giây, khoảng cách giữa
các con 420 giây. Lợn mẹ đẻ bình thường (1 - 2 h).
3.3.3 Chăm sóc nái trong giai đoạn đẻ
Nái mang thai từ 110 – 117 ngày, thai phát triển nhanh nhất vào tháng cuối của
thời kỳ mang thai. Trong suốt quá trình mang thai, nái cần được cung cấp đầy đủ các
chất dinh dưỡng để dự trữ cho cơ thể cũng như để nuôi thai. Trong khẩu phần ở giai
đoạn cuối thời kỳ mang thai cho lợn nái phải có ít nhất 5-7% chất xơ. Lượng chất xơ
này giúp ngăn ngừa hiện tượng táo bón ở lợn. khi đưa nái vào chuồng đẻ nên rửa sạch
bụng và bầu vú bằng nước ấm. Suốt thời gian trước đẻ nên cho lợn nái ăn giống như
trong kỳ mang thai. Tuy nhiên, nên cho ăn loại thức ăn có tính nhuận trường (giàu
chất xơ). Hiện tượng sắp đẻ. Khi thấy lợn căng bầu vú, nặn đầu vú có sữa trong tiết ra
(sữa đầu), mông bị sụt là lợn sắp đẻ (khoảng sau 2-3 giờ). Trước đó khoảng 2 ngày,
âm hộ lợn sưng to, lợn đi lại quanh chuồng, bỏ ăn, ỉa phân cục không vào chỗ nhất
định, ủi máng ăn, máng uống kể cả rơm lót chuồng.
Lợn tìm chỗ nằm,âm hộ chảy nước nhờn là lợn bắt đầu đẻ. Cần chuẩn bị nơi kín
gió, ấm, lót rơm mềm để nhốt riêng lợn con, hoặc nhốt vào thùng có lót lá khô, khăn
hoặc vải mềm để lau khô lợn con mới sinh. Khi lợn đẻ, bọc nước ra trước, lợn con ra
theo, sau đó bình thường cứ 10 phút đẻ ra một con. Thời gian đẻ từ 2-3 tiếng, nếu lâu
22
Қhóa luận tốt nghiệp Lê văn Dũng _Chăn nuôi thú y 38
:::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::
Cần phải trực tiếp theo dõi đến lúc đẻ xong. Nếu lợn đẻ bọc cần xé bọc ngay
sau khỉ ra khỏi âm hộ để lợn con khỏi chết ngạt. Nếu lợn con bị ngạt, có thể hà hơi
vào mồm lợn con, nâng hai chân trước lên xuống trong 5 phút, lợn sẽ sống và khỏe
dần. Nhau thai là một thành phần trong bào thai, nặng từ 2.0-5.5kg ở lợn lai, lợn
ngoại, từ 0.5-1.0kg ở lợn nội. Nhau thai càng nặng thì con càng to và khỏe. Nhau ra
sau cùng là lợn con khoẻ, nhau ra từng đoạn là đàn con yếu. Cần theo dõi để lấy hết
nhau, chăm sóc nái và đàn con. Nhau thường ra sau khi đẻ con cuối cùng 15-20%
phút. Không để lợn mẹ ăn nhau ảnh hưởng đến tiết sữa.
3.3.4 Chăm sóc lợn nái sau khi đẻ
Sau khi ra nhau, dùng nước ấm rửa sạch vú và âm hộ. Thay rơm ướt ẩm bằng
rơm khô mới cho nái nằm. Trường hợp lợn mẹ khỏe, bình thường không nằm đè con
thì nên cho lợn con bú tự do là tốt nhất. Nếu nhốt vào ô úm thì tối thiểu cho bú 1 giờ 1
lần. Nên sắp xếp lợn con có khối lượng nhỏ cho bú vú phía trước để đàn lợn con phát
triển đều. cho lợn uống đầy đủ nước sạch có pha ít muối, vì sau khi đẻ lợn thường
khát do mất máu. Để tránh bệnh sưng vú, cho lợn mẹ ăn cháo trong 1-2 ngày đầu.
Cho thêm rau tươi non phòng táo bón. Thời kỳ lợn nái nuôi con, thức ăn phải
tốt, máng phải sạch sẽ, không để thức ăn mốc, thừa, máng uống phải luôn đầy nước vì
lợn tiết sữa sẽ uống rất nhiều nước, không nên thay đổi thức ăn của lợn nái. Sau 3
ngày cho lợn nái ăn thức ăn theo quy định để đảm bảo sản xuất sữa nuôi con. Hàng
ngày theo dõi lợn nái có bị viêm tử cung, âm hộ có mủ chảy ra không. Nếu bị viêm vú
thì vú sưng đỏ, nóng. Cần đo nhiệt độ hàng ngày sau khi đẻ 2-3 ngày.
3.3.5 Sự tiết sữa của lợn
Sữa đầu là sữa lợn mẹ tiết 2-3 ngày dầu sau khi đẻ. Sữa đầu có đủ chất dinh
dưỡng và kháng thể chống bệnh cho lợn con do mẹ truyền qua sữa. Lợn con phải được
bú sữa đầu của chính mẹ nó. Nếu muốn chuyển lợn con sơ sinh từ lợn mẹ này sang
23
Қhóa luận tốt nghiệp Lê văn Dũng _Chăn nuôi thú y 38
con đẻ ra cũng chỉ có khả năng hấp thu trực tiếp kháng thể qua tế bào biểu mô ruột
non ngay giờ đầu sau khi sinh đến 18-24 giờ sau, Vì vậy cho lợn con bú sữa đầu càng
sớm càng tốt và kết hợp tập cho lợn con có phản xạ trong khi bú để nâng cao sản
lượng sữa mẹ. và sữa đầu chỉ hiên diện trong vòng 24 h sau khi lợn con sinh ra do đó
tất cả lợn con sinh ra phải được bú sữa đầu để nhận được thể từ lợn mẹ truyền qua lợn
con Lợn con nhốt vào ô úm thì tối thiểu cho bú 1 giờ 1 lần, tiển hành Cố định đầu vú
nâng cao tỷ lệ đồng đều cho đàn lợn con, sắp xếp lợn con có khối lượng nhỏ cho bú vú
phía trước để đàn lợn con phát triển đều. Tạo ra phản xạ có điều kiện bú sữa mẹ của
lợn con để có điều kiện nâng cao sản lượng sữa của lợn mẹ. Khi lợn con mới đẻ ra và
được đỡ đẻ, những con có trọng lượng sơ sinh nhỏ ta cho bú vú trước ngực và những
con có trọng lượng sơ sinh lớn ta cho bú vú ở vùng bụng và cố định núm vú cho từng
con. trong 1-3 ngày đầu chích sắt liều 200 mg/con (1_2cc/con). Nếu lợn mẹ thiếu sữa
thì có thể cho lợn con ăn dặm thêm các chế phẩm dinh dưỡng dành cho lợn con sơ
sinh. Từ 7-10 ngày tập cho lợn con ăn bằng loại thức ăn.
3.4.2 Thiến lợn đực
Thiến lợn vào khoảng 3-7 ngày tuổi. tập lợn con ăn sớm để có thể cai sữa. Tùy
điều kiện thức ăn và tình trạng đàn lợn mà cai sữa hợp lý. Nên cai sữa vào khoảng từ
28-35 ngày tuổi, để bù đắp phần dinh dưỡng thiếu hụt cho nhu cầu sinh trưởng phát
triển của lợn con khi sản lượng sữa mẹ giảm sau 3 tuần tiết sữa.
3.4.3. Phương pháp tập ăn sớm
Phương pháp tập ăn sớm: Dùng thức ăn tập ăn sớm cho lợn con: Khi lợn con
đạt 7 ngày tuổi chúng ta tiến hành cho heo làm quen với thức ăn. Sau đó tiếp tục tập
ăn đến 35 ngày tuổi nhằm tăng cường hệ miễn dịch tự nhiên cho lợn con. tạo đường
25